Thư Viện Hoa Sen

Triệu Thỉnh Guru Rinpoche

TRIỆU THỈNH GURU RINPOCHE
Một Luận Giải Thực Tiễn Về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng
Khenpo Sodargye giảng
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ
BÀI GIẢNG THỨ BA
07 tháng 10 năm 2009

blank
TẠI SAO TÔI LẠI GIẢNG DẠY LỜI CẦU NGUYỆN BẢY DÒNG?

Hãy cùng tiếp tục tìm hiểu Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng đến Guru Rinpoche. Tại sao tôi lại thấy cần phải chia sẻ giáo lý này với các bạn? Lý do là nhiều hành giả trong các cộng đồng Phật giáo Trung Hoa, những vị tìm hiểu truyền thống Kinh thừa – và thậm chí là một số vị tìm hiểu Mật thừa – cũng chưa quen thuộc lắm với cuộc đời Guru Rinpoche; họ cũng không quen thuộc với các giáo lý sâu xa của Kim Cương thừa. Nhờ tìm hiểu Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng lần này, chúng ta đều có thể có được sự hiểu sâu sắc hơn về sự chói ngời độc đáo của Phật giáo Kim Cương thừa. Nếu những giáo lý như vậy không đúng với Giáo Pháp hay lý lẽ đúng đắn, thì chẳng có lý do gì để chia sẻ chúng, bởi sai lầm trình bày điều không đúng như là chân lý là chuyện giả dối – điều mà chúng ta không bao giờ muốn làm.

Trong quá khứ, vì nhiều lý do, nhiều người không có sự hiểu chuẩn xác về giáo lý Mật thừa, bao gồm cả việc thành tựu thân cầu vồng và các thành tựu khác trong Phật giáo Tây Tạng. Nhiều người tin rằng những thành tựu này là không thể hay xem chúng hoàn toàn là chuyện hoang đường. Thế nhưng, lối suy nghĩ này bỏ sót điều cốt yếu. Kim Cương thừa cung cấp vô số chỉ dẫn cốt tủy – những phương pháp trực tiếp, oai hùng – và khi hành giả với niềm tin chân chính tiến hành chúng một cách toàn tâm toàn ý, không nghi ngờ gì, họ sẽ có được những kinh nghiệmchứng ngộ, đạt giác ngộ – về điều này, chẳng có nghi ngờ gì. Và vì thế, tôi chân thành mong rằng các bạn sẽ tìm hiểu nhiều hơn về tiểu sử của chư đạo sư truyền thừa, để các bạn có thể làm sâu sắc thêm niềm tin của mình với những giáo lý Mật thừa này.

Ngày nay, nhiều hành giả sở hữu niềm tin sâu sắc và lòng sùng mộ chân chính. Thế nhưng, không có sự dẫn dắt từ những vị thầy đầy đủ phẩm tính, họ có thể vật lộn để nắm bắt giáo lý một cách đúng đắn. Điều này có thể khiến họ sa ngã, hay tệ hơn, khiến họ vô tình phỉ báng Giáo Pháp linh thiêng. Vì lý do này, trưởng dưỡng niềm tin phải đồng hành cùng với sự hiểu rõ ràng về Kim Cương thừa.

Hai Nữ Đại Thành Tựu Giả

Jomo Menmo

Kim Cương thừa chứa đựng nhiều chỉ dẫn cốt tủy phi phàm – một sự thật trở nên sống động rõ ràng khi chúng ta đọc tiểu sử của chư đạo sư vĩ đại và chư vị chứng ngộ. Lấy ví dụ, Jomo Menmo, một nữ hành giả nổi tiếng trong Phật giáo Tây Tạng, vị đã đạt chứng ngộ nhờ thực hành kho tàng được phát lộ. Bà đã tu học với các đạo sư như Đức Guru Chokyi Wangchuk, người đã đánh thức khả năng phát lộ kho tàng ẩn giấu của Bà. Kết quả là, Bà tìm ra nhiều kho tàng tâm sâu xa. Ba mươi sáu tuổi, Jomo Menmo và hai vị đồng hành đã cử hành cúng dường tiệc trên đỉnh Drak Lhari ở Ü. Cả ba sau đó bay lên trời, trong chính thân đó rời đến Tịnh độ của Đạo Sư Liên Hoa Sinh – Núi Màu Đồng – không để lại thân vật chất đằng sau. Sự kiện phi phàm này được chứng kiến bởi người dân du mục trong vùng, những vị sau đó tìm thấy đồ cúng dường tiệc vẫn còn tại địa điểm nghi lễ đó.

Tỳ Kheo Ni Tịnh Kiểm

Cũng có những trường hợp tương tự trong Phật giáo Trung Hoa. Hãy xem xét Tịnh Kiểm, Tỳ Kheo Ni đầu tiên trong truyền thống này – tôi đã chia sẻ câu chuyện về vị này trong Miêu Tả Ngắn Gọn Về Sự Thành Tựu Thân Cầu Vồng Trong Kim Cương Thừa[1]. Tiểu sử của Bà cũng được kể lại trong Luận Giải Tâm Kinh của Ngài Long Liên, được xuất bản trong số thứ sáu của Phật Giáo Lạc Dương vào năm 1997, cũng như trong Tiểu Sử Chư Tỳ Kheo Ni từ Tam Tạng Trung Hoa.

Khi ấy, không có truyền thừa giới Cụ Túc cho chư Ni ở vùng Trung Hoa; vì thế, Tịnh Kiểm và những vị khác đã thọ giới trực tiếp từ chư vị Tỳ Kheo Tăng. Vào khoảnh khắc Bà thọ giới Tỳ Kheo Ni, giới trường ngập tràn hương thơm và nhiều dấu hiệu diệu kỳ khác đã xuất hiện. Suốt cả cuộc đời, Bà tinh tấn thực hành không chút xao lãng. Người ta nói rằng Bà đã tham gia vào các thực hành Kim Cương thừa sâu xa.

Vào ngày mà Tỳ Kheo Ni Tịnh Kiểm viên tịch ở tuổi bảy mươi, hương thơm tương tự lại ngập tràn không gian, cùng với một ánh sáng đỏ. Một vị thiên cầm những bông hoa năm màu đã giáng hạ từ trời để đón Bà. Tịnh Kiểm hài lòng và nói với đại chúng, “Hãy tinh tấn thực hành cho các đời tương lai. Bây giờ, Ta sẽ ra đi”. Sau khi nói những lời này, chẳng bỏ lại thân vật chất, Bà bay lên trời và đi theo vị thiên đến một cõi thanh tịnh. Con đường mà hai vị du hành giống như cầu vồng, vươn thẳng đến các cõi trên trời.

Đây có thể được xem là sự thành tựu thân cầu vồng vĩ đại trong Phật giáo Kim Cương thừa – sự chứng ngộ mà thậm chí móng tay hay tóc cũng không bị bỏ lại. Vì thế, trong sự nghiên cứu Giáo Pháp, chúng ta cần nhận ra rằng trong giáo lý Phật, có vô số chỉ dẫn cốt tủy có thể cho phép chúng ta đạt chứng ngộ.

Hôm qua, vài vị Ni đã hỏi tôi về những nữ hành giả đạt thành tựu; do vậy, hôm nay, tôi đã chia sẻ hai câu chuyện này. Tôi đã nhắc đến vào nhiều dịp khác nhau rằng dù là nam hay nữ, miễn là người ta có niềm tin không dao động với đạo sư, Tam Bảogiáo lý cao quý, họ đều có thể đến các Tịnh độ mà không cần bỏ lại thân vật chất. Có rất nhiều trường hợp như vậy.

Phát Triển Niềm Tin Nhờ Nghiên Cứu

Hiểu Phật giáo, đặc biệtKim Cương thừa, là điều cực kỳ quan trọng. Ngày nay, một số người phỉ báng giáo lý Mật thừa và không thể chấp nhận Guru Rinpoche, các Mật điển hay Tám Giáo Lý Nghi Quỹ Vĩ Đại (Kagye) của truyền thống Nyingma. Điều này có thể hiểu được, bởi họ chưa bao giờ nương tựa những đạo sư đủ phẩm tính và chẳng biết gì về những chỉ dẫn cốt tủy phi phàm của Kim Cương thừa hay tiểu sử chư đạo sư truyền thừa. Khi bị ảnh hưởng bởi môi trường tiêu cực hay nương tựa những vị thầy không tốt, việc họ vô minh nhiều hơn và tham gia vào phỉ báng thậm chí còn dễ dàng hơn.

Bằng cách tìm hiểu Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng và hiểu rõ hơn về những phẩm tính cao quý và các thực hành của Guru Rinpoche, thậm chí nếu bạn không thể thành tựu được các thực hành Mật thừa sâu xa trong chính đời này, bạn không bao giờ được phỉ báng hay khinh thường tri kiến, thiền địnhhành vi sâu xa của Kim Cương thừa. Làm vậy đem đến những nghiệp quả khủng khiếp, chẳng thể chịu đựng trong chính đời này và trong đời tương lai, bạn sẽ đọa vào ba cõi thấp, chẳng thể đạt giải thoát. Điều này là chắc chắn. Do đó, nhờ sự nghiên cứu này, mọi người cần ít nhất hiểu được công đức bao la của Đạo Sư Liên Hoa Sinh.

Cá nhân tôi có niềm tin đặc biệt mạnh mẽ với Guru Rinpoche từ thời thơ ấu. Dù là lúc chăn gia súc, khi đến trường hay sau khi xuất gia thành tu sĩ, niềm tin của tôi chưa bao giờ dao động trong hơn bốn mươi năm qua; tôi cũng không nuôi dưỡng nghi ngờ hay tà kiến về tri kiếnthiền định sâu xa của Guru Rinpoche. Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng một số hành giả phỉ báng Kim Cương thừa bởi thiếu hiểu biết, trong khi số khác ban đầu có vẻ ngập tràn niềm tin, nhưng về sau, bởi những hoàn cảnh khác nhau, lại thờ ơ giáo lý của Guru Rinpoche hay thậm chí công khai chê bai chúng. Điều này cực kỳ nguy hiểm. Tôi chân thành hy vọng các bạn không bao giờ bước đi trên con đường như vậy.

LIÊN HOA SINH LÀ RUDRA CHAKRIN

Và trong tương lai, khi rắc rối đe dọa từ lực man rợ, sẽ đúng như Taksham Samten Lingpa tiên đoán trong tiên tri bí mật, “Ta, Liên Hoa Sinh, sẽ mang danh hiệu Rudra Chakrin; và với hai mươi lăm đệ tử, vua và dân chúng, Ta, vua truyền thừa, sẽ được quân đội của mình hộ tống”. Như thế, Ngài tiên đoán rằng Ngài sẽ điều phục những kẻ man rợ và truyền bá giáo lý Chân ngôn Bí mật.

Tiên tri này hé lộ rằng Guru Rinpoche dự đoán một ngày nào đó, Ngài sẽ xuất hiện là Raudra Chakrin, vua vĩ đại của Shambhala, nơi mà giáo lý Thời Luân phát triển. Khi những kẻ man rợ từ vùng biên giới cố gắng phá hủy Giáo Pháp, Ngài sẽ dẫn dắt quân đội Shambhala vĩ đại đến Nam Thiệm Bộ Châu, bao gồm Ấn Độ, Xứ Tây Tạng và những nơi khác, để điều phục tất cả những kẻ có tà kiếntruyền bá rộng khắp Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật, đặc biệtgiáo lý Thời Luân. Điều này được giải thích rõ ràng trong lịch sử Thời Luân. Nếu chúng ta thiết lập kết nối với Thời Luân và các thực hành của Guru Rinpoche trong đời này, chúng ta chắc chắn sẽ đạt giải thoát trong tương lai.

Khi ấy, nhiều đạo sư vĩ đại sẽ tái sinh thành những nhân vật nổi bật trong quân đội Thời Luân ở Shambhala; cả Mipham Rinpoche và Choje Yidzhin Norbu sẽ đóng vai trò là các tướng quân. Đệ tử truyền thừa của chư vị sẽ tạo thành quân đội. Nhưng điều này không giống với chiến tranh thông thường trên thế gian, điều làm hại hữu tình chúng sinh mà chẳng có lòng bi mẫn. Thay vào đó, nhờ sức mạnh diệu kỳ và sự chuyển hóa vi diệu, chư vị sẽ điều phục quân đội của lực lượng ma quỷ, tiêu cực, giải thoát họ với lòng đại bi và dạy họ tùy theo căn cơ. Tái sinh về Shambhala khi ấy là điều cực kỳ may mắn. Nhiều đạo sư vĩ đại và bậc thầy lỗi lạc đã phát nguyện tái sinh về đó.

Kim Sí Điểu Đỏ Và Quân Đội Thời Luân

Năm 1986, Lama Yidzhin Norbu đã ban quán đỉnh Thời Luân. Lễ quán đỉnh cần một biểu tượng và Choje đã chọn Kim Sí Điểu Đỏ. Bạn có thể thấy hình ảnh đó trên mặt dây chuyền Kim Sí Điểuchúng ta thường đeo quanh cổ. Chuyện đó xảy ra như thế nào? Khi Rinpoche đang chuẩn bị ban quán đỉnh, Tulku Tishta tình cờ đã cúng dường Ngài một bức thangka về Kim Sí Điểu – một dấu hiệu vô cùng cát tường. Trước đó, trong lúc ở thung lũng Dzi Chen[2], Dakini Tare Lhamo đã cúng dường Ngài một đồng bạc hiếm. Trên một mặt có hình Kim Sí Điểu điều phục rồng độc; trên mặt kia là mặt trời mọc phía trên đỉnh núi tuyết. Rinpoche vô cùng hài lòng khi thấy, nhận ra rằng điều này biểu tượng cho những hoàn cảnh để chấn hưng Phật Pháp đã chín muồi. Bởi những hoàn cảnh cát tường như vậy, Rinpoche quyết định sử dụng Kim Sí Điểu làm biểu tượng.

Mỗi người chúng tôi đã nhận được một bức hình đen trắng về Kim Sí Điểu, do một nhiếp ảnh gia Trung Hoa chụp tại Học viện. Lama Yidzhin Norbu sau đó, khá phấn khởi, đã chia sẻ rằng Ngài và Tulku Yiping đã dành khá nhiều thời gian để mặc cả với nhiếp ảnh gia vào sáng sớm đó. Ban đầu, mỗi bức hình giá một tệ, nhưng sau nhiều lần thương lượng, giá giảm xuống còn năm mươi phân. Rinpoche hướng dẫn chúng ta nhận một bức hình như là biểu tượng cho lễ quán đỉnh, giải thích rằng trong tương lai, quân đội Thời Luân cũng sẽ dùng Kim Sí Điểu làm biểu tượng. Từ ngày hôm đó trở về sau, Choje Yidzhin Norbu bắt đầu quảng bá hình ảnh Kim Sí Điểu Đỏ.

Bởi những hoàn cảnh cát tường đặc biệt này xoay quanh Kim Sí Điểu Đỏ, tôi đã đặt hình ảnh này trên bìa của các cuốn sách Giáo Pháp của chúng ta và trên những món đồ liên quan đến Hội Bồ Đề. Hai hoàn cảnh cát tường truyền cảm hứng cho lựa chọn này. Đầu tiên, Choje Yidzhin Norbu nói rằng Kim Sí Điểubiểu tượng của quân đội Thời Luân tương lai và chúng ta cũng cần khát khao đi theo đạo sư truyền thừatrở thành một phần của quân đội Thời Luân diệu kỳ này, nhằm điều phục lực ma quỷ. Thứ hai, vô lượng kiếp về trước, một vị Chuyển Luân Vương có 1003 hoàng tử. Tất cả hoàng tử đã phát Bồ đề tâm thù thắng, khát khao thành tựu Phật quảlợi lạc của tất cả hữu tình chúng sinh. Thế nhưng, hoàng tử út đã phát nguyện rằng: “Bất cứ chướng ngại nào khởi lên khi các anh của tôi thành tựu Phật quả, tôi sẽ xua tan tất cả”. Bởi nguyện phi phàm này, cậu sau đó đã hiển bày thành Kim Sí Điểu. Do đó, khi chúng ta cầu nguyện đến Kim Sí Điểu, chúng ta khơi dậy sức mạnh để xua tan mọi chướng ngại.

Thực Hành Kim Sí Điểu Đỏ

Trong Phật giáo Tây Tạng, có nhiều thực hành liên quan đến Kim Sí Điểu. Ví dụ, trong các giáo lý Terma của Dorje Dechen Lingpa, Terton vĩ đại, có các thực hành về Kim Sí Điểu Đen, Kim Sí Điểu Đa Sắc và Kim Sí Điểu Đỏ. Choje Yidzhin Norbu chủ yếu giảng dạy thực hành Kim Sí Điểu Đỏ, điều tương đối dễ quán tưởng. Sau đây là một thực hành ngắn gọn từ giáo lý Terma:

Đầu tiên, hãy quán tưởng quả trứng tỏa ánh sáng năm màu, được điểm bằng chủng tự Tây Tạng trom[3]. Ngay lập tức, trom biến thành Kim Sí Điểu Đỏ: ngậm rắn độc trong mỏ, cánh rực rỡ lửa, phát ra âm thanh tự nhiên của Chân ngôn. Bằng lửa trí tuệ, Kim Sí Điểu thiêu trụi tất cả Naga xấu xa mà không làm hại chúng. Trong lúc quán tưởng như vậy, hãy tụng Chân ngôn Kim Sí Điểu: Om Trom Garuda Tsale Tsale Hung Phat[4].

Tụng Chân ngôn này quan trọng, bởi trong thời suy đồi này, các Naga xấu xa gây ra tổn hại đáng kể cho chúng ta. Nếu chúng ta thường xuyên tụng Chân ngôn Kim Sí Điểu hay đeo hình Kim Sí Điểu, chúng ta có thể xua tan mọi chướng ngạima quỷ, Naga xấu xa, tinh linh đất và mọi kiểu tinh linh gây hại đem đến.

NHỮNG HÓA HIỆN CỦA GURU RINPOCHE TRONG CÁC TRƯỜNG PHÁI PHẬT GIÁO TÂY TẠNG

Guru Rinpoche cũng tiên đoán rằng hầu hết những vị trì giữ bất bộ phái của truyền thống Cũ và Mới ở vùng đất Tây Tạng lạnh lẽo sẽ là hóa hiện của Ngài. Ngài cũng hiển bày tôn nhan và ban vô số gia trì cũng như chỉ dẫn cho hầu hết chư vị thánh uyên bácthành tựu. Điều này rõ rành rành trong tiểu sử tương ứng của chư vị.

Hơn thế nữa, tiên tri của Terton vĩ đại Taksham Samten Lingpa tuyên bố rằng: “Ở Xứ Tuyết Tây Tạng, hầu hết các vị trì giữ truyền thừađại từ cả Cựu Dịch (Nyingma) và Tân Dịch (Kadam, Geluk, Sakya và v.v.) là những hóa hiện của Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Nói ngắn gọn, hầu hết chư đạo sư uyên bácthành tựu của Xứ Tây Tạnghóa hiện của Guru Rinpoche. Ngay cả những vị không rõ rànghóa hiện của Ngài cũng từng diện kiến Guru Rinpoche trong linh kiến, thọ nhận quán đỉnh, gia trìgiáo lý từ Ngài. Những miêu tả như vậy thật phong phú trong tiểu sử của các đạo sưđại từ trường phái Sakya, Jonang và Kagyu.

Người ta thường hỏi, “Tôi nghiên cứu truyền thống Nyingma; liệu tôi có thể thực hành truyền thống Geluk?”, “Tôi học hỏi truyền thống Geluk; vậy tôi có thể tìm hiểu truyền thống Sakya?”, “Tôi học hỏi truyền thống Sakya; vậy tôi có thể thực hành truyền thống Kagyu được không?”. Trong tâm trí họ, những truyền thống khá biệt này dường như xung khắc, loại trừ lẫn nhau, thậm chí là trái ngược. Nhưng suy nghĩ như vậy là vô căn cứ. Chư đạo sư truyền thừa vĩ đại của Phật giáo Tây Tạng đều nhấn mạnh rằng chư đạo sư sáng lập của từng trường phái đều là hóa hiện của chư Phật và Bồ Tát. Giáo lý mà chư vị thiết lập cho trường phái tương ứng bao trùm toàn bộ con đường – từ phát Bồ đề tâmtích lũy công đức cho đến thành tựu hai thân – không có bất kỳ mâu thuẫn nào. Về bản chất, chúng là một.

Các Nguồn Kinh Văn Về Những Hóa Hiện Khác Nhau Của Guru Rinpoche

Về điểm này, có nhiều giáo lý từ chư đạo sư vĩ đại của truyền thống Nyingma. Tuy nhiên, là hành giả của trường phái Nyingma, chúng tathể không hoàn toàn bị thuyết phục nếu chỉ dựa vào từ ngữ từ truyền thống của chính mình. Vì lý do này, Lama Yidzhin Norbu thường trích dẫn giáo lý của chư đạo sưđại từ các trường phái khác làm bằng chứng. Ví dụ, Panchen Lama thứ Tư, Lobzang Chokyi Gyaltsen, nói rằng:

Liên Hoa Sinh, vị uyên bácthành tựu vĩ đại,

Hóa hiện trong hình tướng Atisha Vinh Quang,

Rồi một lần nữa thành Lobzang Drakpa.

Con chẳng có quy y khác ngoài tất cả chư vị.

Đạo Sư Liên Hoa Sinh, vị đã thiết lập Phật giáo ở Xứ Tây Tạng trong giai đoạn truyền bá ban đầuthiết lập nền tảng vững chắc cho Kinh thừaKim Cương thừa, sau đó đã hóa hiện thành đạovinh quang Atisha Dipamkara, người đã chấn hưng Phật Pháp trong giai đoạn truyền bá sau, rồi thành đạo sư thiện lành Lobzang Drakpa. Ngoài ba vị này, Panchen Lama tuyên bố Ngài không có đối tượng quy y nào khác. Lobzang Drakpa là danh hiệu xuất gia của Đức Tsongkhapa trong tiếng Tạng, thường được dùng trong những lời cầu nguyện đến Ngài trong truyền thống Geluk. Từ đây, chúng ta có thể thấy rằng những vị sáng lập của ba trường phái chính yếu này là hóa hiện khác nhau của cùng một đấng giác ngộ.

Gyalwa Rinpoche thứ Nhì – Gendun Gyatso cũng nói rằng:

Trì Minh thành tựu Liên Hoa Sinh,

Ngọc báu vương miện giữa năm trăm học giả, Atisha

Kim Cương Trì, Đức Tsongkhapa –

xuất hiện trong hình tướng khác nhau, con đỉnh lễ chư vị là một.

Đức Liên Hoa Sinh, Trì Minh thành tựu; Atisha, ngọc báu vương miện giữa năm trăm học giả Ấn Độ; và Đức Tsongkhapa, vị ở Xứ Tây Tạng bất khả phân với Kim Cương Trì – mặc dù chư vị xuất hiện trong thân khác nhau, về tinh túy chư vị là một.

Tôi từng nghiên cứu lịch sử trường phái Geluk của Setsang Lobzang Palden, thứ được sử dụng làm sách giáo khoa tại Trường Phật Giáo Tây Tạng Cao Cấp Của Trung Quốc. Trong tác phẩm này, nguyên tắc tương tự cũng được ghi lại và thảo luận chi tiết.

Ngoài ra, Patrul Rinpoche nói rằng:

Đức Sakya Pandita, vị làm chủ và giải thích năm ngành;

Je Tsongkhapa, cội nguồn mọi giáo lý hoàn hảo của Kinh – Mật;

Đấng Toàn Tri Longchenpa, vị giữ toàn bộ giáo lý của Đức Phật;

Ba hóa hiện vĩ đại của Văn Thù ở Xứ Tuyết – con đỉnh lễ chư vị!

Đức Longchenpa, Tsongkhapa và Sakya Pandita – ba đạo sư này được biết đến là Ba Văn Thù Vĩ Đại của Tây Tạng, bởi tất cả đều là hóa hiện của Văn Thù. Nếu các trường phái khác nhau thực sự đối nghịch, Đức Văn Thù sẽ không hiển bày theo cách này.

Hơn thế nữa, Ngài Thuken Lobzang Chokyi Nyima, một nhân vật nổi bật trong truyền thống Geluk, nói rằng Đức Atisha, Gampopa (đệ tử truyền thừa của Milarepa) và Tsongkhapa – cả ba đều là hóa hiện của Đức Liên Hoa Sinh. Do đó, ý định rốt ráo của chư đạo sư trường phái Kagyu và Geluk là giống nhau.

Vậy còn trường phái Sakya? Chư đạo sư vĩ đại của Sakya có cùng ý định với Nyingma hay không? Câu trả lời là có! Như trong tiểu sử ngắn gọn của Guru Rinpoche tuyên bố:

Khi ấy, tại nơi được gọi là Sakya ở vùng phía trên,

Cha là Văn Thù, mẹ là Độ Mẫu,

Con trai họ, Kunga Gyaltsen, là hóa hiện của Ta,

Ngài sẽ phục hồi chùa chiền của Ta trong tương lai.

Tại nơi được gọi là Sakya, cha là Văn Thù (tức Jampal) còn mẹ là Độ Mẫu (Drolma). Con trai họ, Kunga Gyaltsen – tác giả của Kho Tàng Lời Khuyên Tốt Lành – là một hóa hiện của Guru Rinpoche, vị sau này phục hồi chùa chiền và Pháp viện của Guru Rinpoche được xây dựng trong giai đoạn của trường phái Cựu Dịch. Và như thế, Sakya Pandita cũng được công nhận là một hóa hiện của Guru Rinpoche. Tôi có thể thấy một số đệ tử Sakya ở đây đang rất hài lòng, tất cả đều mỉm cười vui vẻ!

Bên cạnh đó, đạo sư vĩ đại của truyền thống Jonang, Tôn giả Taranatha, cũng hé lộ trong tiểu sử bí mật của chính Ngài rằng Ngài là vị tái sinh của Đấng Toàn Tri Longchenpa.

Các Trường Phái Khác Nhau Không Đối Nghịch Với Nhau

Căn cứ vào đó, ý định rốt ráo của chư đạo sư vĩ đại của mỗi trường phái không đối nghịch và nghiên cứu bất kỳ truyền thống nào cũng chẳng có gì vô lý. Người ta không bao giờ được chỉ trích các trường phái khác thông qua lăng kính của trường phái mình. Mọi chuyện hiện nay có vẻ tốt hơn, nhưng trong quá khứ, một vài cá nhân trong trường phái Geluk, những vị không sở hữu sự hiểu biết bài bản về truyền thống Nyingma, đôi khi đã phỉ báng. Chỉ khi những vị trì giữ Giáo Pháp chân chính từ mỗi truyền thống lên tiếng thì người ta mới nhận ra rằng chẳng có xung đột thật sự nào giữa các trường phái khác nhau.

Nguyên tắc này mở rộng ra ngoài Phật giáo Tây Tạng – ba truyền thống Phật giáo chính yếu của thế giới (Tây Tạng, Theravada và Đại thừa) không xung đột mà thay vào đó, đại diện cho các con đường khác nhau cùng dẫn đến một đích. Và sự đa dạng này không phải là thiếu sót – nó có mục đích. Bởi con người tự nhiên phân biệt giữa ngã và tha, một truyền thống Phật giáo duy nhất có khi lại làm suy yếu kết nối của mọi người – không có các lựa chọn để so sánh, hành giả có khi lại không trân trọng đầy đủ thứ mà họ có. Tuy nhiên, khi người ta thuộc về một truyền thống Phật giáo nhất định, họ trân quý truyền thống của mình, điều làm sâu sắc thực hành của họ và đem đến lợi lạc lớn hơn. Ví dụ, trong khi chúng ta đều tôn kính Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chính vị thầy cá nhân là người trực tiếp trao giáo lý cho chúng ta. Điều này tạo ra một ràng buộc đặc biệtcảm giác biết ơn độc đáo với thầy của chúng ta, minh chứng cách mà xu hướng phân biệt giữa “của tôi” và “kẻ khác” có thể, ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển tâm linh, thực sự lại hỗ trợ con đường. Đây cũng là một hiển bày của sự khởi lên phụ thuộc.

Hai Câu Chuyện Về Gia Trì Từ Guru Rinpoche

Trước khi tôi đến Ngũ Đài Sơn cùng với Choje Yidzhin Norbu vào năm 1987, tôi từng đọc nhiều tiểu sử của chư đạo sưđại từ trường phái Sakya, Jonang và Kagyu. Điều khiến tôi ấn tượng là biết bao hành giả thành tựu đã trực tiếp diện kiến Đạo Sư Liên Hoa Sinh, chưa kể đến các hành giả của trường phái Nyingma.

Nhiều đạo sư vĩ đại của truyền thống Nyingma, cũng như hành giả bình thường, thường gặp Guru Rinpoche trong mơ và thọ nhận gia trì cũng như quán đỉnh. Điều này khá phổ biến trong trường phái Nyingma. Thực sự, gần đây, tôi cũng có một giấc mơ đặc biệt, nhưng tôi sẽ giữ bí mật. Thay vào đó, cho phép tôi chia sẻ câu chuyện về một đạo sư khác.

Paljo Gyatso

Học viện chúng ta từng có một Tulku phi phàm tên là Paljo Gyatso. Choje Yidzhin Norbu thường hỏi ý kiến vị này về nhiều vấn đề, mặc dù tôi không chắc liệu Rinpoche có thọ giáo lý nào từ vị này hay không. Khi tôi lần đầu tiên đến Học viện, vị đạo sư này sống trong một căn nhà gỗ nhỏ trong phần Pháp Luân của khu nhà Tăng. Ngài đã đạt được một cấp độ chứng ngộ rất cao. Một câu chuyện được chia sẻ rộng rãi về Tulku giúp tôi xác nhận điều này. Tôi không nhớ rõ ràng toàn bộ các chi tiết, bởi đã gần hai mươi năm kể từ khi tôi lần đầu tiên nghe về nó.

Trong Cách mạng Văn hóa ở vùng Tây Tạng, Giáo Pháp biến mất khỏi đời sống công khai. Bạn không thể thấy bất kỳ ai nghiên cứu Phật giáo hay thậm chí là tụng lời cầu nguyện. Nếu ai đó bị bắt gặp, họ sẽ gặp nguy hiểm thực sự – tình hình cực kỳ căng thẳng. Đêm nọ, Tulku Paljo Gyatso nằm mơ Ngài đang leo lên một núi thiêng. Nó rất giống với những ngọn núi tại Larung Gar; Ngài có thể thấy những cây nhỏ và thậm chí là các cành một cách rõ ràng. Khi Ngài lên đến đỉnh, sấm bỗng nhiên rền vang, trái đất rung động và Ngài chợt vô cùng tỉnh ngộ. Sau đó, Ngài chậm rãi đi xuống. Đứng tại chân núi, Ngài ngước nhìn sườn núi. Khi Ngài quan sát, một điều diệu kỳ xuất hiện: ngọn núi biến thành hình ảnh Guru Rinpoche sống động. Guru Rinpoche xuất hiện vô cùng oai nghiêm; thân Ngài tỏa ánh sáng soi sáng toàn bộ Xứ Tuyết Tây Tạng và các vùng đất khác.

Khi Tulku Paljo Gyatso thức giấc sáng hôm sau, suy ngẫm về giấc mơ, Ngài có hy vọng lớn lao về sự phát triển của Giáo Pháp. Đáng chú ý, chính hôm đó, Ngài đã nhận được Lời Cầu Nguyện Giáo Pháp Hưng Thịnh, điều mà Khenpo Tepa vừa bí mật biên soạn. Đây là một hành động rất dũng cảm, bởi chính Khenpo Tepa cũng đang sống trong sợ hãi khi ấy và thường ẩn mình. Thế nhưng, sau khi soạn lời cầu nguyện này từ sâu thẳm trái tim, Ngài đã gửi nó cho Tulku. Ngài Paljo Gyatso sau đó nói với nhiều người rằng, “Có lẽ, đây là dấu hiệu cho thấy Phật Pháp sẽ lại phát triển”.

Khi tôi lần đầu tiên đến Học viện và nói với Tulku Paljo Gyatso rằng tôi đến từ Tu viện Domang, Ngài bảo tôi rằng, “Khenpo Tepa của con thực sự xuất chúng! Đừng nghĩ về Ngài như một Khenpo thông thường – Ngài thực sự phi phàm!”. Tulku Paljo Gyatso – một hành giả lớn tuổi mập mạp và vô cùng thành tựu – sau đó, đã trực tiếp chia sẻ với tôi câu chuyện về trải nghiệm của Ngài với Khenpo Tepa.

Nội dung lời cầu nguyện của Khenpo Tepa rất tương đồng với tác phẩm nổi tiếng của Mipham Rinpoche, Những Lời Làm Hài Lòng Chư Vị Pháp VươngLời Nguyện Truyền Thống Cựu Dịch Hưng Thịnh. Sau này, chúng tôi đã thỉnh cầu Khenpo Tepa soạn một luận giải về lời cầu nguyện và Ngài đã từ bi làm vậy.

Jigme Ngotsar

Khi gia trì của Đạo Sư Liên Hoa Sinh thâm nhập tâm chúng ta, mọi hoàn cảnh cần thiết cho con đường tâm linh sẽ khởi lên – dù chúng ta nổi tiếng hay vô danh. Nhiều đạo sư vĩ đại đã minh chứng cho điều này. Jigme Ngotsar (Áo Giáp Vô Úy), một trong những đệ tử xuất chúng của Jigme Lingpa, đã hiển bày sức mạnh chuyển hóa của gia trì như vậy trong cuộc đời Ngài.

Khi còn là một cậu bé, Jigme Ngotsar nghe nói rằng đạo sư vĩ đại Jigme Rigdzin Rinpoche của Tu viện Kathok sắp ban quán đỉnh Guru Rinpoche; vì thế, Ngài tìm cách tham dự. Danh hiệu bí mật mà Ngài nhận được trong lễ quán đỉnh là Yeshe Rigdzin, nghĩa là “Trì Minh Trí Tuệ” và từ khoảnh khắc đó, Ngài phát triển niềm tin lớn lao với Guru Rinpoche. Khi về nhà, Ngài tiếp tục chăn cừu.

Ngày nọ, Ngài đến một núi đá lớn; trên đó có hang động mà Guru Rinpoche từng thực hành. Ngài thiết tha cầu nguyện đến Guru Rinpoche trước núi thiêng này. Chẳng bao lâu sau, toàn bộ ngọn núi biến thành hình tướng oai nghiêm của Guru Rinpoche, vị cầm chày kim cương trong tay trong ấn điều phục. Quá xúc động, chàng trai chăn cừu bắt đầu tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng và Chân ngôn Guru Rinpoche, cầu nguyện với lòng sùng mộ còn lớn hơn. Một lúc sau, hình ảnh Guru Rinpoche bỗng nhiên biến mất và trong chính khoảnh khắc đó, Ngài đã nhận ra bản tính chân thật của tâm.

Mặc dù còn rất trẻ, Ngài đã hiểu sâu sắc rằng tất cả giáo lý của mỗi trường phái và truyền thống đều rốt ráo nhắm đến việc nhận ra bản tính tâm. Mấy chục năm sau, khi ngoài bốn mươi, Ngài đã viết về trải nghiệm này trong những bài ca chứng ngộ, kể lại rằng bản thân Ngài đã diện kiến Guru Rinpoche khi còn là một đứa trẻ. Ngài chứng nhận rằng từ hôm đó về sau, hoạt động làm lợi chúng sinhtruyền bá Giáo Pháp của Ngài khai mở một cách thuận lợi.

Trong tiểu sử của nhiều đạo sư uyên bácthành tựu, có những miêu tả rõ ràng về việc thọ nhận gia trìgiáo lý từ Guru Rinpoche. Bản thân chúng tathể không nổi tiếng hay phô bày những dấu hiệu thành tựu, nhưng chừng nào chúng ta còn cầu nguyện đến Guru Rinpoche với lòng sùng mộ nhất tâm, chúng ta cũng sẽ thọ nhận gia trì độc đáo của Ngài.

LÒNG BI MẪN CỦA GURU RINPOCHE NHANH HƠN TẤT CẢ NHỮNG VỊ PHẬT KHÁC

Guru Rinpoche cũng nói rằng trong tương lai, khi Đức Di Lặc trở thành Phật của thế giới này, bản thân Ngài sẽ xuất hiện là một Bồ Tát. Ngài sẽ là thầy của chúng sinhtruyền bá rộng khắp giáo lý Chân ngôn Bí mật. Thực sự, Ngài đã hứa sẽ xuất hiện cùng lúc với mỗi vị Phật của Hiền Kiếp này. Ngài sẽ trụ trong thân trí tuệ bất tử, chẳng thể phá hủy, nền tảng của những hóa hiện, chừng nào còn hữu tình chúng sinh. Ngài sẽ hiển bày những hóa hiện nhiều vô số như không gian và thời gian, hành động vì lợi chúng sinh trong tương lai.

Khi Đức Di Lặc đạt giác ngộ trên thế gian này, Guru Rinpoche sẽ hóa hiện thành Bồ Tát Zhoton (“Bồ Tát điều phục và dẫn dắt chúng sinh”) để truyền bá giáo lý Kim Cương thừa. Trong từng thời kỳ của nghìn vị Phật trong Hiền Kiếp này, sẽ có hóa hiện của Guru Rinpoche xuất hiện trên thế gian. Cho đến khi luân hồi trống rỗng, Guru Rinpoche sẽ trụ là thân trí tuệ bất tử, chẳng thể phá hủy, hiển bày vô số hóa hiện diệu kỳ để làm lợi lạc hữu tình chúng sinh.

Một số có thể hỏi rằng, “Một số bộ luận nhất định tuyên bố rằng giáo lý Kim Cương thừa sẽ chỉ phát triển trong thời kỳ của ba vị Phật cụ thể. Nhưng ở đây thì lại nói khác – hai tuyên bố này có mâu thuẫn hay không?”.

Chúng không mâu thuẫn. Điều mà các bộ luận này ám chỉ là trong thời kỳ của ba vị Phật này, Kim Cương thừa sẽ đặc biệt phát triển và lan tỏa; trong khi trong thời kỳ của các vị Phật khác của kiếp này, Guru Rinpoche cũng sẽ hiển bày trong những hình tướng khác nhau để truyền bá Kim Cương thừa, mặc dù nếu so sánh, nó sẽ không lan tỏa rộng khắp. Đây là cách hiểu đúng đắn.

Điều cốt yếu là hiểu rõ ràng danh tính thật sự của Guru Rinpoche. Một số hiểu lầm rằng Guru Rinpoche đơn thuần là một Yogi với búi tóc từ vùng Tây Tạng. Khi tôi thấy một số học giả nổi tiếng giới thiệu Phật giáo Tây Tạng như vậy, tôi đơn giản mỉm cườilặng lẽ gạt sang một bên những cuốn sách của họ, cảm thấy không cần tham gia vào. Hoạt động của Guru Rinpoche thực sự nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng sinh bình phàm. Trong thời kỳ giảng dạy của mỗi vị Phật của Hiền Kiếp này, những hóa hiện của Ngài luôn luôn hiện diện, dẫn dắt và giải thoát hữu tình chúng sinh.

Như chính Ngài đã nói trong những từ ngữ kim cương,

Ta nổi tiếngLiên Hoa, đấng tự hiển bày,

Hóa hiện từ tim Phật Vô Lượng Quang,

Sự huy hoàng từ khẩu của Đức Quán Thế Âm.

Huynh đệ của chư Không Hành Nữ, vua của chư Không Hành Nam,

Ta là hoạt động của chư Phật ba thời.

Phổ Hiền vĩ đại, Kim Cương Trì vô song,

Ta là cả hai,

Quyền uy và bi mẫn, xuất hiện trong những thân hóa hiện.

Hoạt động của Ta mạnh mẽ, hỗ trợ chúng sinh đúng như như cầu.

Ta là ngọc báu mong ước của họ, đáp ứng hy vọng của họ.

Vị thường được biết đến là Đức Liên Hoahóa hiện về ý của Phật Vô Lượng Quang, hóa hiện về khẩu của Bồ Tát Quán Thế Âm, anh trai của tất cả Không Hành Nữ, vua của tất cả Không Hành Nam, chúa tể hoạt động giác ngộ của tất cả chư Phật ba thời và là hóa hiện của Phổ HiềnKim Cương Trì. Ngài sở hữu lòng đại từ, đại bisức mạnh lớn lao, hiển bày trong những hình tướng khác nhau tùy theo căn cơ của hữu tình chúng sinh, viên thành mọi mong ước của họ.

Guru Rinpoche cũng nói rằng,

Với chúng sinhniềm tin sùng mộ mạnh mẽ,

Lòng bi mẫn của Ta nhanh hơn tất cả những vị Phật khác.

Cho đến khi tam giới luân hồi đều không còn chúng sinh,

Lòng bi mẫn của Liên Hoa Sinh sẽ chẳng cạn kiệt.

Với những chúng sinhniềm tin mạnh mẽ, lòng bi mẫngia trì của Guru Rinpoche hiển bày thậm chí còn nhanh chóng hơn so với những vị Phật khác. Lòng bi mẫn của Ngài sẽ duy trì cho đến khi tam giới của luân hồi hoàn toàn chẳng còn chúng sinh.

Phiên bản Tây Tạng của Niết Bàn Kinh cũng tuyên bố rằng khi Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, hơn một nghìn Tỳ Kheo bao quanh Ngài, tất cả ngoại trừ Ca DiếpNan Đà, những vị vắng mặt. Đức Phật bảo với A Nan, Thuần Đà, Mục Kiền Liên và những vị khác: “Ta bây giờ nhập vào Niết Bàn hoàn hảo; các con không phải than khóc. Trong đại dương vô cấu nhiễm của những màu sắc rực rỡ, một vị thù thắng, vĩ đại hơn cả Ta, sẽ sinh ra. Các con không phải khóc”. Đoạn “một vị thù thắng, vĩ đại hơn cả Ta, sẽ sinh ra” nhắc đến Đức Liên Hoa Sinh.

Dĩ nhiên, về mặt lòng bi mẫntrí tuệ hoàn hảo, không có khác biệt giữa Đức Phật và Guru Rinpoche. Tuy nhiên, trong thời kỳ suy đồi này, khi chúng sinh gặp phải lực ma quỷ hay ảnh hưởng tiêu cựccầu nguyện đến Guru Rinpoche, những hoạt động của Ngài thậm chí sẽ còn nhanh hơn Đức Phật. Họ lập tức thọ nhận gia trì của Ngài. Một số môn đồ của truyền thống Kinh thừathể không chấp nhận tuyên bố này; nhưng nếu có chút hiểu biết về Phật giáo, các bạn sẽ thấy không khó lĩnh hội. Hãy xem: về việc dẫn dắt hữu tình chúng sinh tái sinh về Cực Lạc, hoạt động bi mẫn của Phật Vô Lượng Quang rõ ràng nằm trong số thù thắng nhất trong tất cả chư Phật. Kẻ nào cầu nguyện đến Ngài với niềm tin chân thành dễ dàng tái sinh về cõi thanh tịnh ấy. Tương tự, về xua tan chướng ngại và lực tiêu cực, cầu nguyện đến Guru Rinpoche đặc biệt nhanh chóng và hiệu quả.

Trong thời kỳ suy đồi này, thật không thực tế khi nghĩ rằng chúng tathể đạt được thành công trong thực hành mà không gặp bất kỳ chướng ngại nào. Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể kết hợp gia trì oai hùng và mãnh liệt của Guru Rinpoche vào dòng tâm, thực hành của chúng ta chắc chắn tiến triển thuận lợi từ đầu đến cuối. Lòng đại bi của Guru Rinpoche chẳng có ranh giới: với bất kỳ ai có niềm tin với Ngài, Ngài sẽ xuất hiện trước họ, ban gia trì, quán đỉnh và các thành tựu. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta cầu nguyện đến Guru Rinpoche vào mọi lúc và ở mọi nơi. Hãy cùng nhau quán chiếu sâu sắc về điểm này.

ĐỐI TƯỢNG CỦA SỰ CẦU KHẨN

Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Bởi Mipham Rinpoche đã giải thích những đoạn kệ này hết sức rõ ràng, tôi sẽ đơn giản làm nổi bật những điểm cốt yếu để dẫn dắt sự hiểu của các bạn.

Đấy là những kỳ công chẳng thể nghĩ bàn của Guru Rinpoche. Một trong số chúng, như Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng ghi lại, là cách thức mà Ngài hé lộ Hóa thân trên thế gian này:

Hung!

Ở Tây Bắc vùng đất Orgyen,

Ở giữa của một bông hoa sen

Sở hữu những thành tựu thù thắng,

Vang danh là Đức Liên Hoa Sinh,

Tập hội Không Hành Nữ vây quanh.

Theo bước chân Ngài, con tu tập,

Xin Ngài giáng lâm, ban gia trì!

Guru Padma Siddhi Hung

Lời cầu nguyện bắt đầu bằng việc thốt ra chủng tự hung, chủng tự gốc tự sinh của tâm tất cả chư Phật. Điều này khơi dậy tâm giác ngộ của chính Guru Rinpoche.

“Đấy là những kỳ công chẳng thể nghĩ bàn … hé lộ Hóa thân trên thế gian này”: Điều này chỉ ra rằng cách thức mà Đức Liên Hoa Sinh hiển bày ở vùng đất Nam Thiệm Bộ Châu sẽ được làm sáng tỏ trong những đoạn kệ tiếp theo.

“Lời cầu nguyện bắt đầu bằng việc thốt ra … tâm giác ngộ của chính Guru Rinpoche”: Chủng tự gốc tự sinh của tâm, chủng tự Tây Tạng hung[5], đánh dấu nguồn gốc của lời cầu nguyện.

Nam Thiệm Bộ Châu, thế giới này của chúng ta nằm về phía Nam của núi khổng lồ Tu Di, gồm có sáu khu vực chính. Trong đó, vùng cực Tây là đất nước của chư Trì Minh. Đấy là Oddiyana, hay Orgyen, vùng đất của Không Hành Nữ, nơi mà, ở rìa hay biên giới Tây Bắc, có vùng nước với tám kiểu xuất sắc và thoát khỏi mọi bất hảo. Đấy là Hồ Dhanakosha. Nó là biểu tượng của tính Không, sở hữu những phẩm tính thù thắng, hoàng hậu của cõi rốt ráo. Hồ này hoàn hảo về mọi mặt, rõ rành rành ngay cả trước nhận thức của những người bình phàm. Nó ngập tràn những bông hoa sen, lớn nhất trong số đó, mọc lên ở trung tâm, là cây sen vô cùng đẹp đẽ về cả cánh và đài. Từ cuống bông hoa này mọc thêm những bông sen khác, như thế, tạo thành cả thảy năm bông hoa. Mỗi bông hoa có màu sắc khác nhau, tương ứng với năm dòng dõi giác ngộbiểu tượng cho năm trí tuệ. Bông sen ở giữa màu đỏ để biểu lộ dòng dõi Liên Hoa.

“Đấy là Hồ Dhanakosha … hoàng hậu của cõi rốt ráo”: Từ quan điểm của giai đoạn hoàn thiện sâu xa, hồ này biểu tượng cho tính Không, được biết đến là hoàng hậu của cõi rốt ráo.

“Bông sen ở giữa màu đỏ để biểu lộ dòng dõi Liên Hoa”: Điều này là bởi Đức Liên Hoa Sinhhóa hiện về ý của Phật Vô Lượng Quang, vị thuộc về dòng dõi Liên Hoa, được biểu tượng bởi màu đỏ.

Nút bất tận, kho tàng quý báuvô cấu nhiễm của tim Phật Vô Lượng Quang, ngập tràn chủng tự hrih, tỏa ra những tia sáng ngũ sắc. Nó là sự cô đọng tất cả gia trì và phẩm tính từ tam mật của vô số chư Phật quá khứ, hiện tạivị lai. Khi đến thời điểm Guru Rinpoche hành động vì lợi chúng sinh, vô số chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương đã rải hoa, trong khi chư Không Hành NamKhông Hành Nữ, cùng với chư vị bảo hộbảo vệ của các cõi Phật, tiến hành vũ điệu kim cương và tụng bài ca kim cương. Sau đó, để đem đến niềm vui và an ủi cho chúng sinh khắp ba phạm vi của sự tồn tại, chủng tự hrih giáng hạ xuống phần nhụy hoa sen đỏtrung tâmbiến thành vua của chư Trì Minh, Đạo Sư vĩ đại và vô úy, vị vô song trong khắp tam giới và tôn quý, với nhiều phẩm tính phi phàm của sự vĩ đại. Nhờ công đức bao la, thân của Ngài chính là cội nguồn lợi lạc cho chúng sinh; nhờ giáo lý của Ngài, Ngài làm lợi họ bằng khẩu; và bằng ý, Ngài làm lợi họ nhờ trí tuệ giác tính. Với sức mạnh diệu kỳ chẳng thể nghĩ bàn, Ngài dẫn dắt chúng sinh đến giải thoát.

“Nút bất tận … chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai”: Trí tuệ của thân, khẩu và ý của vô số chư Phật quá khứ, hiện tạivị lai được cô đọng thành chủng tự Tây Tạng hrih. Điều này đánh dấu khởi nguồn của chủng tự hrih. Tỏa ánh sáng ngũ sắc, nó tan hòa vào luân xa tim của Phật Vô Lượng Quang.

“Khi đến thời điểm … với nhiều phẩm tính phi phàm của sự vĩ đại”: Chữ Tây Tạng hrih sau đó giáng hạ từ luân xa tim của Phật Vô Lượng Quang xuống nhụy của bông sen đỏ, biến thành Đức Liên Hoa Sinh, vị chẳng gì sánh bằng trong khắp tam giới. Ngài vô song về mặt nào? Ngài vượt qua tất cả những vị khác về thân, khẩu, ý, phẩm tính và hoạt động.

“Nhờ công đức bao la, thân của Ngài chính là cội nguồn lợi lạc cho chúng sinh; … Ngài dẫn dắt chúng sinh đến giải thoát”: Những phẩm tính của thân, khẩu và ý được miêu tả ở đây thuộc về trạng thái giác ngộ của chư Phật. Ở đầu của một trong các luận giải của tôi về Nhập Bồ Tát Hạnh, tôi đã giải thích rằng chư Phật sử dụng ba kiểu hiển bày diệu kỳ – về thân, khẩu và ý – để thuyết Pháp.

Ngài hiển bày trong hình tướng tự sinh, vô cấu nhiễm, được trang nghiêm bằng các tướng tốt và vẻ đẹp của Phật quả. Ngài được tấn phong là con trai của Vua Indrabhuti, nhưng sau đó, đã từ bỏ vương quốc và sống cuộc đời của một Yogi thực hành trong tám nghĩa địa; tại đó, Ngài rèn luyện trong vô số giáo lý của các thừa bên ngoài và bên trong. Câu chuyện về cuộc đờihoạt động của Ngài thật chẳng thể tưởng tượng. Ngài đã hiển bày hàng ngũ hư huyễn của tám hóa hiện. Bằng sức mạnh chẳng thể đánh bại, Ngài tiêu diệt ma quỷ, La Sáttinh linh xấu xa và đưa vào kiểm soát những tinh linh kiêu căng ngạo mạn của thế gian. Ngài thiết lập nhiều chúng sinh vào con đường Đại Mật, điều đưa họ đến chín muồi và ban giải thoát. Ngài là đối tượng cho những lời tán thán tuyệt vời nhất trong toàn bộ tam giới. Và khi chúng ta đọc về cuộc đời tuyệt diệu, phi thường của đấng bảo hộ, Phật thứ nhì, điều được miêu tả trong những kinh văn đáng cậy của sự trao truyền Kama và Terma, chúng ta được khơi dậy niềm tin với Ngài. Hơn thế nữa, đấng vĩ đại này không chỉ sở hữu những thành tựu thông thường, Ngài giác ngộ hoàn hảo và từ nguyên sơ: Ngài tìm ra sự làm chủ thù thắng, trạng thái hợp nhất của Kim Cương Trì vĩ đại. Và Ngài nổi tiếngLiên Hoa Sinh trong hàng ngũ bất tận của vô số cõi Phật.

Chúng ta công nhận Ngài, cùng với đoàn tùy tùng của Ngài, là hiện thân của Tam Bảo, sự bảo vệ rốt ráo, không lừa dối, mà chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng cầu nguyện.

Đoạn này miêu tả cách mà Guru Rinpoche làm lợi lạc hữu tình chúng sinh nhờ thân, khẩu, ý, phẩm tính và hoạt động giác ngộ, tương tự với mười hai hoạt động của Phật Thích Ca Mâu Ni.

“Ngài hiển bày trong hình tướng tự sinh, vô cấu nhiễm, được trang nghiêm bằng các tướng tốt và vẻ đẹp của Phật quả”: Điều này miêu tả cách mà chữ hrih biến thành Đức Liên Hoa Sinh.

“Ngài đã hiển bày hàng ngũ hư huyễn của tám hóa hiện”: Tại tám địa điểm khác nhau, Guru Rinpoche đã xuất hiện trong tám hóa hiện riêng biệt.

“Và khi chúng ta đọc về cuộc đời tuyệt diệu, phi thường của đấng bảo hộ, Phật thứ nhì … chúng ta được khơi dậy niềm tin với Ngài”: Có nhiều tiểu sử của Phật thứ nhì – Guru Rinpoche – một số được tìm thấy trong các Terma và số khác trong sự trao truyền Kama. Kiểu sau liên quan đến các tác phẩm được soạn bởi chư đạo sư vĩ đại qua nhiều thời kỳ. Điều quan trọng là trưởng dưỡng niềm tin với Phật thứ nhì bằng cách nương tựa những nguồn kinh văn này. Bằng cách đọc các tiểu sử này, chúng ta có thể có được sự hiểu sâu sắc hơn về cuộc đờihoạt động của Đạo Sư Liên Hoa Sinh.

“Hơn thế nữa, đấng vĩ đại này … trong hàng ngũ bất tận của vô số cõi Phật”: Từ quan điểm của chân lý rốt ráo, Đức Liên Hoa Sinh không đơn thuần là một con người bình phàm, mà sở hữu những thành tựu vĩ đại.

Nói ngắn gọn, trên đây là giải thích cô đọng về nơi sinh của Đức Liên Hoa Sinh, cách thức mà Ngài đến thế gian này cũng như cuộc đờihoạt động của Ngài.

Niềm Tin: Nền Tảng Của Con Đường

Để thực sự thâm nhập vào tâm của giáo lý Kim Cương thừa, trước tiên, bạn phải trưởng dưỡng niềm tin với Guru Rinpoche. Nếu bạn có thể phát triển một sự hiểu sâu sắc và niềm tin với Guru Rinpoche thì bạn sẽ tự nhiên phát triển lòng sùng mộ với chư đạo sư vĩ đại của truyền thừa Dzogchen, chẳng hạn Garab Dorje, Shri Singha, Vimalamitra và Jnanasutra, bởi chư vị đều là những hóa hiện khác nhau của Guru Rinpoche. Về mặt giáo lý, bạn cũng sẽ có được sự tin tưởng lớn hơn và sự hiểu sâu sắc hơn về Dzogchen, Mật Điển Guhyagarbhagiáo lý Terma. Điều này cũng khiến bạn dễ dàng trân trọng tiểu sử của nhiều bậc thầy tâm linh từ các truyền thống khác, cũng như những hình tướng hiển bày khác nhau của chư vị.

Trái lại, không có sự trân trọng chân chính với Guru Rinpoche, con đường Kim Cương thừa có thể khó thâm nhập. Và nếu khó chấp nhận Kim Cương thừa, thậm chí thực hành Kinh thừa cũng có thể gặp vài chướng ngại. Mặc dù Phật giáo thường được miêu tả về mặt Kinh thừaKim Cương thừa, chúng là các phần của một tổng thể trọn vẹnkết hợp. Điều chúng ta quy ytoàn bộ Phật Pháp. Nếu chúng ta chấp nhận chỉ một phần trong khi từ bỏ phần còn lại, thật khó để nói liệu chúng ta có thể tái sinh Cực Lạc hay đạt giải thoát, bởi nhân tố then chốt cho những mục tiêu này là không từ bỏ bất kỳ khía cạnh nào của Giáo Pháp.

Sau khi giới thiệu ngắn gọn đối tượng của sự cầu khẩn, bây giờ, chúng ta cần có sự hiểu rõ ràng hơn về việc Guru Rinpoche chính xác là ai. Bởi thời gian hạn chế, tôi không hồi tưởng lại nhiều tiểu sử. Nhưng nếu bạn làm vậy, bạn sẽ khám phá nhiều câu chuyện tuyệt vời về chư đạo sư vĩ đại và cách mà chư vị được Guru Rinpoche gia trì. Ví dụ, tiểu sử của Jigme Lingpa miêu tả cách mà Guru Rinpoche chấp nhận Ngài làm đệ tử. Tiểu sử của Longchenpa cũng chứa đựng nhiều tình tiết như vậy. Khi soạn các bộ luận, Tôn giả Longchenpa thường thêm trong lời ghi cuối rằng: “Được soạn bởi Longchen Rabjam, vị Yogi của thừa thù thắng, kẻ được gia trì và dẫn dắt bởi Đạo Sư Vinh Quang Vĩ Đại Xứ Oddiyana, Đức Liên Hoa Sinh”. Điều này minh chứng rằng nhiều đạo sư Kim Cương thừa lỗi lạc đã được gia trì và dẫn dắt bởi Đạo Sư Liên Hoa Sinh.

Tôi khuyến khích hành giả Kinh thừa duy trì tâm cởi mở với Mật thừa, bởi nuôi dưỡng thành kiến có thể trở thành chướng ngại lớn trên con đường giải thoát. Nếu bạn đã có niềm tin với Phật Vô Lượng Quang, chẳng có lý do gì để từ chối hóa hiện của Ngài, Liên Hoa Sinh. Điều quan trọng là trưởng dưỡng niềm tin chân thành với mọi truyền thống Phật giáo. Trong thực hành sùng mộ của bạn, bạn cần hết lòng hướng về bất cứ vị giác ngộ nào khơi dậy lòng sùng mộ sâu sắc nhất trong bạn – dù đó là Quán Thế Âm, Guru Rinpoche hay Văn Thù Sư Lợi. Không có hạn chế nào về vị mà bạn lựa chọn để tập trung lòng sùng mộ; bạn được tự do kết nối với bất kỳ vị giác ngộ nào đồng điệu với bản thân. Nhờ tụng Chân ngôn của chư vị và tham gia vào thực hành về chư vị với sự tin tưởng, bạn tạo ra những hoàn cảnh để tâm bạn dần dần được chuyển hóa.

Với hành giả, thọ nhận gia trì từ chư Phật và Bồ Tát là điều quan trọng. Khi thọ gia trì, họ không chỉ có thể chuyển hóa bản thân mà còn giúp chuyển hóa chúng sinh. Trái lại, không có những gia trì như vậy hay công đức cá nhân, đơn thuần tinh thông triết học Phật giáo hay tham gia vào các thiện hạnh chẳng đem lại nhiều lợi lạc cho bản thân hay chúng sinh khác. Nhiều trí thức trên thế giới hiện nay đầy ấn tượng và hùng biện; nhưng họ thường không thể kết hợp kiến thức với hành động. Dòng tâm họ không khác với người thường và họ chẳng có tiến bộ tâm linh thực sự nào. Tương tự, một hành giả, người chỉ thông thạo lý thuyết Phật giáo, bất kể họ có thể nói năng hùng hồn đến đâu, khi từ giã thế gian này, thân thể sẽ bị bỏ lại và dòng tâm sẽ tiếp tục lang thang trong Bardo, vẫn bị phiền não đè nặng.

Trong khi bạn có đời người hiếm có này, bạn phải tận dụng thời gian bằng cách tinh tấn thực hành và thiết tha cầu nguyện gia trì của chư vị giác ngộ, để chuyển hóa dòng tâm. Ví dụ, khi mới đến Học viện này, bạn có thể không biết gì về Phật giáo, chư Tôn hay đạo sư. Nhưng sau khi nỗ lực thực hành, thậm chí nếu không thể đạt được điều mà một số đạo sư miêu tả là “ngồi xuống như một người bình phàm và đứng lên như một vị thành tựu”, bạn ít nhất cũng cần có thể nói rằng, “Tôi đã đến Larung Gar hay gia nhập Hội Bồ Đề như một người bình phàm đầy phiền não, nhưng sau khi ở đây một thời gian rồi trở về thế giới thế tục, trạng thái tâm tôi thực sự đã thay đổi”. Nếu có thể làm được như vậy thì mọi nỗ lựcchúng ta dùng để tạo ra những cơ hội nghiên cứu Giáo Pháp sẽ không uổng phí.

Vì thế, đừng lừa dối bản thân hay kẻ khác. Nếu bạn chân chính tham gia vào thực hành Pháp, bạn chắc chắn sẽ thọ nhận gia trì và những kinh nghiệm tâm linh ý nghĩa!


Nguồn Anh ngữ: https://khenposodargye.org/books/ebooks/invoking-guru-rinpoche-a-practical-commentary-on-the-seven-line-prayer/.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.




[1] Khenpo Sodargye 索达吉堪布,《密宗虹身成就略记》(“Brief Account of Rainbow Body Attainment in Vajrayana”).

[2]dzi chen khog.

[3] ཁྲོཾ་ (khrom).

[4] Chân ngôn Kim Sí Điểu trong tiếng Tạng: ཨོཾ་ཁྲོཾ་ག་རུ་ཌ་ཙ་ལེ་ཙ་ལེ་ཧཱུྃ་ཕཊ​།. [Vui lòng lưu ý về các điều kiện để thực hành Mật thừa.]

[5] ཧཱུྂ་