Thư Viện Hoa Sen

Tiểu Sử Vắn Tắt Shechen Rabjam Rinpoche

TIỂU SỬ VẮN TẮT SHECHEN RABJAM RINPOCHE
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

blankĐấng bảo hộ đàn tràng Kyabje Shechen Rabjam Rinpoche sinh ngày 25 tháng 12 năm 1967 ở Chandigarh, Ấn Độ, trong năm Hỏa Mùi của chu kỳ sáu mươi năm thứ mười sáu theo lịch Tây Tạng. Mẹ của Ngài là Bà Chime Wangmo, con gái của Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche – Jigme Khyentse Ozer.

Trước khi Ngài chào đời, Dilgo Khyentse Rinpoche đã trao cho con gái những chỉ dẫn rõ ràng về cách chăm sóc ngay sau khi đứa bé chào đời. Khi mới một tuần tuổi, cậu bé được dâng lên Kyabje Khyentse Rinpoche, vị bày tỏ niềm hoan hỷ lớn lao, nói rằng, “Cậu bé thật phi phàm”. Ngài đã tụng Chân ngôn Văn Thù, nhẹ nhàng thổi lên mặt cậu bé nhiều lần và ban danh hiệu Tashi Tsepel.

Lần nọ, trong một cuộc trò chuyện, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche đã hỏi Đức Karmapa thứ 16 liệu vị tái sinh của Rabjam Rinpoche đời trước và các đạo sư vĩ đại khác từ Shechen đã chào đời hay chư vị vẫn đang ở các cõi Phật. Đức Karmapa đáp lại một cách bông đùa rằng, “Ngài không cần phải tìm kiếm chư vị; chư vị sẽ tìm Ngài!”.

Xác nhận điều này, vào năm 1968, năm Thổ Thân, trong chuyến hành hương đến Namo Buddha ở Nepal, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche ở lại Bảo tháp Boudha và có một giấc mơ sâu xa. Trong đó, Ngài thấy ba vị đạo sư quan trọng nhất của Shechen: Rabjam Rinpoche, Kongtrul Rinpoche và Gyaltsab Rinpoche, ba vị đang hoan hỷ ngồi cùng nhau. Quá đỗi sung sướng và sùng mộ như thể đang gặp cả những vị còn sống và đã khuất cùng lúc, Ngài nhớ lại rằng Rabjam Rinpoche thứ 6 và những đạo sư Shechen khác đã chịu nhiều gian khổ ra sao trong thời kỳ nhiễu nhương ở Tây Tạng. Khi hỏi chư vị về những gian khổ mà chư vị từng trải qua, tất cả đều nhìn Ngài với vẻ bi mẫn và trao nhiều tiên tri liên quan đến tương lai. Khi Rinpoche tỉnh giấc, Ngài ngập tràn cảm xúc vui – buồn lẫn lộn trong nhiều ngày và đã ghi lại những trải nghiệm đặc biệt này trong các trước tác.

Vào ngày 3 tháng 2 năm 1970 (năm Kim Tuất), Đức Karmapa thứ 16 đã ban tiên tri sau đây:

Từ Pháp giới như đại dương, vô số tia sáng phóng ra điều phục chúng sinh, hoàn thành mọi mong ước. Trong sự hiển bày của chói ngời vô biên qua trăm cõi, hóa thân thù thắng, vị nhiếp chính của Đức Liên Hoa là Khyentse tuyệt vời và con gái cao quý của Ngài là Chime Dronkar. Từ nền tảng của giác tính nguyên sơ, vị tái sinh này trong dòng các tái sinh Shechen Rabjam thù thắng sẽ nâng đỡ giáo lý bí mật và gánh trọng trách giữ gìntruyền bá chúng rộng khắp. Điều này hoàn mãn tầm nhìn xua tan mê lầm.

Theo tiên tri kim cương không sai lệch này, Đức Karmapa, với trí tuệ không nhầm lẫn, đã công nhận Ngài là vị tái sinh của Shechen Rabjam Rinpoche thứ 6, cỗ xe vĩ đại của truyền thống Cựu Dịch (Nyingma) ở Dokham. Ngài được tấn phong tại Tu viện Rumtek ở Sikkim và được trao danh hiệu Karma Gyurme Shedrub Chokyi Senge Mijig Gocha Trinley Kunkhyab.

Những vị thầy đầu tiên của Shechen Rabjam Rinpoche thứ 7 là các tu sĩ từ Tu viện Shechen, chẳng hạn Atshe Lama, từ vị này, Ngài đã học đọc, viết và các nghệ thuật truyền thống. Tuy nhiên, Rabjam Rinpoche chủ yếu nương tựa Bổn Sư căn bảntừ ái nhất của Ngài, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche – Gyurme Tekchok Tenpe Gyaltsen, thọ nhận các chỉ dẫn về ngữ pháp, thơ ca và giáo lý mở rộng về các luận giải cho Kho Tàng Phẩm Tính Quý Báu (Yonten Dzod) do Sokpo Tendar và Khenpo Yonga soạn nhiều lần. Ngài cũng thọ nhận các bình giảng chi tiết về Mật điển Guhyagarbha dựa trên Luận Giải Tiêu Trừ Bóng Tối Mười Phương của Đức Longchenpa, Bắp Ngô Như Ý Về Ba Bộ Giới Luật và nhiều luận giải khác. Ngài thọ toàn bộ trao truyền về Damngak Dzod (Kho Tàng Chỉ Dẫn) ba lần, Rinchen Terdzod (Kho Tàng Terma Quý Báu) hai lần, truyền thống Kama dài (tức Nyingma Kama) hai lần cùng với vô số quán đỉnh, trao truyền và chỉ dẫn từ Năm Kho Tàng Vĩ Đại và các truyền thừa giáo lý khác nhau từ cả truyền thống cũ và mới. Ngài không bỏ lỡ bất kỳ giáo lý nào và thọ nhận mọi điều mà thầy của Ngài sở hữu giống như đổ đầy một chiếc bình.

Năm tám tuổi, Rinpoche đã thọ giới Sa Di; hai mươi tuổi, Ngài thọ giới Cụ Túc từ Trưởng Lão Hòa Thượng Kyabje Trulshik Rinpoche, ngọc báu vương miện của truyền thống Cựu Dịch và được trao Pháp hiệu Ngawang Chopal Gyatso. Ngài cũng thọ các giáo lýchỉ dẫn chỉ ra bản tính tâm từ Đức Karmapa thứ 16 – Rangjung Rigpe Dorje.

Rinpoche đã thọ vô số quán đỉnh, trao truyền và chỉ dẫn từ nhiều đạo sư bất bộ phái, bao gồm Đức Dalai Lama thứ 14 – Tenzin Gyatso, Sakya Dagchen Ngawang Kunga Gyaltsen, Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje, Drubwang Penor Rinpoche, Zhadeu Trulshik Rinpoche – Ngawang Chokyi Lodro, [Chogye] Trichen Rinpoche thứ 18 – Ngawang Khyenrab Gyatso, Khamtrul Rinpoche thứ 8 – Kalzang Dongyu Nyima, Taklung Tsetrul Rinpoche – Shedrub Nyinje Trinle Palzang, Lama Kalu Rinpoche – Karma Rangjung Kunkhyab, Dodrubchen Rinpoche – Tubten Trinle Palbar, Taklung Shabdrung Rinpoche – Tubten Changchub Chokyi Nyima, Dzongsar Khenpo Kunga Wangchuk, Gemang Khenpo Wanglo, Arik Khenpo Pema Tsewang và nhiều vị khác.

Rinpoche đã hoàn thành khóa nhập thất ba năm ba tháng miên mật tại Satsam Chorten, Paro, Bhutan; trong đó, Ngài thực hành kho tàng tâm (Gongter) được gia trì đặc biệt của Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche cùng với nhiều thực hành vị Tôn khác từ chư Tam Căn của truyền thống Cựu Dịch.

Ngài viếng thăm Tu viện Shechen ở Kham nhiều lần, hỗ trợ các nghi lễ thường xuyên của Tu viện cũng như các trung tâm nghiên cứuthực hành (Shedra và Drubdra) bằng cách cung cấp tài nguyên cần thiết. Ngài cũng thiết lập các cúng dường thường xuyên cho chư Tăng và trao cho chư vị lời khuyên, quán đỉnh, trao truyền và chỉ dẫn. Tại Tu viện Shechen ở Nepal, Ngài liên tục cung cấp cho chư Tăng đồ ăn, y phục, sự giáo dục và mọi nhu cầu tâm linh.

Đặc biệt, Rinpoche thiết lập các nghi lễ thường xuyên dựa trên truyền thống Orgyen Mindrolling và các nghi lễ dựa trên kho tàng tâm của Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche tại Tu viện Shechen chính yếu ở Kham.

Năm 1996, Ngài thành lập Trường Hội Họa Tây Tạng Tsering; năm 2001, Ngài thành lập Trung Tâm Nhập Thất Pema Oling ở Namo Buddha; năm 1997, Ngài xây dựng Chùa Shechen ở Bồ Đề Đạo Tràng; và từ năm 2004 đến 2009, Ngài xây dựng bảo tháp tại các thánh địa khác nhau ở Ấn Độ và Nepal. Tại Bhutan, Ngài thành lập trung tâm nghiên cứuthực hành, bao gồm các Ni việntrung tâm nhập thất. Theo yêu cầu của Thái Hoàng Thái Hậu Bhutan – Ashi Kesang Chodron Wangchuk, Ngài cử hành các nghi lễ thường niên vì sự an lành tâm linhthế tục của Bhutan. Ngài cũng thành lập trường học, bệnh viện và viện dưỡng lãoTây Tạng, Trung Quốc, Bhutan và Nepal.

Năm 2010, Ngài tổ chức các buổi lễ trang nghiêm để kỷ niệm một trăm năm sinh nhật Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche. Pháp hội được đệ tử của Kyabje Khyentse Rinpoche từ khắp nơi trên thế giới tham dự.

Từ năm 2010, Rinpoche đã đóng vai trò là chủ tịch Nyingma Monlam Chenmo (Đại Lễ Cầu Nguyện Nyingma tại Bồ Đề Đạo Tràng) trong ba năm. Sau đó, toàn bộ cộng đồng Nyingma thỉnh cầu Rinpoche trở thành người đứng đầu thứ tám của truyền thống Nyingma. Ban đầu Ngài từ chối, nhưng đã chấp thuận đóng vai trò là chủ tịch (Đại Lễ) và nỗ lựclợi lạc của toàn bộ truyền thống Nyingma nói chung. Một lần nữa, Ngài chịu trách nhiệm là chủ tịch Nyingma Monlam từ năm 2023 cho đến năm 2025.

Trong nhiều hoạt động Giáo Pháp chính yếu, năm 1994, Ngài xuất bản Tuyển Tập Trước Tác của Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche gồm 25 quyển. Năm 2017, Ngài xuất bản ấn bản Rinchen Terdzod gồm 71 quyển và nhiều tác phẩm khác. Rinpoche đã cúng dường khẩu truyền Kathang Sang Gyachen (Tiểu Sử Ấn Bí Mật Của Đức Liên Hoa Sinh) lên Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, điều mà Ngài thọ từ Kyabje Dudjom Rinpoche, như đám mây cúng dường.

Tại Tu viện Shechen ở Nepal, Ngài ban các trao truyền sau đây: Năm 1994, khẩu truyền Rinchen Terdzod; năm 1997, khẩu truyền Tuyển Tập Trước Tác của Dilgo Khyentse Rinpoche; năm 2004, khẩu truyền Nyingma Kama và Nyingtik Yabzhi (Tâm Yếu Bốn Phần); năm 2006, khẩu truyền ba quyển bản văn gốc Tâm Yếu (Nyingtik Tsapod); năm 2007 và 2008, khẩu truyền Nyingma Gyubum; năm 2008, khẩu truyền Longchen Dzod Dun (Bảy Kho Tàng); năm 2013, tại Chùa Nyingma ở Bồ Đề Đạo Tràng, quán đỉnhkhẩu truyền cho Tuyển Tập Trước Tác của Mipham Rinpoche; năm 2014, tại Satsam Chorten, Paro, Bhutan, khẩu truyền Bảy Kho Tàng; năm 2017, quán đỉnhkhẩu truyền kho tàng tâm của Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche; năm 2019, khẩu truyền Tuyển Tập Trước Tác của Jigme Lingpa và Patrul Rinpoche, cũng như quán đỉnhkhẩu truyền cho pho Longchen Nyingtik.

Năm 2019, tại Tu viện Ngesang Dongak Changchub Dargye Ling ở Pemako, Ấn Độ, Ngài ban quán đỉnhkhẩu truyền Longchen Nyingtik. Năm 2020, tại Tu viện Ewam Nubchen Namchak ở Siliguri, Ấn Độ, Ngài ban khẩu truyền Tuyển Tập Trước Tác của Tôn giả Jamyang Khyentse Wangpo và quán đỉnh cho các kho tàng của Tôn giả, chủ yếu là Tam Căn Tịnh Quang Tâm Yếu (Tsasum Osel Nyingtik); năm 2021, tại Ni viện Shechen ở Bhutan, khẩu truyền Bảy Kho Tàng. Trong giai đoạn Đại Dịch Covid-19, Ngài đã ban khẩu truyền nhiều tuyển tập quan trọng qua Zoom, chẳng hạn Tuyển Tập Trước Tác của Đức Shechen Gyaltsab cũng như nhiều bản văn từ Tuyển Tập Trước Tác của Đấng Toàn Tri Longchenpa. Năm 2022, tại Tu viện Lhodrak Kharchu, Bhutan, Ngài ban khẩu truyền Tuyển Tập Trước Tác của Rongzom Pandita. Năm 2023, tại thánh địa Yangleshod, Ngài ban toàn bộ kho tàng Terma của Tôn giả Jatson Nyingpo (tức Jatson Podruk). Năm 2024, tại Paro, Bhutan, Ngài ban quán đỉnh Rinchen Terdzod. Tháng 09/2025, tại Lerab Ling, nước Pháp, Ngài ban toàn bộ quán đỉnh Longchen Nyingtik. Cuối năm 2025, tại Tu viện Mindrolling, Ấn Độ, Ngài ban toàn bộ quán đỉnhkhẩu truyền Nyingma Kama.

Rinpoche du hành đến nhiều quốc gia trên khắp thế giới, ban quán đỉnh, khẩu truyềnchỉ dẫn cho vô số đệ tử – cả tu sĩ lẫn cư sĩ – từ mọi truyền thống. Các trước tác được tuyển tập của Ngài bao gồm một giáo khoa quán đỉnhhoạt động rõ ràng về Đạo Sư Liên Hoa Sinh, một thực hành từ trong Terma Tâm Yếu Liên Hoa Tự Sinh (Rangjung Pema Nyingtik) của Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche. Ngài tiếp tục đóng vai trò là người đứng đầu Tu viện Shechen và các nhánh, liên tục chuyển Pháp luân.

Cầu nguyện rằng thân kim cương của Ngài trụ mạnh mẽ trong số kiếp nhiều như số vi trần trong vũ trụ, mở hàng trăm cánh cửa đến các thừa sâu sắc và bao la của Giáo Pháp.

Nguyên tác Anh ngữ: Biography of the 7th Shechen Rabjam Rinpoche – Gyurme Shedrub Chokyi Senge [được chia sẻ trong Pháp hội Nyingma Kama tại Tu viện Mindrolling, Ấn Độ năm 2025][1].

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ (và bổ sung thông tin về một số trao truyền mà Ngài đã ban).



[1] Một số thay đổi nhỏ được điều chỉnh theo bản Anh ngữ được chia sẻ tại: https://www.shechentransmissions.org/teacher.