Thư Viện Hoa Sen

Động Yangleshö Linh Thiêng

ĐỘNG YANGLESHÖ LINH THIÊNG
Orgyen Tobgyal Rinpoche giảng tại Pharping, Nepal ngày 10/10/2025
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

Chiều ngày 10 tháng 10 năm 2025, Orgyen Tobgyal Rinpoche đến Động Asura ở Nepal để [tham dự] một Pháp hội Đại Thành Tựu (Drubchen) khác. Khi đến động, Ngài nói với một nhóm nhỏ các tu sĩ đi cùng Ngài về sự linh thiêng của địa điểm mà họ sắp ở lại trong một tuần tiếp theo, nằm trên cao phía trên thung lũng Pharping. Với bất kỳ ai dự định viếng thăm thánh địa này, đọc những điều Rinpoche đã nói là điều đáng làm.

blank

Tôi cho rằng tất cả các bạn tập hợp về đây hôm nay đều có niềm tin và lòng sùng mộ với Guru Rinpoche. Tôi không chắc liệu đó có phải là sự tin tưởng hoàn toàn, sự tin tưởng trọn vẹn hay không, nhưng ít nhất, các bạn có chút sùng mộ nào đó với Ngài. Vì vậy, tôi nghĩ rằng có lẽ sẽ có chút lợi lạc nếu tôi nói đôi điều về Guru Rinpoche và thánh địa Yangleshö này.

Trong kiếp này, kiếp hiện tại của chúng ta, người ta nói rằng một nghìn lẻ hai Phật sẽ xuất hiệnđạt được trạng thái giác ngộ. Ai đã nói vậy? Đó chính là Phật Thích Ca Mâu Ni, vị mà trong Kinh Hiền Kiếp, đã thuật lại danh hiệu của tất cả những vị Phật này, cha mẹ của chư vị là ai, chư vị thọ Giáo Pháp từ đạo sư nào và chư vị trụ thế bao lâu. Trong một nghìn lẻ hai vị Phật này, Phật Thích Ca Mâu Ni là vị thứ tư. Trước Ngài là Phật Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu NiCa Diếp. Chúng ta hiện đang sống trong thời mà giáo lý của vị Phật thứ tư, Phật Thích Ca Mâu Ni còn hiện diện trên thế giới của chúng ta.

Như Patrul Rinpoche từng nói, toàn bộ giáo lý của Đức Phật có thể được tóm tắt trong bốn dòng này:

‘Không phạm một ác hạnh nào,

Trưởng dưỡng thiện hạnh dồi dào,

Hoàn toàn điều phục tâm mình –

Đấy là giáo lý chư Phật’.

Bốn dòng này tóm lược toàn bộ giáo lý của Đức Phật. Miễn là có một người vẫn có thể giải thích những dòng này, ‘Giáo Pháp của sự giải thích’ vẫn có thể được cho là còn hiện diện trên thế giới chúng ta. Về cơ bản, điều này nghĩa là chúng ta cần từ bỏ hành động tiêu cực và làm những hành động tích cực. Nếu chúng ta làm những hành động tích cực, chúng tathể đạt giác ngộ hoàn hảo. Mặt khác, nếu chúng ta phạm phải những hành động tiêu cực, kết quả sẽ là tái sinh trong ba cõi thấp hơn; ở đó, chúng ta sẽ chẳng thể có được tái sinh cao hơn hay đi theo con đường dẫn đến giải thoát. Nếu có ai đó có thể quán chiếu bốn dòng này, ‘Giáo Pháp của sự chứng ngộ’ cũng được cho là còn hiện diện.

Hai khía cạnh này, ‘Giáo Pháp của sự giải thích’ (tức các giáo lý) và ‘Giáo Pháp của sự chứng ngộ’ (tức sự thực hành) vẫn còn hiện diện rất mạnh mẽ trên thế giới của chúng ta hiện nay. Đó là ý nghĩa khi chúng ta nói rằng giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn hiện diện trên thế giới của chúng ta. Tuy nhiên, ngày nay, thật khó để tìm ra chư vị vô cùng uyên bácchứng ngộ, những vị mà giống như chư đạo sư vĩ đại trong quá khứẤn Độ, Tây Tạng và nhiều nơi khác, có thể thi triển thần thông, sở hữu kiến thức vô ngại về mọi điều có thể biết và đọc được tâm của kẻ khác. Thật khó để gặp được những vị như vậy trong thế giới chúng ta hiện nay. Về cơ bản, chúng ta sinh ra vào thời mà giáo lý của Đức Phật chỉ vừa vặn còn duy trì. Thế nhưng, đây vẫn là dấu hiệu cho thấy chúng tacông đức lớn.

Chúng ta đều có công đức to lớn khi sinh ra ở một đất nước nơi giáo lý của Đức Phật vẫn còn hiện diện mạnh mẽ, chẳng hạn Tây Tạng, Bhutan, Sikkim và thậm chí là ở đây, tại Nepal, nơi Giáo Pháp vẫn khá phát triển. Đó là phước báu lớn lao của chúng ta. Đó thực sự là hoàn cảnh xuất sắc, điều được cho là kết quả của công đức lớn. Ai đã nói vậy? Chính bậc thầy của chúng ta, Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tôi cũng chẳng cần phải nói quá nhiều về Phật Thích Ca Mâu Ni bởi mọi người đều biết Ngài là ai. Thực sự, không chỉ Phật tử mới biết về Phật Thích Ca Mâu Nimôn đồ của các tôn giáo khác, mặc dù họ có vị thầy hay thần của bản thân mà họ đi theo, họ cũng biết đến và có lòng kính trọng lớn lao dành cho Đức Phật.

Đức Phật đã trụ thế tám mươi năm cho đến khi Ngài nhập Niết Bàn tại Câu Thi Na. Khi ấy, Ngài tiên đoán với đệ tử A Nan rằng:

Này A Nan, đừng chán nản. Mười hai năm sau khi Ta nhập Niết Bàn,

Một vị thậm chí còn vĩ đại hơn Ta sẽ sinh ra ở Hồ Danakosha.

Đây là tiên tri mà Ngài đã ban và vì lý do này, Guru Rinpoche được cho là thậm chí còn vĩ đại hơn chính Đức Phậtít nhất, đấy là điều mà hành giả Nyingma chúng ta vẫn nói. Và chúng ta có những lời giải thích xác thực để nói vậy. Một lý dosự thật rằng Đức Phật đã không thể điều phục một số chúng sinh nhất định; những chúng sinh này chỉ có thể được điều phục bằng giáo lý của Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật và vị đã chuyển bánh xe giáo lý Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật chính là Guru Rinpoche. Ngài sẽ chẳng thể làm vậy nếu sinh ra theo cách thức thông thường, từ tử cung; vì thế, Ngài đã chào đời diệu kỳ ở tâm của một bông hoa sen trên Hồ Danakosha.

Có những miêu tả khác nhau về sự chào đời của Ngài: một số nói rằng Guru Rinpoche sinh ra tám năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, số khác cho rằng hai mươi tư năm. Có vài phiên bản khác nhau. Bởi chúng tahành giả Nyingma, chúng ta tuân theo các Kathang (tiểu sử của Guru Rinpoche) như là căn cứ kinh văn của mình. Chúng tuyên bố Đức Phật nói rằng:

Mười trừ hai năm sau,

Trên đảo của Hồ Danakosha,

Một vị vĩ đại hơn Ta sẽ xuất hiện.

Điều này nghĩa là Guru Rinpoche sinh ra tám năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Dĩ nhiên, chúng ta chấp nhận các Kathang là nguồn xác thực.

Hồ sữa phía Tây Nam của Danakosha tọa lạc ở Pakistan ngày nay và chính ở đó, trên bông hoa sen bung nở, Guru Rinpoche đã sinh ra một cách diệu kỳ. Ngài không sinh ra từ cha mẹ, mà tự sinh, một cách tức thì, giống như một tia chớp. Vô Lượng Quang, vị trụ ở Tịnh độ Cực Lạc, đã hóa hiện từ tim một chủng tự Hrih đỏ của Bồ đề tâm, thứ giáng hạ xuống nhụy của bông sen đỏ bung nở với cánh và lá lớn, nổi trên mặt nước của Hồ Danakosha. Guru Rinpoche đã sinh ra khi chủng tự này biến thành Đạo Sư Hồ Sinh.

Có thể tìm thấy nhiều miêu tả về cuộc đời Guru Rinpoche trong cả truyền thống Kama và Terma. Ví dụ, trong các Terma, chính Guru Rinpoche đã nói rằng vì hành giả tương lai với thệ nguyện (Samaya) thanh tịnh, Ngài đã viết và chôn giấu không ít hơn 10900 tiểu sử[1].

Những tiểu sử này miêu tả cuộc đời của một vị Phật; chúng ta không thể nói với bất kỳ sự chắc chắn tuyệt đối nào rằng đây chính xác là điều mà vị Phật đó đã làm và đấy là điều chư vị đã không làm. Ví dụ, nếu bạn xem xét tiểu sử của một số đạo sư vĩ đại trong quá khứ, chư vị đã có thể hiển bày trong hai mươi lăm hóa hiện khác nhau cùng lúc để giúp đỡ hữu tình chúng sinh. Lấy ví dụ, Chandraprabha Kumara, đời trước của Tôn giả Gampopa là một Bồ Tát, đã xuất hiện trước một vài người là đang ban giáo lý, với số khác là đang thực hành thiền định và với một số là đang làm chuyện gì đó hoàn toàn khác. Vì vậy, người ta có thể thấy vị đạoxuất hiện đồng thời theo hai mươi hay ba mươi cách khác nhau, làm những chuyện khác nhau.

Dĩ nhiên, những vị với nghiệp thanh tịnh có thể nhìn nhận điều này; nhưng ngay cả những vị có nghiệp bất tịnh cũng có thể. Chúng đều là những nhận thức chuẩn xác, không lừa dối với từng người. Vì vậy, chúng ta không thể nói rằng chỉ có một phiên bản là đúng còn tất cả những phiên bản khác đều sai. Thực sự thì chúng đều đúng.

Khi xem xét các tiểu sử của Guru Rinpoche, hiện thân hoạt động giác ngộ của tất cả chư Phật và đọc về tất cả những hoạt động khác nhau của Ngài, chúng ta không thể nói rằng, “Đây là phiên bản đúng, phiên bản kia thì sai”. Chúng ta không thể phân biệt như vậy.

Điều mà chúng ta có thể nói một cách chắc chắn là Ngài là đạo sư đã đạt đến trạng thái giác ngộ bằng cách đi theo con đường Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật. Để đạt giác ngộ viên mãn bằng cách đi theo con đường Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật, người ta cần hoàn thiện năm con đường và mười địa. Theo thuật ngữ Kim Cương thừa, chúng tương ứng với bốn cấp độ của một Trì Minh: Trì Minh chín muồi hoàn toàn, Trì Minh làm chủ mạng sống, Trì Minh Đại Ấn và Trì Minh tự nhiên thành tựu. Nếu bạn không trải qua bốn cấp độ này, bạn không thể đạt giác ngộ nhờ con đường Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật.

Điều này đưa chúng ta đến điểm chính yếu mà tôi muốn nói đến hôm nay, tức thánh địa Yangleshö này. Nếu bạn tìm hiểu các nguồn bản văn khác nhau, một số nói rằng Yangleshö nằm ở biên giới giữa Ấn Độ và Nepal, trong khi số khác nói rằng nó nằm giữa Nepal và Tây Tạng. Dù thế nào, điều mà tất cả các bản văn đều đồng thuận là địa điểm nơi Guru Rinpoche đạt trạng thái của Trì Minh Đại Ấn và giác ngộ là Yangleshö ở Nepal. Không nghi ngờ gì về điều này – chúng đều cho rằng sự kiện này xảy ra tại chính nơi này. Mỗi miêu tả về cuộc đời Ngài, dù từ truyền thống Terma hay Kama, đều đồng ý như vậy.

Đây cũng là điều được tuyên bố trong các bản văn được tìm thấy trong hang động Đôn Hoàng, thuộc tỉnh Cam Túc, phía Tây Trung Quốc. Những bản văn này đã hơn nghìn năm tuổi và tuyên bố rõ ràng rằng Guru Rinpoche đã thành tựu thực hành Phổ Ba Kim Cươngđạt được cấp độ Đại Ấn của sự chứng ngộ Trì Minh, trạng thái giác ngộ hoàn toàn, tại động Yangleshö linh thiêng. Các bản văn được tìm thấy trong những hang động này được giữ gìn hoàn hảo bởi khí hậu sa mạc và không có độ ẩm. Chúng không bị thay đổi theo bất kỳ cách nào trong hơn nghìn năm và hoàn toàn chân chính. Một số trong đó đã đến được các bảo tàng và thư viện ở Pháp cũng như nhiều quốc gia khác, nơi chúng được giữ gìn và chuyển dịch.

Điểm quan trọng ở đây là tất cả những nguồn này, mỗi một nguồn, đều tuyên bố rõ ràng rằng địa điểm nơi Guru Rinpoche đạt cấp độ Trì Minh Đại Ấn và giác ngộ chính là nơi chúng ta đang ở hiện nay, Yangleshö.

Địa điểm nơi Đức Phật đạt giác ngộBồ Đề Đạo TràngẤn Độ và địa điểm linh thiêng này đã bị lãng quên trong khoảng 800 năm. Chúng ta không biết nó ở đâu cho đến khi thực dân Anh khai quật vùng đó và phát hiện ra. Hóa ra đó là trụ xứ chân chính về sự giác ngộ của Đức Phậtchúng ta ngày nay có thể viếng thăm. Ngược lại, địa điểm nơi Guru Rinpoche đạt giác ngộ, vẫn luôn được biết đến và giữ gìn trong truyền thống chúng ta. Mọi bản văn đều đồng ý điểm này và kể lại câu chuyện về cách mà Ngài đạt giác ngộ ở đây.

Khi Guru Rinpoche bắt đầu thực hành ở Yangleshö, Ngài gặp nhiều chướng ngại. Hạn hán, đói kém và nạn đói xảy ra trong nhiều năm, khiến cho rất nhiều người chết. Guru Rinpoche nhận ra rõ ràng rằng Ngài cần thực hành Phổ Ba Kim Cương để xua tan những chướng ngại này.

Guru Rinpoche đã phái nhiều sứ giả đến trụ xứ Nalanda vinh quang để có được những giáo lý Phổ Ba Kim Cương, bởi chư vị đang thực hành vị Tôn này ở đó nhằm đẩy lùi chướng ngại. Đáp lại, chư vị đã gửi cho Ngài các quyển Mật điển Phổ Ba Kim Cương, chẳng hạn Mật điển Vidyottama (‘100000 Phần Kiến Thức Vô Song’). Một số nguồn nói rằng Ngài đã nhận được chỉ một quyển bản văn; số khác cho rằng gánh kinh văn được mang bởi một người và cũng có những người cho rằng chúng được mang bởi sáu người. Dù thế nào, tại Yangleshö, sau đó, Ngài đã thực hành Phổ Ba Kim Cương, vị Tôn Phổ Ba thành tựuChân ngônom vajra kili kilaya hung p’et. Các chỉ dẫn về cách thực hành giai đoạn sinh khởihoàn thiện của vị Tôn, giáo lý gốc, được tìm thấy trong Mật điển Vidyottama, mà tinh túyChân ngôn gốc chúng ta tụng mỗi ngày. Đây là bản văn Ấn Độ được gửi từ trụ xứ Nalanda vinh quang đến cho Guru Rinpoche khi Ngài ở Nepal.

Ở đây, một lần nữa lại có những phiên bản khác nhau của câu chuyện này. Theo một số miêu tả, Guru Rinpoche đã đích thân đến Nalanda cùng với hai vị đồng hành để thỉnh cầu các Mật điển từ Tôn giả Prabhahasti, sau đó trở về Nepal để thực hành. Một số nguồn nói rằng Ngài đã thực hành trong bảy ngày, ba tháng hoặc thậm chí là ba năm. Dù thế nào, Ngài đã thực hành Phổ Ba Kim Cương và kết quả là, Ngài trở nên bất khả phân với Bổn tôn Phổ Ba Kim Cương. Do đó, Ngài đã soạn nhiều nghi quỹ mà trong đó Guru Rinpoche và Phổ Ba Kim Cương bất khả phân.

Thực sự, Guru Rinpoche ban đầu cần thực hành Yangdak Heruka để đạt cấp độ Trì Minh Đại Ấn, nhưng để Ngài có thể thực hành điều này một cách đúng đắn, trước hết Ngài phải xua tan chướng ngại nhờ thực hành Phổ Ba Kim Cương. Đấy là lý do bạn tìm thấy nhiều nghi quỹ kết hợp Yangdak và Phổ Ba Kim Cương.

Dẫu sao, Ngài đã thực hành Phổ Ba Kim Cương tại Yangleshö và trói buộc bằng lời thề bốn thần nữ Bhumipati và những nữ bảo hộ khác, điều phục lần lượt từng vị trong mười hai nữ bảo hộ Phổ Ba này. Theo các bản văn Đôn Hoàng, tối nọ, bốn cô gái đến hang động của Ngài, dự định gây chướng ngại cho Ngài. Nhờ Dza Hum Bam Ho và ấn móc câu cùng các ấn khác, Guru Rinpoche đã triệu chư vị vào trong mũ và giam ở đó.

Khi Ngài mở mũ vào sáng hôm sau, bốn cô gái vẫn ở đó. Ngài hỏi họ là ai; họ đáp rằng họ là nữ bảo vệ của Phổ Ba Kim Cương. Đó là bốn Shvanama, bốn Mahadevi và bốn Bhumipati – mười hai nữ bảo vệ của Phổ Ba. Lần lượt từng vị, Ngài trói buộc bằng lời thề cũng như bốn anh em Purusa và các vị bảo vệ khác của Phổ Ba Kim Cương, thiết lập họ là chư vị bảo vệ của Phổ Ba. Đây là địa điểm linh thiêng nơi chuyện này đã xảy ra.

Đó là nơi mà chín đỉnh kim cương nhô lên, điều khiến cho nó là một địa điểm cực kỳ linh thiêng. Tính từ đây hướng lên trên, có chín chày kim cương vươn lên. Ít nhất, đấy là điều chư đạo sư thường nói – cá nhân tôi không biết rõ. Người ta cũng nói rằng “con đường của mặt trờimặt trăng chia tách, điều khiến nó trở thành địa điểm thực hành thù thắng”; điều này nghĩa là mặt trờimặt trăng mọc lên về phía Đông và không có chướng ngại nào ngăn cản tiến trình của chúng cho đến khi chúng lặn về phía Tây. Dòng chảy của con sông ở đây chảy liên tục và họ nói rằng địa điểm này nằm trên con đường không gián đoạn từ Bồ Đề Đạo Tràng đến Lhasa. Tức là dễ dàng đi từ đây đến Bồ Đề Đạo Tràng cũng như đến Tây Tạng. Điều này nghĩa là con đường cũng không bị gián đoạn hay cản trở.

Điều chắc chắn là Guru Rinpoche đã thánh hóa địa điểm linh thiêng này bằng sức mạnh của vị Tôn, Chân ngôn, thủ ấn và định, chuyển hóa nó thành ba đàn tràng của Phổ Ba Kim Cương[2]. Khi một địa điểm được thánh hóa theo cách này, gia trì không biến mất, nó không phân tán. Nó vẫn ở đó. Chúng ta không thể thấy điều này bởi nghiệp bất tịnh của bản thân và những che chướng dày đặc che lấp chúng ta. Nhưng nếu những che chướng này được tịnh hóa dù chỉ một phần, chúng ta sẽ có thể nghe được âm thanh của gió, nước và mọi yếu tố khác là âm thanh tự nhiên của Chân ngôn Phổ Ba Kim Cương. Tương tự, chúng ta sẽ thấy trong toàn bộ núi non, đá và cây xung quanh Chân ngônhình tướng của chư Tôn tự nhiên xuất hiện ở đó. Trong môi trường như vậy, khi mà chúng ta nhìn nhận mọi thứ một cách thanh tịnh, tâm chúng ta sẽ nghỉ ngơi trong trạng thái tự nhiên, thoát khỏi mọi tạo tác quan niệmtrở thành một với Phổ Ba Kim Cương. Những nơi như vậy thực sự vô cùng linh thiêng.

Ngày nay, tất cả những gì chúng ta có thể làm là đến những nơi như vậy và thọ nhận gia trì. Chúng ta chẳng thể thực sự tự mình gia trì cho một địa điểm. Ví dụ, một đạo sư như tôi chẳng thể làm điều đó. Để làm được vậy, bạn cần có sự chứng ngộ cao. Do đó, tất cả những gì chúng ta có thể làm là thọ gia trì từ những nơi này và đấy là lý do chúng ta đi hành hương. Trong quá khứ, những vị vĩ đại như Guru Rinpoche hay Phương Trượng Vô Cấu Hữu vĩ đại có thể gia trì cho một địa điểm đơn thuần bằng cách thiền định về sự thanh tịnh nguyên sơ cố hữu của nó. Đấy là cách chư vị có thể thánh hóa nó. Không may thay, chúng ta chẳng hề gần cấp độ đó và đó là lý do mà ngày nay, tất cả những gì chúng ta có thể làm là thọ gia trì từ những thánh địa vốn đã được thánh hóa.

Pharping’ là tên gọi của nơi này và nhiều người cho rằng ‘Yangleshö’, địa điểm thành tựu thực sự, là hang động bên dưới, nơi Tu viện của Chatral Rinpoche tọa lạc. Chư vị Hindu gọi nó là Shesh Narayan Pokhari và xem đây là địa điểm linh thiêng của một Naga. Nhưng cách thức chúng ta xác định địa điểm dựa trên “Cây Như Ý[3]”, tiểu sử của Guru Rinpoche mà Chokgyur Lingpa đã phát lộ. Nó tuyên bố rằng Ngài đạt thành tựu về Đấng Đại Vinh, Yangdak Heruka, trong hang động phía trên:

Trong hang động thực hành phía trên của Yangleshö,

Để đạt được thành tựu về Đại Ấn,

Ta đã tiến hành thực hành Yangdak Heruka vinh quang.

Điều này nghĩa là có sự phân biệt giữa một hang động thượng và một hang động hạ. Trong hang động thượng, Ngài đã “tiến hành thực hành Yangdak Heruka vinh quang”, đấy là hang động đằng sau tôi. Theo Chokling Rinpoche, khi Ngài đến đây, Ngài thấy một động lớn thậm chí còn cao hơn ở đây. Dù thế nào, hang động thượng này, nơi chúng ta hiện đang ở, là nơi mà chúng ta xác định là nơi Guru Rinpoche đạt cấp độ Trì Minh Đại Ấn. Tất cả những người Nepal gọi nó là Động Asura, tức là động bí mật.

Đức Karmapa thứ Mười sáu – Rangjung Rigpe Dorje đã đến đây và Dilgo Khyentse Rinpoche cũng đến đây nhiều lần. Ngài thường không ngồi trong hang động, Ngài chỉ đi vào trong một lúc rồi ngồi bên ngoài, trước lối vào. Lý do là bởi bên trong hang, với tất cả những đèn bơ được đốt và hương được thắp, Ngài cảm thấy không khỏe. Vì vậy, Ngài thường ngồi bên ngoài, nơi Ngài có thể tận hưởng không khí trong lành và ngắm nhìn bầu trời. Tôi cũng đến đây nhiều lần – chúng tôi từng đặt Mandala bên trong hang, đóng lại bằng màn cửa rồi ngồi bên ngoài, với tất cả tu sĩ, trước lối vào. Chúng tôi đã cử hành nhiều Drubchen ở đây. Sau này, khi họ xây dựng ngôi chùa, chúng tôi bắt đầu cử hành Drubchen trong đó.

Lần đầu tiên chúng tôi đến đây để thực hành Drubchen, khi đến phần thọ thành tựu (Siddhi) liên quan đến bốn hoạt động, chúng tôi đã sắp xếp các Torma thành tựu trên Mandala. Những Torma này, đặc biệt là Torma tức taităng ích, bắt đầu chảy ra nhiều Dudtsi, nó trào ra từ các đĩa. Tôi đã mang Dudtsi này đến cho Dilgo Khyentse Rinpoche, vị đang ở Bhutan vào thời điểm Drubchen diễn ra, và yêu cầu Ngài xác định xem nó có chân chính hay không khi Ngài trở về Nepal. Ngài nói có, nó dứt khoát là vậy. Điều này cho thấy địa điểm này đầy ân phước và linh thiêng biết nhường nào.

Các bạn đều đến đây để tham dự Drubchen mà chúng ta sẽ thực hành lần này; vì thế, các bạn đều vô cùng may mắn. Khi đến một thánh địa như vậy, chúng ta cần thọ gia trì của nó, và để điều đó xảy ra, chúng ta cần cầu nguyện, cần khơi dậy. Nếu không, sẽ chẳng có gì xảy ra. Nếu bạn duy trì trong kiểu trạng thái ngây ngô và cứ ngồi quanh đây cả ngày, bạn chẳng khác với lũ chim bay liệng quanh đây và chẳng có cơ hội hiện thực hóa bất kỳ thứ gì như nhận thức thanh tịnh. Nếu bạn như thế, nhận thức bất tịnh của bạn sẽ cứ duy trì bất tịnh mà thôi. Bạn sẽ không thọ nhận bất kỳ gia trìthành tựu nào của địa điểm này, giống như chim vẫn là chim. Con người chúng ta có phẩm tính đặc biệt: chúng ta biết cách cầu nguyện, chúng ta biết cách phân biệt giữa điều cần làm và điều cần bỏ. Nếu chúng ta cầu nguyện đến Guru Rinpoche, không chỉ bằng từ ngữ suông, mà từ tận đáy lòng, với sự tin tưởng hoàn toàn, chúng ta chẳng thể nào không thọ gia trì của Ngài. Một trong những phẩm tính của Đạo Sư Liên Hoa Sinh là Ngài sẽ không bao giờ phụ lòng chúng ta.

Vì thế, chúng ta sẽ ở đây trong bảy ngày để cử hành Drubchen. Dù hoan hỷ ở đây hay không, bạn đã ở đây rồi, vì vậy, hãy tận dụng nó! Hãy thực hành mà không để tâm hay mắt xao lãng và bất cứ khi nào được giải lao, bạn cần thiền định. Hãy thiền định về Phổ Ba Kim Cương, hãy trì tụng Chân ngôn Phổ Ba Kim Cương và hãy để bất cứ điều gì khởi lên trong tâm bạn giải thoát vào khoảnh khắc nó khởi lên. Tôi nói điều này, nhưng hầu hết các bạn ở đây chẳng hiểu ý tôi đang nói đến. Vì vậy, hãy cứ đơn giản cầu nguyện – hãy cầu nguyện đến Guru Rinpoche và Phổ Ba Kim Cương bất khả phân. Chúng ta cầu nguyện để đạt được hai thành tựu, thông thường và thù thắng, và để tiêu trừ chướng ngại. Nếu bạn làm thế, bạn sẽ được lợi lớn từ việc ở đây.

Về phần mình, tôi cho rằng tôi có nhận thức khá bất tịnh. Lần đầu tiên tôi đến đây là năm 1958, với cha tôi và đã quay trở lại kể từ đó. Dân chúng thị trấn liên tục tăng thêm từ đó và ngày càng nhiều tòa nhà mọc lên như nấm. Thực sự, gia trì của một thánh địa thông thường cần tăng trưởng, nhưng tôi có cảm giác rằng điều ngược lại đang xảy ra.

Lần đầu tiên tôi đến đây, không có tòa nhà nào cả. Chỉ có những dấu chân, chẳng gì khác. Địa điểm thực sự ngập tràn gia trì. Tôi đã đến hang động và thực hành cùng cha tôi – chúng tôi cử hành Tukdrub Trinle Nyingpo, cúng dường Tsok và rất nhiều cam lồ chảy ra từ động. Bây giờ, chúng ta chẳng thấy một giọt cam lồ nào. Nhiều người đến đây nhưng tôi cho rằng không ít người trong số họ có thệ nguyện bất tịnh. Dĩ nhiên, một số đến đây đầy lòng sùng mộ; nhưng tôi chắc chắn rằng những người khác đến chỉ vì tò mò. Vì vậy, bởi những hoàn cảnh này, tôi cho rằng gia trì đang suy giảm.

Tất cả chúng ta đã tập hợp về đây vào dịp này; những kẻ có lòng sùng mộ chân chính với Guru Rinpoche cần cầu nguyện đến Ngài, bởi chính Ngài từng nói rằng:

Với tất cả nam và nữ có niềm tin với Ta, Ta – Liên Hoa Sinh

Chẳng bao giờ rời xa – Ta ngủ bên cửa nhà họ.

Với Ta, chẳng có thứ gì như cái chết,

Trước mỗi kẻ có niềm tin, có một Liên Hoa Sinh.

Bạn sẽ thọ gia trì của Ngài, chắc chắn vậy! Vì thế, chúng ta đều cần cầu nguyện đến Guru Rinpoche. Có vài điểm bí mật quan trọng mà tôi cũng cần nói với các bạn, nhưng tôi sẽ không làm vậy bởi tôi cho rằng các bạn sẽ không hiểu chúng. Hơn thế nữa, nhiều người ngồi đây với máy ghi âm sẵn sàng và bất cứ điều gì tôi nói chắc chắn sẽ lan tỏa khắp nơi. Do đó, đấy là tất cả những gì tôi muốn nói hôm nay.

Nguồn Anh ngữ: https://all-otr.org/pilgrimage/83-the-sacred-cave-of-yangleshoe.

Gyurme Avertin chuyển dịch Tạng-Anh; Phillip Philippou hiệu đính.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



[1] Pema Kathang do Orgyen Lingpa phát lộ có đoạn:

‘Vì những người tương lai với thệ nguyện thanh tịnh,

Ta đã viết và chôn giấu mười nghìn chín trăm tiểu sử’.

[2] Đàn tràng của vị Tôn chính – Kim Cương Đồng Tử hợp nhất với Dhatvishvari; đàn tràng của mười vị phẫn nộ; và đàn tràng của những thắng tử.