Thư Viện Hoa Sen

Milarepa Và Tôi: Câu Chuyện Chuyển Hóa Từ Hận Thù

MILAREPA VÀ TÔI:
CÂU CHUYỆN CHUYỂN HÓA TỪ HẬN THÙ
Mai Thị Như Ý

Có những ngày bóng tối phủ kín lối đi, tôi nghe tiếng lòng mình vỡ ra thành từng mảnh vụn. Trong bóng tối sâu thẳm của một cô gái từng mắc chứng rối loạn nhân cách, tôi đã loay hoay suốt một thời tuổi trẻ để chắp vá chiếc gương soi bản ngã đã nứt lìa. Giữa những cơn quằn quại của một linh hồn kiệt quệ, khi máu và nước mắt hòa vào nhau trong những năm tháng tịnh hóa đớn đau, tôi may mắn đọc chương truyện về Ngài Đại Thành Tựu Giả Milarepa.
Người đời thường nhìn Milarepa bằng đôi mắt kính ngưỡng xa xăm, ca tụng Ngài như một vị thánh siêu phàm với thần thông biến hóa bước đi trên mây ngàn, hay một thi sĩ của cõi giải thoát với những bài Đạo ca tuyệt mỹ. Nhưng đối với tôi, Milarepa trước hết là một con người. Một con người bằng xương bằng thịt, từng mang một tâm thức đầy hận thù, từng đi qua địa ngục để rồi vươn lên đỉnh cao của tự tại. Mỗi dòng ghi chép về cuộc đời Ngài là một tấm gương cho hành giả như tôi bước đi trên đạo lộ Kim Cương Thừa.
Ngược dòng thời gian về thế kỷ thứ mười một, tại tỉnh Gungthang thuộc vùng đất tuyết Tây Tạng hoang vu, có một đứa trẻ đã sinh ra trong nhung lụa. Người cha thương gia thành đạt vì quá đỗi vui mừng đã đặt tên cho đứa bé là Töpah Gah mang nghĩa "người có sự hỉ lạc khi nghe". Cái tên ấy từng là hiện thân của một thiên đường tuổi thơ êm ấm, tràn ngập tình yêu thương và những kỳ vọng lấp lánh. Nhưng thế gian vốn là một dòng chảy vô thường tàn nhẫn. Năm Töpah Gah lên bảy, người cha đột ngột qua đời, kéo theo sự sụp đổ của cả gia tộc.
Đớn đau thay, sự phản bội lại đến từ những người ruột thịt gần gũi nhất. Đó là chú thím của Ngài. Họ chiếm đoạt tài sản, đẩy mẹ con Ngài vào kiếp sống nô lệ. Câu mô tả đẫm lệ của Ngài vang vọng qua nghìn năm như vết thương chưa bao giờ lành lặn: "Thức ăn của chúng tôithức ăn cho chó, công việc của chúng tôi là công việc của lừa… Bị ép làm việc không nghỉ ngơi, chân tay chúng tôi trở nên nứt nẻ và trầy xước."
Niềm tin cơ bản vào thế giới của Ngài sụp đổ. Khi một đứa trẻ bị tước đoạt quyền làm người bởi chính những người thân yêu, cơ chế tự vệ của tâm thức sẽ bị bẻ cong một cách tăm tối. Những ai từng trải qua chứng rối loạn nhân cách như tôi sẽ thấu cảm sâu sắc khoảnh khắc này. Đó là khoảnh khắc mà thế giới an toàn biến mất, nhường chỗ cho cái "tôi" đầy nghi kỵ, phòng thủ và hận thù được sinh ra. Cái "tôi" ấy xù lông nhím. Nó mang một đôi mắt rực lửa oán hận và bắt đầu sống thay tôi cuộc đời này.
Mẹ của Ngài, bà Nyangtsa Kargyen trong cơn phẫn uất tột cùng, đã thúc ép Ngài đi học ma thuật đen để trả thù. Vì tình yêu thương thương tổn dành cho mẹ, Ngài đã bước vào bóng tối. Huyền thuật thành công, một ngôi nhà đổ sập chôn vùi 35 mạng người trong một bữa tiệc cưới, những trận mưa đá tàn phá mùa màng quê hương... Tất cả là đỉnh điểm bùng nổ của một nhân cách bị hủy hoại. Trong trạng thái rối loạn, cái "tôi" hận thù tin rằng sự hủy diệt có thể khỏa lấp nỗi bất an và sự bất lực bên trong. Sự trả thù mang lại một cảm giác thỏa mãn quyền lực giả tạo, nhưng cái giá phải trả chính là sự tha hóa hoàn toàn của linh hồn dưới vực thẳm của nghiệp báo.
Kẻ thù đã phải đền tội, nhưng bình an không bao giờ gõ cửa tâm hồn của kẻ sát nhân. Milarepa rơi vào một cuộc khủng hoảng hiện sinh trầm trọng: "Ban ngày tôi quên cả ăn. Nếu ra ngoài, tôi lại muốn ở nhà. Nếu ở nhà, tôi lại muốn ra ngoài. Ban đêm, tôi tràn ngập sự mệt mỏitừ bỏ thế tục đến nỗi không thể ngủ được."
Nỗi đau khổ của Ngài lớn đến mức nó làm nứt nẻ lớp vỏ bọc cứng nhắc của bản ngã. Ngọn đèn tự nhận thức thức tỉnh. Ngài nhận ra rằng những hành vi bạo lực kia không hề giải thoát được mình, mà chỉ xích chặt mình hơn vào cõi địa ngục trần gian. Khoảnh khắc tôi nhận ra mình bị rối loạn nhân cách cũng mang một màu sắc đau đớn tương tự. Đó là sự sụp đổ hoàn toàn khi bạn nhận ra kẻ thù lớn nhất không phải là xã hội kia, cũng không phải là những người từng làm tổn thương bạn, mà chính là cấu trúc tâm lý méo mó, những cơn giận dữ điên cuồng và những hành vi thao túng bên trong mình. Nỗi hối hận của Milarepa chính là ngọn lửa thiêng đầu tiên thiêu rụi cái "tôi" giả tạo, chuẩn bị cho một hành trình tịnh hóa không khoan nhượng.
Khi Milarepa tìm đến bậc thầy Marpa, Ngài không hề nhận được những cái ôm ấm áp hay những lời dịu dàng. Marpa với trí tuệ siêu việt, biết rằng một tâm thức mang đầy nghiệp sát và tổn thương sâu sắc như Milarepa không thể được cứu rỗi bằng những bài pháp lý thuyết suông. Cái "tôi" của Milarepa quá nặng nề, đầy rẫy vết sẹo phòng thủ. Nó cần phải bị đập nát hoàn toàn.
Hành trình xây tháp rồi lại phá tháp bốn lần liên tiếp bằng tay không, chịu đựng bao đòn roi và những lời mắng chửi tàn nhẫn của Marpa chính là liệu pháp hành vi nhận thức ở cấp độ tâm linh cao nhất. Xây tháp là biểu tượng cho nỗ lực chuộc lỗi của bản ngã, cố gắng chứng tỏ "tôi có giá trị". Phá tháp chính là sự phủ định phũ phàng của vị thầy đối với cái "tôi" tội lỗi đó. Marpa như muốn nói: "Cái tôi muốn lập công chuộc tội kia của ngươi cũng phải chết!"
Trong những năm tháng tịnh hóa của chính mình, tôi đã trải qua những "tòa tháp" như thế. Tôi cố gắng tỏ ra mình đã ổn, nhưng rồi những cơn sụp đổ tâm lý, những biến cố cuộc đời lại kéo đến giật sập tất cả. Rồi tôi lại muốn buông xuôi vì nghiệp lực cuốn phăng đi mọi thứ mà tôi có. Người thân đồng hành hai mươi mấy năm, những người bạn luôn là chỗ dựa tinh thần không thể nào gặp tôi được nữa. Những chướng duyên luôn xuất hiện mỗi ngày. Tôi từng oán trách cuộc đời, oán trách những năng lượng tiêu cực xung quanh, giống như Milarepa từng tuyệt vọng đến mức muốn tự sát vì nghĩ rằng thầy không thương mình. Nhưng Marpa không hành hạ Milarepa. Ngài đang dùng sự tàn nhẫn bên ngoài để dập tắt sự tàn nhẫn bên trong của người học trò, đập tan cái bản ngã bám chấp để nhường chỗ cho ánh sáng tâm linh.
May mắn lớn nhất trong cuộc đời trần thế của tôi là biết đến khái niệm Vô ngã (Anatta) trong Phật giáo. Trước đó, tôi luôn loay hoay tìm cách sửa chữa "nhân cách" của mình, cố biến một nhân cách lỗi thành một nhân cách thánh thiện. Nhưng cái "tôi" đó vốn dĩ không có thật. Nó chỉ là một tập hợp của các xung năng cảm xúc, những ký ức tổn thương, những điều kiện hóa của hoàn cảnhphản ứng sinh học. Rối loạn nhân cách, bản chất chính là sự bám chấp quá chặt vào một cấu trúc "tôi" thật đó.
Milarepa đã hiện thực hóa tinh thần Vô ngã ấy bằng sự khổ hạnh tột cùng trên những rặng núi tuyết biệt lập. Sau khi rời Marpa, trở về thấy căn nhà xưa hoang tàn, hài cốt người mẹ lạnh lẽo nằm trên nền đất, Ngài đã cắt đứt hoàn toàn sợi dây luyến ái với thế gian. Ngài ẩn cư trong hang đá, thiền định đến mức quần áo rách nát, xương lộ ra, làn da xanh mét vì chỉ ăn tầm ma qua ngày.
Sự khổ hạnh của Ngài là sự buông bỏ triệt để đối với những đòi hỏi của bản ngã. Bản ngã luôn muốn ăn ngon, mặc ấm, được công nhậnan toàn. Milarepa đã ném bản ngã vào nơi mà tất cả những điều đó bị triệt tiêu. Khi không còn gì để bám chấp, cái "tôi" bắt buộc phải tan rã. Ngài không còn là kẻ mang mối thù gia tộc. Giờ đây, Ngài trở thành một "Repa" mặc áo bông đơn sơ, hòa nhập làm một với thiên nhiên, với vách đá và tuyết lạnh. Tôi khong còn là cô bé nhân cách lệch lạc, tôi là hành giả muốn dùng đời mình để bước tiếp con đường Bát Chánh của Đức Thế Tôn. Ngày qua ngày, tiềm thức trong tôi dần chuyển hóa. Tôi thấy mình và tất cả chúng sinhmột thể mà thôi.
Có đôi lúc bóng tối lại trồi dậy. Khi tôi lại trở về như trước, khát khao yêu thương và được thấu hiểu theo ý mình, toàn bộ những phần ức chế, những ký ức kinh hoàng lại trỗi dậy nuốt chửng tôi. Milarepa trong hang đá đã đối mặt với vô số hình tướng ma quỷ tại Thung Lũng Ngọc Đá Đỏ hay Khúc Ca Rặng Núi Tuyết. Những con quỷ ấy chính là hình chiếu của nỗi sợ hãi, của tội lỗi sát sinh, của sự nghi ngờ vị thầy và nỗi cô độc tột cùng bên trong Ngài.
Trong hành trình chữa lành của mình, tôi đã kinh qua những đêm dài không ngủ, những cơn hoảng loạn kéo đến bóp nghẹt lồng ngực, tiếng nói tự chỉ trích bên trong gào thét rằng hãy hận thù nhân loại. Đó là lúc tôi hiểu thế nào là "quỷ dữ". Trong các bài Đạo ca, Ngài đối diện với chúng bằng sự nhận biết thuần khiếtlòng từ bi. Ngài nhìn thẳng vào chúng và nhận ra chúng chính là ảo ảnh được tạo ra bởi tâm bám chấp của bản thân. Có lúc, Ngài sẵn sàng dâng hiến cả thân xác này cho quỷ ăn, quỷ lập tức biến mất. Đó chính là đỉnh cao của Vô ngã. Khi không còn cái "tôi" để bảo vệ, thì không có bất kỳ tổn thương nào có thể bám dính vào tôi được nữa. Tôi nhớ đến tấm đơn hiến xác cho y học, chính tôi đã muốn cứu họ mà. Chính tôi đã thề nguyện đi trên con đường này. Thật buồn cười khi giờ đây vị hành giả năm nào lại căm ghét con người mà mình muốn bảo vệ.
Milarepa chưa bao giờ bao biện cho quá khứ của mình. Ngài biết mình đã gieo nhân xấu và sẵn sàng chịu trách nhiệm hoàn toàn về Nghiệp quả phải mang. Những hành vi của tôi đang làm tổn thương chính tôi và người khác. Tổn thương tuổi thơthể không phải là lỗi của tôi, nhưng hành trình chữa lành chắc chắntrách nhiệm của tôi. Những người thân, người bạn đã làm hết sức mà họ có trong kiếp này rồi. Tôi vỡ òa quỳ trước Đức Thế Tôn như cách Milarepa đầu hàng hoàn toàn trước Marpa và Giáo pháp. Hóa ra cái đầu óc phàm phu đầy thương tổn của tôi không thể tự tìm ra lối thoát nếu không nương tựa vào Chân lý tối thượng.
Dòng truyền thừa Mahamudra (Đại Thủ Ấn) không bắt tôi phải tiêu diệt cảm xúc. Lần đầu tiên, tôi nhìn thẳng vào bản chất của giận dữ, ghen tị, tổn thương... tất cả đều là năng lượng của tâm thức. Khi tôi không đồng hóa mình với chúng, năng lượng độc hại sẽ tự động lắng dịu và chuyển hóa thành ánh sáng của tuệ giác.
Milarepa đã dùng chính chất độc của cuộc đời để làm phương thuốc trị bệnh, chuyển hóa ngọn lửa oán hận thời trẻ thành nguồn năng lượng thiền định vô song.
Chi tiết đẹp đẽ nhất trong cuộc đời Milarepa là sau khi đạt được Phật quả, Ngài không còn mang lòng thù hận với bất kỳ ai. Người dì từng đối xử tàn nhẫn và đứa em gái Peta đi ăn xin tội nghiệp đều trở thành đệ tử của Ngài. Ngài chiến thắng bằng cách cảm hóa họ bằng tình yêu thương thuần khiết. Ngay cả cái chết ở tuổi 84 của Ngài, khi thản nhiên uống chén váng sữa độc của vị Geshe Tsakpuwa vì biết duyên trần đã mãn, cũng là một bài học về sự tự tại tuyệt đối. Ngài không oán hận kẻ đầu độc mình, chỉ thấy thương xót cho nghiệp quả mà người đó phải gánh chịu.
Tôi, người từng nhìn thế giới qua lăng kính méo mó và đau đớn, nay đã tìm thấy một bến neo đậu vững chắc nơi giáo lý Vô ngã và tấm gương của Ngài. Mỗi khi những dấu vết của chứng bệnh xưa cũ muốn trỗi dậy, mỗi khi bản ngã muốn gào thét đòi quyền lợi hoặc muốn rơi vào trạng thái nạn nhân, tôi lại tự nhủ: "Milarepa đã xây bốn tòa tháp bằng tay không. Ngài đã ăn tầm ma cho đến khi xương lộ ra. Còn nỗi đau này của mình là gì so với sự tịnh hóa vĩ đại của Ngài và con đường mà biết bao bậc giác đã đi qua?"
Ngài từng nói rằng sự hiểu lầm lớn nhất về Ngài là xem Ngài như một vị thần thánh bẩm sinh. Ngài vốn là một con người bình thường, một kẻ từng phạm tội ác, nhưng đã thức tỉnh trí tuệlòng từ bi nhờ thực hành thiền định kiên trì. Ngài làm được, và Ngài để lại một lời mời gọi thiết tha cho tất cả chúng ta: "Vâng, bạn cũng có thể làm được."
Xin nghiêng mình đảnh lễ Đức Milarepa, bậc thầy vĩ đại của những khúc ca tự do. Cảm ơn Ngài đã đi qua một cuộc đời đầy bão giông để vạch ra một lối mòn trên núi tuyết, cho những hành giả mang đầy thương tổn như chúng con hôm nay có một bản đồ để trở về nhà. Ngôi nhà với bản tâm thanh tịnh, vô ngã và ngập tràn tình yêu thương.
Tài liệu tham khảo:
Lekshey Ling Institute. (n.d.). Milarepa: Mila Zhepa Dorje (1052–1135). Kagyu Golden Rosary.
Lobsang P. Lhalungpa:
Tsangnyön Heruka. (1977). The Life of Milarepa (L. P. Lhalungpa, Trans.). Shambhala Publications.