Hằng năm, tôi đều cung cấp các giáo lý Kim Cương thừa cho một số Pháp hữu của tôi tại Larung Gar. Các giáo lý này bao trùm nhiều chủ đề, từ công đức của con đường Kim Cương thừa cho đến các thực hành Mật thừa cụ thể và chỉ dẫn cốt tủy cốt yếu. Năm nay, tôi sẽ nhấn mạnh đặc biệt vào công đức và lợi lạc của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng Đến Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Vì mục đích này, tôi sẽ sử dụng luận giải nổi tiếng của Ju Mipham Rinpoche, Bạch Liên Hoa – Một Giải Thích Về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng Đến Đạo Sư Liên Hoa Sinh, làm bản văn căn bản, cung cấp một giải thích theo nghĩa đen và trực tiếp.
Trong các bài giảng này, tôi sẽ không giới thiệu những nguồn kinh văn bổ sung hay lập luận mở rộng, bởi một sự giải thích cô đọng về luận giải này là đủ để hiểu được công đức sâu xa của lời cầu nguyện. Nhờ đó, các bạn sẽ trân trọng gia trì phi phàm và sức mạnh cố hữu trong những từ ngữ kim cương của chư đạo sư thành tựu, chẳng hạn Đấng Toàn Tri Mipham Rinpoche.
Bạch Liên Hoa của Ju Mipham Rinpoche được sắp xếp thành nhiều phần, bắt đầu bằng thực hành bên ngoài, điều giải thích nghĩa đen của lời cầu nguyện, sau đó, chuyển sang những ý nghĩa sâu xa và ẩn giấu được tìm thấy trong các thực hành bên trong và bí mật. Về khóa học này, tôi sẽ cung cấp một giáo lý ngắn gọn về thực hành bên ngoài. Về thực hành bên trong và bí mật, chúng ta có thể tìm hiểu chúng trong tương lai khi cơ hội xuất hiện.
Thực hành Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng mà tôi sẽ giới thiệu nằm trong số những thực hành dễ tiếp cận nhất trong Kim Cương thừa. Tuy nhiên, bởi đây là một thực hành Mật thừa, tôi vô cùng khuyến khích các bạn thọ một quán đỉnh Kim Cương thừa trước khi tham dự. Nếu các bạn chưa từng thọ một quán đỉnh như vậy nhưng vẫn muốn tham gia, xin hãy đảm bảo rằng các bạn lắng nghe với niềm tin dành cho Kim Cương thừa và Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Nếu các bạn có những quan điểm như “Kim Cương thừa dẫn đến con đường lầm lạc” hay “Giáo lý Kim Cương thừa không xác thực”, tốt nhất là không tham dự, bởi khóa học có lẽ không cung cấp cho các bạn lợi lạc mong đợi.
Khi bước vào con đường Mật thừa mà không có một sự hiểu nền tảng, chúng ta có nguy cơ từ bỏ hay thậm chí là phỉ báng. Kim Cương thừa trình bày những giáo lý cao cấp và sâu xa của Phật giáo Tây Tạng. Những người đã phát triển một sự hiểu chân chính về giáo lý này có thể trải qua lợi lạc mang tính chuyển hóa. Trái lại, thiếu kiến thức cơ bản có thể khiến người ta từ bỏ con đường hay tham gia vào những hoạt động tích lũy ác nghiệp ghê gớm. Vì vậy, nếu bạn muốn đi theo con đường này, điều cốt yếu là tìm hiểu giáo lý Mật thừa và trưởng dưỡng một sự hiểu chuẩn xác về Kim Cương thừa. Bất cứ khi nào thuận duyên khởi lên để nghiên cứu Kim Cương thừa, đặc biệt là khi các giáo lý có sẵn bằng tiếng mẹ đẻ, các bạn cần nắm lấy cơ hội để học hỏi từ nhiều góc nhìn khác nhau, bao gồm nguồn gốc, lịch sử và công đức. Điều này sẽ giúp bảo vệ bạn khỏi việc từ bỏ hay phỉ báng con đường cao quý này trong tương lai.
Nhiều người các bạn đã vượt đường xa, để lại đằng sau gia đình, công việc và nhiều điều thân thương khác trong đời để đến nơi hẻo lánh này nhằm theo đuổi giáo lý Phật, đặc biệt là giáo lý Kim Cương thừa. Lòng sùng mộ của các bạn thật rõ ràng và lòng mong mỏi Giáo Pháp của các bạn thật mãnh liệt. Nếu bạn muốn đi theo Phật giáo – đặc biệt là Kim Cương thừa – vô cùng lợi lạc nếu bắt đầu bằng một sự tiếp cận mang tính hệ thống, học hỏi và thực hành từng bước.
Một số đệ tử chỉ tìm kiếm những chỉ dẫn Mật thừa sâu xa nhất mà trước tiên không thiết lập nền tảng cần thiết cho con đường Kim Cương thừa. Tôi lo lắng rằng cách tiếp cận như vậy sẽ khiến họ thật khó để tiến bộ trong thực hành, bởi con đường Mật thừa không dễ tiếp cận như vẻ ngoài của nó. Bị ảnh hưởng bởi gia đình và môi trường xã hội, một số có thể không phát triển được sự xác quyết với luật nhân quả khi còn trẻ, chứ đừng nói đến một sự hiểu cơ bản về Kim Cương thừa. Sau đó, bởi những kết nối nghiệp, họ gặp được Phật giáo và nhanh chóng thọ nhận giáo lý Mật thừa – thậm chí là những chỉ dẫn cốt tủy sâu xa nhất – mà không có nhiều cơ hội thiết lập một nền tảng vững chắc. Sự thiếu chuẩn bị này có thể dễ dàng khiến họ sa ngã.
Vì lý do này, điều cốt yếu là thiết lập một nền tảng mạnh mẽ bằng cách đi theo cách tiếp cận mang tính hệ thống trước khi tham gia vào các thực hành cao cấp hơn của Kim Cương thừa. Những người mới được khuyến khích tìm hiểu nguồn gốc của Kim Cương thừa, tiểu sử của chư đạo sư truyền thừa, lợi lạc của con đường này và các thực hành nền tảng dễ tiếp cận. Sau đấy, họ có thể tiến bộ tuần tự đến các thực hành sâu xa hơn, từ giai đoạn sinh khởi và hoàn thiện cho đến giáo lý cao nhất của Đại Ấn hay Đại Viên Mãn.
Thờ ơ cách tiếp cận theo trình tự này có thể dẫn đến hối tiếc cho cả thầy và trò. Nếu một đệ tử nhảy thẳng vào các thực hành Mật thừa sâu sắc nhất mà không hiểu những điểm căn bản, đạo sư có thể hối hận vì đã trao giáo lý, bởi đệ tử có thể không thấu triệt được chúng. Về phần mình, đệ tử có thể cảm thấy thất vọng khi những kết quả không được như mong đợi. Trong những trường hợp như vậy, bất kể giáo lý có phi phàm đến đâu, chúng sẽ chẳng đem đến nhiều lợi lạc.
Đấy là lý do Đức Phật nhấn mạnh trong các Kinh điển khác nhau rằng đạo sư cần hướng dẫn tùy theo thiên hướng của đệ tử – một nguyên tắc vô cùng quan trọng. Trong quá khứ, chư đạo sư vĩ đại của Ấn Độ và Xứ Tây Tạng hiểu rõ căn cơ của đệ tử và cung cấp giáo lý thích hợp, dù là căn bản hay cao cấp, vào từng giai đoạn thực hành. Ngày nay, đây là thách thức với cả đạo sư và đệ tử. Tuy nhiên, nếu họ nhận ra tầm quan trọng của việc trao và thọ giáo lý Mật thừa theo trình tự, thêm nhiều hành giả Kim Cương thừa sẽ phát triển tri kiến đúng đắn và ít có khả năng vấp ngã trên con đường.
Ở đây, tại Học viện của chúng ta, hành giả nhấn mạnh nhiều vào việc nghiên cứu và thực hành Kim Cương thừa theo trình tự thích hợp và tôi thực sự trân trọng điều đó. Gần đây, khi trò chuyện với các Pháp hữu, nhiều vị chia sẻ rằng họ từng chủ yếu tập trung vào triết học Phật giáo. Tuy nhiên, sau khi bắt đầu áp dụng giáo lý Mật thừa mà họ đã nghiên cứu trong những năm gần đây, họ nhận ra tầm quan trọng của việc hoàn thành các giai đoạn sơ khởi trước khi chuyển sang thực hành chính yếu. Kết quả là, giờ đây, họ nỗ lực rèn luyện căn bản, chẳng hạn quán chiếu về lẽ vô thường của cuộc đời và Đạo Sư Du Già.
Họ tin chắc rằng khi gia trì của chư Phật, Bồ Tát và đạo sư thấm nhuần tâm họ, họ có khả năng lớn trong việc tiến bộ lớn lao trong thực hành Pháp, bất kể thực hành cụ thể nào mà họ tham gia. Không có gia trì như vậy, thật khó để đạt chứng ngộ nhờ sự nghiên cứu lý thuyết hay tranh luận triết học đơn thuần, bởi chúng đa phần bị trói buộc vào ý nghĩ quan niệm. Nhiều hành giả đã có được sự hiểu sâu sắc về sự thật này, điều vô cùng quan trọng. Hơn thế nữa, họ trở nên cẩn thận và sáng suốt hơn về việc trao và thọ giáo lý Mật thừa và nhấn mạnh tính cần thiết của việc bắt đầu thực hành Kim Cương thừa bằng các thực hành sơ khởi.
Trưởng dưỡng niềm tin và sự xác quyết với Kim Cương thừa thì quan trọng hơn việc nghiên cứu học thuật đơn thuần. Trong khi một số học giả và giảng sư tinh tấn nghiên cứu và tìm hiểu các bản văn Kim Cương thừa, họ có thể lại thiếu sự hiểu căn bản về con đường này và các thực hành nền tảng của nó. Bởi họ hoàn toàn tập trung vào mặt học thuật, giáo lý Mật thừa như cam lồ có thể không thực sự thâm nhập dòng tâm họ, điều thật thiếu may mắn. Là hành giả Kim Cương thừa, điều cốt yếu là trưởng dưỡng lòng sùng mộ với Kim Cương thừa nhờ nghiên cứu tận tụy. Với niềm tin như vậy, nhận ra bản tính phi phàm của Kim Cương thừa sẽ dễ dàng hơn.
Bản tính phi phàm này là cố hữu trong mọi giáo lý Phật nhưng đặc biệt rõ ràng trong truyền thống Mật thừa. Từ những năm tháng học hỏi Phật Pháp, sự tin tưởng của tôi với Kim Cương thừa phát triển mỗi lần tôi tham gia vào giáo lý Mật thừa – dù đó là nhờ nghiên cứu lý thuyết, thực hành thực sự hay thậm chí là việc trì tụng Chân ngôn. Trải nghiệm này khiến tôi nhận ra rằng Kim Cương thừa hé lộ chân lý rốt ráo và trái tim tôi đồng điệu và đón nhận nó. Tôi tin chắc rằng Kim Cương thừa không chỉ vô cùng hấp dẫn mà còn sâu xa về giáo lý và thù thắng về thực hành. Chỉ nhờ sự nghiên cứu và thực hành toàn diện về con đường Mật thừa thì người ta mới có thể phát triển sự tin tưởng chân chính với bản tính của nó.
Hiểu được giá trị của Phật giáo nói chung cũng giúp chúng ta trân trọng sự xuất sắc của Kim Cương thừa, một truyền thống có vị trí nổi bật trong Phật giáo. Ngày nay, Phật giáo được công nhận rộng rãi là một hệ thống triết học phức tạp. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học và học giả tôn giáo, khi tiếp cận nó từ một quan điểm công bằng và khách quan, xem Phật giáo là vô cùng độc đáo. Khác biệt này chủ yếu đến từ sự nhấn mạnh của Phật giáo vào lòng bi mẫn và trí tuệ, những phẩm tính thật hiếm khi gặp được một cách sâu sắc đến vậy trong các truyền thống tâm linh khác. Lòng bi mẫn của Phật giáo mở rộng bình đẳng đến tất cả hữu tình chúng sinh, không chỉ con người. Hơn thế nữa, trí tuệ Phật giáo bao quát và dung thứ đến mức nó không thúc đẩy bạo lực hay hành vi tiêu cực, thứ khơi dậy cảm xúc phiền não, điều thực sự có thể hiện diện trong một số con đường tâm linh khác. Toàn bộ Phật Pháp bao gồm tinh túy của những hiểu biết từ nhiều trường phái và truyền thống khác nhau.
Thế nhưng, một số đạo sư trong truyền thống Kinh thừa có thể chưa sẵn sàng công nhận bản tính phi phàm của Kim Cương thừa. Điều này có thể hiểu được, bởi họ hầu như không tiếp cận được với giáo lý Mật thừa trong các nghiên cứu Giáo Pháp của mình. Tuy nhiên, nếu họ từng có cơ hội làm quen với con đường Kim Cương thừa, họ chắn chắn đã nhận ra giá trị của nó; càng nghiên cứu, họ sẽ càng trân trọng những phẩm tính xuất sắc của nó, chẳng hạn gia trì oai hùng và công đức phi phàm. Vì vậy, thật công bằng khi nói rằng những vị có kết nối thiện lành và niềm tin với Phật giáo sẽ đón nhận Kim Cương thừa khi họ hiểu được công đức chân thật của nó.
Namo Guru Padma Manjushri Vajra Tikshnaya![1]
Vị trì kim cương, Ngài thực sự là tất cả chư Phật ba thời,
Đấng Liên Hoa Sinh, xuất hiện là một hóa hiện trong thế giới này,
Thân trí tuệ vĩnh cửu, vua của chư Trì Minh,
Padmakara, đấng vinh quang, bây giờ hãy bảo vệ kẻ lang thang này.
Vị trì kim cương đại diện cho bản tính của tất cả chư Phật khắp quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngài đã hiển bày trên thế gian này là Đấng Hồ Sinh, được biết đến là Liên Hoa Sinh (Padmasambhava). Sau khi thành tựu trí tuệ vĩnh cửu, Ngài ngự trị là vua của hàng chục nghìn Trì Minh. Chúng ta khẩn nài Guru Rinpoche vinh quang bảo vệ chúng ta, những chúng sinh đáng thương lang thang trong thời kỳ suy đồi này.
Chúng ta càng cầu nguyện thiết tha đến Guru Rinpoche, gia trì của Ngài càng tuôn chảy mạnh mẽ đến chúng ta. Khi những gia trì này tan hòa vào tâm chúng ta, thực hành của chúng ta tự nhiên khai mở không chướng cản. Trong thời kỳ suy đồi này, lực tiêu cực và những kẻ có tà kiến đặc biệt tích cực. Bám chấp sai lầm và ý nghĩ tiêu cực có thể khởi lên trong chúng ta bất kỳ lúc nào. Trong thời kỳ tăm tối như vậy, gần như không thể hoàn thành thực hành nhờ những nỗ lực hạn chế của bản thân. Không nương tựa sự hỗ trợ của lực oai hùng phi phàm, chúng ta chẳng thể nào vượt qua những thử thách của con đường. Vì thế, lặp đi lặp lại, tôi thúc giục các bạn, những bạn hữu kim cương của tôi, hãy thiết tha cầu nguyện đến Đạo Sư Liên Hoa Sinh với lòng sùng mộ mãnh liệt. Nếu làm vậy, thực hành của các bạn sẽ tiến triển suôn sẻ từ đầu đến cuối.
Bông sen trái tim con, với niềm tin ba phần,
Hướng về ngôi sao ban ngày là Thắng giả oai hùng
Và mở ra trong sự vinh quang của gia trì.
Cầu mong những giọt mật ong của sự giải thích này nhẹ nhàng rơi xuống
Và thỏa mãn mong ước của những kẻ may mắn!
Đoạn kệ này là một ẩn dụ. Gia trì của Đức Phật giống như mặt trời. Khi nó chiếu tỏa, bông sen trí tuệ là niềm tin của Mipham Rinpoche bung nở. Từ sự bung nở này tuôn chảy cam lồ như mật ong là luận giải này, thứ mà những kẻ có kết nối nghiệp thiện lành có thể tận hưởng, như thế, hoàn thành mong ước của họ. Về tinh túy, giống như ánh sáng mặt trời khiến hoa sen bung nở và thu hút ong mật đến hút cam lồ ngọt ngào – đem đến sự thỏa mãn cho kẻ may mắn – giáo lý này cũng hoàn thành mong ước của những kẻ có phước báu được thọ nhận chúng.
Trong tất cả những lời cầu nguyện đến đạo sư vinh quang và vĩ đại xứ Oddiyana, hiện thân của tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai, lời cầu khẩn bao gồm bảy đoạn kệ kim cương là thù thắng. Nó đã khởi lên một cách tự nhiên như là sự dội vang tự nhiên của sự thực rốt ráo chẳng thể phá hủy và là kho mênh mông những gia trì và thành tựu.
Trong vô số những lời cầu khẩn đến Guru Rinpoche, Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng giữ vị trí cao nhất. Lời cầu nguyện này không được soạn bởi chính Guru Rinpoche, hay đơn thuần là một lời cầu khẩn đến Ngài. Thay vào đó, nó khởi lên như là sự cầu khẩn hợp nhất của chư Phật khắp mười phương. Giống như Mật Điển Vị Kế Thừa Duy Nhất Của Giáo Lý (Tenpa Buchik), lời cầu nguyện này đã tự nhiên hiển bày từ hư không khi gia trì và trí tuệ của chư Phật ba thời hội tụ. Nó là cội nguồn và kho tàng của tất cả gia trì, công đức và thành tựu.
Thậm chí không cần đào sâu vào ý nghĩa bên trong hay bí mật sâu xa, đơn giản hiểu ý nghĩa bên ngoài như Mipham Rinpoche giải thích cũng hé lộ bản tính phi phàm của lời cầu khẩn bảy dòng này. Những lợi lạc đáng chú ý của lời cầu nguyện giải thích lý do nó hiện diện trong các bản văn Terma được phát lộ bởi cả 108 Terton. Vì lý do này, mỗi Pháp hội trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng – đặc biệt là trường phái Nyingma – thường bắt đầu bằng việc trì tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng ba lần.
Khi bạn cầu nguyện với niềm tin và lòng sùng mộ chân chính, Guru Rinpoche, chư Phật mười phương, Tam Căn, Hộ Pháp và tất cả chư Thánh tập hợp trước bạn, ban gia trì và quán đỉnh. Là chúng sinh bình phàm, chúng ta như đứa trẻ nhỏ, không nhà, lang thang trên con phố đông đúc – lạc đường và cô độc, chẳng có ai quan tâm. Khi đứa trẻ đó tuyệt vọng gọi mẹ, bà lao đến ngay lập tức, an ủi và bảo vệ. Trong thời kỳ suy đồi tăm tối này, ngay cả khi chúng ta khát khao thực hành Pháp không chướng ngại, hoàn toàn dựa vào nỗ lực của bản thân có thể là chưa đủ. Vì thế, điều cốt yếu là cầu nguyện đến chư đạo sư của chúng ta, chư Hộ Pháp và chư Tôn.
Trong nghi quỹ về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng rút ra từ một kho tàng Giáo Pháp của Pema Garwang Chime Yungdrung Lingpa, Guru Rinpoche tuyên bố [với Vua Trisong Detsen và những vị đồng hành,]
Các đoạn kệ sau đây đến từ một Terma được phát lộ bởi Padma Garwang Chime Yungdrung Lingpa, vị cũng được biết đến là Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, điều miêu tả lợi lạc của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Là một người cùng thời với Tôn giả Jamyang Khyentse Wangpo, Tôn giả Jamgon Kongtrul vừa là một Terton vĩ đại vừa là đạo sư tâm linh của Mipham Rinpoche. Tiểu sử của Ngài xuất hiện trong Trường Phái Nyingma Của Phật Giáo Tây Tạng – Những Nguyên Tắc Cơ Bản Và Lịch Sử cùng với nhiều ghi chép lịch sử khác. Trong cuộc đời, Ngài đã soạn hơn 100 quyển, bao gồm Năm Kho Tàng Vĩ Đại nổi tiếng. Một số bản tiểu sử nêu bật công đức phi phàm của Jamgon Kongtrul Rinpoche: Số lượng tác phẩm văn học của Ngài cho thấy Ngài đã hiến dâng trọn cuộc đời để biên soạn; trong khi các phát lộ kho tàng lại cho thấy Ngài hiến dâng hoàn toàn để làm lợi lạc hữu tình chúng sinh nhờ phát lộ Terma. Trong từng khía cạnh, các hoạt động làm lợi lạc hữu tình chúng sinh và truyền bá Giáo Pháp của Ngài đều vô cùng bao la và phi phàm.
Khi Ta, Liên Hoa Trì Tất Thảy,
Đang trụ trong định trong cõi bao la, nguyên sơ,
Ta được triệu thỉnh bởi âm thanh kim cương, sự hiển bày của sự thực rốt ráo,
Một giai điệu tự sinh trong bảy dòng.
Sau đó, Ta đã khởi lên trong sự uy nghiêm vô lượng của Báo thân,
Hé lộ hàng ngũ Phật và cõi của Ngài
Bao trùm hư không và sở hữu năm sự chắc chắn.
Khi Đức Liên Hoa Sinh trụ trong Pháp giới – trạng thái nguyên sơ thoát khỏi mọi tạo tác và vượt khỏi sự diễn tả – âm thanh tuyệt vời của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng đã tự nhiên khởi lên từ sự hiển bày của sự thực rốt ráo. Điều này xảy ra nhờ sức mạnh của sự thực rốt ráo và công đức tích lũy của hữu tình chúng sinh. Được triệu thỉnh bằng âm thanh tuyệt diệu này, từ cõi nguyên sơ của Pháp thân, Đức Liên Hoa Sinh đã khởi lên trong Báo thân, hiển bày với sự uy nghiêm vô lượng. Toàn bộ sự hiển bày cao quý của Báo thân Phật và cõi Phật của Ngài – bao trùm hư không và cố hữu sở hữu năm sự chắc chắn – được hé lộ hoàn toàn. Năm sự chắc chắn liên quan đến sự chắc chắn về thân [của đạo sư], đệ tử, giáo lý, thời gian và địa điểm. Trong bối cảnh này, nó nghĩa là trong cõi Báo thân, Báo thân Phật Liên Hoa Sinh tự nhiên giảng Pháp cao quý, thứ vượt khỏi sự diễn tả, cho đoàn tùy tùng của Ngài.
Sau đó, năm mẹ tôn quý của cõi rốt ráo
Khẩn nài Ta hành động vì lợi chúng sinh bằng bài ca bảy dòng.
Và vì thế, trên bông sen nở nhô lên phía trên cuống,
Trong đại dương sữa trong cõi lạc thù thắng, Ta đã hiển bày,
Nổi tiếng là Totreng, Tràng Sọ, trong năm dòng dõi.
Cuộc đời và hoạt động của Ta chẳng thể nào tưởng tượng.
Chính khoảnh khắc ấy, năm mẹ của năm gia đình Phật – Mamaki của Bảo Sinh Bộ, Buddhalochana của Kim Cương Bộ, Dhatvishvari của Phật Bộ, Pandavarasini của Liên Hoa Bộ và Samayatara của Sự Nghiệp Bộ – đã cùng cất giọng trong giai điệu tuyệt diệu của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng Kim Cương, cầu khẩn hình tướng Báo thân của Đức Liên Hoa Sinh hành động vì lợi lạc của tất cả hữu tình chúng sinh.
Đáp lại, một bông sen nở đã xuất hiện ở đại dương sữa của Sukhavati, cõi lạc thù thắng, và Đạo Sư Liên Hoa Sinh hiển bày trên đó thành Totrengtsal trong năm dòng dõi: Totrengtsal của Bảo Sinh Bộ, Totrengtsal của Kim Cương Bộ, Totrengtsal của Phật Bộ, Totrengtsal của Liên Hoa Bộ và Totrengtsal của Sự Nghiệp Bộ. Cuộc đời và những hoạt động giác ngộ của Ngài vì lợi chúng sinh thật vô lượng vô biên.
Điều này hé lộ cách thức mà ở cõi Cực Lạc, Đạo Sư Liên Hoa Sinh làm lợi hữu tình chúng sinh trong hình tướng nửa Hóa thân nửa Báo thân.
Và sau đó, một trăm triệu Không Hành Nữ trí tuệ
Cùng một giọng đã cầu khẩn Ta
Để Ta có thể truyền bá giáo lý Chân ngôn Bí mật,
Khẩn nài Ta bằng bài ca bảy dòng
Xin hãy đến thế giới này,
Cõi mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã điều phục.
Và vì thế, ở vùng đất Orgyen, cái nôi của Chân ngôn,
Trên Hồ Dhanakosha, trên bông sen tuyệt diệu nhô lên phía trên cuống,
Xuất hiện từ cõi lạc, Ta đã đến.
Do đó, Ta được biết đến là ‘Hồ Sinh Kim Cương’.
Một trăm triệu Không Hành Nữ trí tuệ đã cùng nhau hát Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Chư vị cầu khẩn Đạo Sư Liên Hoa Sinh giáng hạ từ Cực Lạc xuống thế gian này để truyền bá Kim Cương thừa Chân ngôn Bí mật thù thắng khắp Nam Thiệm Bộ Châu, nơi mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng điều phục chúng sinh. Nhờ lời cầu nguyện của chư vị, các nhân và duyên thích hợp đã xuất hiện. Trong cõi của Phật Thích Ca Mâu Ni, ở vùng đất Oddiyana – cái nôi của Chân ngôn thừa – một bông sen hiếm có đã nở trên hòn đảo trong Hồ Dhanakosha. Ở cõi Cực Lạc, Phật Vô Lượng Quang đã phóng chủng tự hrih[2] từ tim Ngài. Chủng tự này giáng hạ xuống bông sen và biến thành một bé trai khôi ngô. Khi Vua Indrabhuti đến hồ, Ngài đã gặp cậu bé, đưa trở về vương quốc và phong làm thái tử. Vì lý do này, Đức Liên Hoa Sinh được biết đến là Tsokye Dorje, Hồ Sinh Kim Cương. Miêu tả này cho thấy cách mà Đức Liên Hoa Sinh xuất hiện ở Nam Thiệm Bộ Châu trong hình tướng Hóa thân.
Nhiều đạo sư vĩ đại dạy rằng Đạo Sư Liên Hoa Sinh đại diện cho sự hiển bày kết hợp của Phật Vô Lượng Quang, Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ Tát Quán Thế Âm. Người bình thường và thậm chí là một số Bồ Tát cũng thấy thật khó hiểu hay khó chấp nhận hành vi và sự chứng ngộ phi phàm của Guru Rinpoche. Điều này có thể giải thích sự bất đồng đáng kể về khoảng thời gian Guru Rinpoche ở lại các vùng Tây Tạng. Các miêu tả khác nhau cho rằng Ngài chỉ ở lại ba, sáu, mười hai hay mười tám tháng; số khác nhắc đến ba, sáu hay mười hai năm; một số lại nói rằng Ngài lưu lại hơn năm mươi năm hoặc một trăm mười một năm. Quan điểm được chấp nhận rộng rãi nhất là Đạo Sư Liên Hoa Sinh đã hiển bày ở vùng Tây Tạng trong hơn năm mươi năm bên hầu hết người Tạng và những hữu tình chúng sinh may mắn. Trường Phái Nyingma Của Phật Giáo Tây Tạng của Dudjom Rinpoche ghi lại rằng Guru Rinpoche đến vùng Tây Tạng khi Vua Trisong Detsen hai mươi mốt tuổi. Ngài ở lại thêm mười sáu năm nữa sau khi đức vua băng hà ở tuổi năm mươi chín. Vậy thì tại sao một số tài liệu lịch sử lại tuyên bố rằng thời gian Guru Rinpoche ở lại ngắn hơn rất nhiều? Dudjom Rinpoche giải thích rằng trước các thượng thư xấu, Ngài chỉ xuất hiện trong một giai đoạn ngắn. Khi Ngài dường như rời khỏi các vùng Tây Tạng, thân thật sự của Ngài du hành từ nơi này đến nơi khác, ban gia trì cho toàn bộ Xứ Tuyết.
Nhờ sức mạnh diệu kỳ và gia trì của Guru Rinpoche, kết hợp với hoạt động của vô số Hộ Pháp, Phật giáo Tây Tạng duy trì nguyên vẹn và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay. Không truyền thống tôn giáo nào khác thành công trong việc thiết lập ở vùng Tây Tạng. Vì vậy, điều cốt yếu với mỗi hành giả là cầu nguyện Đạo Sư Liên Hoa Sinh bảo vệ Tu viện, trung tâm Giáo Pháp hay sự hành trì của bản thân. Trên thực tế, nhiều đạo sư vĩ đại nhấn mạnh tầm quan trọng lớn lao của thực hành Liên Hoa Sinh và kết hợp nghiêm túc vào sự hành trì hằng ngày của chư vị. Thậm chí trong thời kỳ hỗn loạn, một số hành giả đã bí mật tham gia vào thực hành Liên Hoa Sinh trong lúc ở trong tù. Điều này bao gồm cả những hành giả của Phật giáo Trung Hoa và thậm chí là một số đạo sư Thiền Tông. Chỉ sau khi chư vị qua đời thì người ta mới biết rằng chư vị từng tham gia vào thực hành Mật thừa, đặc biệt là thực hành Liên Hoa Sinh. Có rất nhiều trường hợp như vậy trong các đệ tử của Ngài Norlha Khutugtu và Gangkar Lama.
Điều trên đây kể lại cách mà Đạo Sư Liên Hoa Sinh hiển bày trước chúng sinh trong cõi người.
Hé lộ điều tuyệt vời chẳng thể nghĩ bàn,
Thân tuyệt diệu của Ta nhiều vô số kể.
Vì chư Không Hành Nữ và Không Hành Nam của hồ,
Ta tuyên thuyết tinh túy bí mật của giáo lý đại mật:
Một trăm triệu Mật điển, Agama và Upadesha
Của Huyễn Võng Liên Hoa
Để giúp kẻ sống và tất cả chúng sinh vị lai
Tùy theo thiên hướng khác nhau của họ.
Khi Đức Liên Hoa Sinh xuất hiện trong cõi người, Ngài hiển bày vô số thân tuyệt diệu trước hữu tình chúng sinh, làm lợi lạc họ bằng những hiển bày phi phàm khác nhau. Ngài ban vô số tinh túy bí mật chẳng thể nghĩ bàn của Chân ngôn Bí mật thừa – các Mật điển, sự trao truyền và Upadesha, chẳng hạn Huyễn Võng Liên Hoa và nhiều điều khác – tùy theo căn cơ và thiên hướng của chư Không Hành Nữ, Không Hành Nam và con người, cả trong thời đại của Ngài và các thế hệ tương lai.
Những giáo lý này đều được cô đọng
Trong các nghi quỹ về Đạo Sư –
Chính Ta, hiện thân của Tam Căn.
Lời cầu nguyện gồm bảy dòng là gốc của tất cả các nghi quỹ này.
Trong Nền Tảng, những dòng này bao hàm bảy kiểu thức;
Trên Con Đường, chúng đại diện bảy nhánh giác ngộ;
Khi Kết Quả đạt được, chúng được hoàn thiện
Thành bảy sự giàu có linh thiêng của sự rốt ráo.
Mặc dù Đức Liên Hoa Sinh đã dạy hàng ngũ bao la các Mật điển, trao truyền và Upadesha sâu xa cho chúng sinh với căn cơ khác nhau, thực sự, tất cả có thể được tóm lược thành các thực hành Tam Căn – Đạo Sư, Bổn tôn và Không Hành Nữ. Tất cả thực hành Tam Căn lại có thể được cô đọng thành các thực hành về Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Có nhiều thực hành như vậy, được phát lộ là Terma bởi chư Terton hay được soạn bởi những đạo sư vĩ đại; một số tập trung vào Đức Liên Hoa Sinh trong hình tướng an bình; số khác trong hình tướng phẫn nộ. Thậm chí trong các thực hành an bình, các nghi quỹ được phát lộ trong Terma khác nhau cũng khác nhau. Thế nhưng, tinh túy của tất cả những thực hành này đều nằm trong Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Hơn thế nữa, lời cầu nguyện này thâu nhiếp tinh túy của Nền Tảng, Con Đường và Kết Quả. Ở cấp độ của Nền Tảng, nó bao hàm bảy kiểu thức; trên Con Đường, nó đại diện cho bảy nhân tố giác ngộ; và tại Kết Quả, nó được hoàn thiện thành bảy sự giàu có linh thiêng của sự rốt ráo. Do đó, lời cầu nguyện này bao trùm tất cả.
Với đa số chúng ta, tham gia vào các nghi quỹ khác nhau về Guru Rinpoche có thể đầy thách thức, nhưng tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng là chuyện mà tất cả đều có thể tiếp cận. [Tại điểm này, Khenpo đã tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng theo một giai điệu riêng biệt và nhận xét rằng, “Tôi đang bắt chước một vị tụng theo cách này, điều hơi khác với giai điệu thông thường của chúng ta. Thầy ấy nói rằng cách này được truyền xuống từ đạo sư của thầy. Thật tuyệt vời khi thầy tuân theo phong cách của đạo sư”.]
Nhiều người có những cách phát âm hay lối tụng khác nhau. Ví dụ, cách tụng ở Lhasa khác với các vùng như Dokham. Hãy lấy Chân ngôn Guru Rinpoche làm ví dụ: một số tụng Om Ah Hung Benza Guru Pema Siddhi Hung, trong khi số khác Om Ah Hung Vajra Guru Padma Siddhi Hung. Đạt được sự đồng nhất hoàn toàn gần như là không thể. Nói chung, như trong câu chuyện mà tôi nhắc đến trước đó về trì tụng Chân ngôn Phổ Ba Kim Cương[3], chỉ cần tâm bạn thanh tịnh, phát âm chuẩn xác Chân ngôn không phải là chuyện quan trọng hàng đầu. Ví dụ, khi tụng Om Mani Padme Hung, một số dùng tiếng Quan Thoại, số khác thì tiếng Quảng Đông trong khi một số lại dùng giọng Cam Túc hay Tứ Xuyên – phát âm có sự khác biệt giữa các vùng. Người ta không thể nào tuyên bố rằng phát âm Cam Túc là tiêu chuẩn trong khi phát âm kiểu Hồng Kông thì không. Phát âm khác nhau là điều hoàn toàn tự nhiên.
Như thế, nếu con đơn giản gọi Ta
Bằng giai điệu này của âm thanh kim cương,
Ta, Liên Hoa, chẳng thể nào không đến với con.
Ta sẽ trao cho con gia trì của Ta và sẽ ban
Quán đỉnh trí tuệ nguyên sơ vĩ đại.
Nếu bạn hoàn toàn nương tựa Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng và tụng nó bằng giọng du dương và đẹp đẽ khi cầu khẩn đến Đạo Sư Liên Hoa Sinh, thì Guru Rinpoche, như Ngài nói, “chẳng thể nào không đến với” bạn. Ngài sẽ lập tức ban cho bạn gia trì và quán đỉnh trí tuệ vĩ đại. Đấy là khẩu kim cương của Guru Rinpoche – hoàn toàn đúng và không sai trệch.
Ngày nay, nhiều hành giả không thể tìm được những đạo sư để ban cho họ quán đỉnh. Ngay cả khi họ tìm được, vị đạo sư có khi cũng không thể ban quán đỉnh bởi những lý do khác nhau, chẳng hạn bận rộn hay sức khỏe yếu. Trong trường hợp đó, tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng hằng ngày cũng thật lợi lạc. Nhờ cầu khẩn như vậy, Đức Liên Hoa Sinh sẽ đến với bạn trong thân trí tuệ của Ngài và ban cho bạn quán đỉnh. Miễn là bạn có niềm tin, bạn chắc chắn sẽ thọ nhận những gia trì này.
Tập hội chư Tôn Tam Căn sẽ tập hợp như những đám mây
Để ban thành tựu thông thường và thù thắng không cản trở.
Và trong lúc thức hay trong lúc thiền định,
Hoặc trong linh kiến của những giấc mơ, con sẽ gặp Ta.
Con sẽ thấy ánh sáng cầu vồng cuộn xoáy, ngửi thấy hương thơm,
Khi bạn cầu khẩn bằng cách tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, chư Tam Căn sẽ tập hợp trước bạn như những đám mây, gia trì và ban thành tựu thông thường cũng như thù thắng không cản trở. Nhờ thực hành này, bạn có thể có những trải nghiệm đặc biệt hay cảm giác thọ nhận gia trì của Đức Liên Hoa Sinh và chư Tôn khác nhau. Bạn có thể gặp chư vị trong đời sống hằng ngày, trong lúc thiền định hay trong giấc mơ. Bên cạnh đó, bạn có thể thấy ánh sáng cầu vồng hay nhận thấy hương thơm ở nơi thực hành.
Trong lúc chuyển dịch luận giải này, mặc dù tôi không thể tuyên bố bản thân có trải nghiệm trực tiếp, tôi thực sự đã nằm mơ thấy Đức Liên Hoa Sinh nhiều lần. Tuy nhiên, điều này không cho thấy bất kỳ thành tựu đặc biệt cao cấp nào. Như Đức Longchenpa nói trong Kho Tàng Chỉ Dẫn Cốt Tủy Quý Báu, một trong sáu kết quả dứt khoát là nếu một người tinh tấn tham gia vào thực hành Pháp, họ dứt khoát sẽ có được các kinh nghiệm và chứng ngộ. Vì thế, dù là trải nghiệm tâm linh, gia trì hay quán đỉnh, bất kỳ ai có niềm tin đều có thể thọ nhận chúng – điểm then chốt là liệu bạn có thực sự thực hành hay không.
Nghe thấy những điệu nhạc cõi trời và tiếng trống Damaru nhẹ nhàng.
Thân, khẩu và ý của con ngập tràn gia trì,
Con sẽ đạt được chứng ngộ một cách bất ngờ
Nhờ sức mạnh giác tính của bản thân.
Tám bộ tinh linh kiêu ngạo sẽ vâng lời con.
Thực hành Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng có thể khiến bạn nghe thấy tiếng trống Damaru của chư thiên và âm thanh của chư Hộ Pháp và Không Hành Nữ. Thực sự, những âm thanh tuyệt diệu có thể thường được nghe thấy quanh các hang động hay tịnh thất của chư hành giả quá khứ ở chốn hẻo lánh cô tịch. Cùng với đó, thân, khẩu và ý của bạn sẽ được gia trì lớn lao. Nhờ thực hành Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng này, nếu thân thể bạn căng thẳng và thiếu linh hoạt, nó sẽ trở nên thư giãn và thoải mái; nếu khẩu của bạn cay nghiệt và bất cẩn, nó sẽ trở nên lịch thiệp và tao nhã; nếu bạn bị phiền nhiễu bởi những cảm xúc tiêu cực thâm căn cố đế, gia trì oai hùng của Đạo Sư Liên Hoa Sinh sẽ tan hòa vào tâm bạn, đem đến sự chuyển hóa lớn lao cho tham, sân và si của bạn. Một số hành giả thay đổi rất nhanh, bởi gia trì của Đạo Sư Liên Hoa Sinh đã hòa quyện vào tâm họ. Những vị với căn cơ sắc sảo hơn thậm chí sẽ lập tức nhận ra giác tính cố hữu và chứng ngộ bản tính chân thật của sự thực. Tám bộ tinh linh kiêu ngạo sẽ tuân theo chỉ dẫn của bạn. Họ sẽ không còn làm hại bạn; thay vào đó, họ sẽ trở thành những vị bảo vệ và hỗ trợ của bạn, cho phép hoạt động Giáo Pháp của bạn phát triển và mở rộng.
Tất cả những kẻ liên hệ với con sẽ được lợi lạc và con sẽ có được sức mạnh từ gia trì của Ta
Và nhanh chóng đạt thành tựu như chư Trì Minh,
Con sẽ chẳng bao giờ rời xa Ta, Liên Hoa Sinh.
Samaya!
Nhờ thực hành lời cầu nguyện này đến Đức Liên Hoa Sinh, bạn sẽ làm lợi lạc vô số hữu tình chúng sinh, những vị có kết nối nghiệp với bạn. Thậm chí nếu bạn chưa thể giúp đỡ chúng sinh khác, khi thực hành Pháp của bạn trở nên sâu sắc, bạn sẽ làm lợi lạc tất cả những vị có liên hệ, dù là bởi thiện hay ác nghiệp. Cùng lúc, bạn sẽ có được sức mạnh lớn lao. Một số người thấy lời nói của họ thiếu sức ảnh hưởng, động cơ của họ yếu ớt và bất cứ khi nào họ thử làm điều gì đó ý nghĩa, họ gặp phải chướng ngại và không thể hoàn thành mục tiêu. Tại sao lại vậy? Có thể là bởi chướng ngại về nghiệp mạnh mẽ hay sự can thiệp của lực ma quỷ. Tuy nhiên, sau khi gặp được một thực hành phi phàm đến vậy, chúng ta cần tinh tấn áp dụng. Nếu làm vậy, chúng ta sẽ không chỉ có được sức mạnh và xua tan chướng ngại, mà còn nhanh chóng đạt được sự chứng ngộ của một Trì Minh, trở nên bất khả phân với Đạo Sư Liên Hoa Sinh
Chư Tam Căn mà bản thân Ta hiện thân,
Thân kim cương khởi lên từ hồ,
Xuất hiện là huyễn võng của những hóa hiện.
Nếu con cầu nguyện đến Ta theo những mong ước của mình,
Ta sẽ ban thành tựu tương ứng với chúng.
Vì các con, những vị hiện nay là vua và dân chúng,
Và vì những đệ tử vị lai của Ta,
Ta dạy tinh túy của tâm Ta với tình yêu thương.
Đạo Sư Liên Hoa Sinh là hiện thân chân chính của chư Tam Căn. Trước hữu tình chúng sinh, Ngài đã hiển bày thân kim cương trên bông sen trong hồ nước, xuất hiện là huyễn võng của những hóa hiện. Nếu bạn trưởng dưỡng niềm tin với những phẩm tính cao quý và cầu nguyện đến Ngài, bạn sẽ thọ nhận thành tựu tương ứng với những mong ước của bản thân. Những vị có những cầu khẩn xuất sắc nhất sẽ thọ quán đỉnh và gia trì ưu việt hơn, trong khi những vị mà sự cầu khẩn kém hơn sẽ thọ gia trì tương ứng. Vì lợi lạc của Vua Trisong Detsen, thần dân và đệ tử tương lai, Guru Rinpoche, với lòng đại bi, đã ban các chỉ dẫn chính là tinh túy của tâm Ngài.
Không được tiết lộ, mà hiện nay nó phải được chôn giấu như là kho tàng sâu xa.
Trong thời xấu xa sắp tới, đệ tử của chính Ta sẽ xuất hiện;
Và khi ấy, với trí tuệ,
Nhờ sức mạnh lời cầu nguyện của Vairotsana,
Vị ấy sẽ phát lộ phương tiện này để điều phục chúng sinh,
Lấp lánh với ký tự biểu tượng bằng ánh sáng.
Như thế, cội nguồn giúp đỡ cho những kẻ lang thang sẽ lan tỏa rộng khắp.
Samaya!
Giáo lý này của Guru Rinpoche, thay vì được truyền bá ngay vào thời điểm ấy, đã được chôn giấu thành Terma. Guru Rinpoche đã tiên đoán rằng vào thời suy đồi trong tương lai, khi các đệ tử may mắn của Ngài xuất hiện, giáo lý này sẽ được phát lộ nhờ sức mạnh những lời nguyện của Vairotsana, xuất hiện thành chữ biểu tượng ánh sáng hay ký tự Không Hành Nữ.
Nhiều thực hành phi phàm liên hệ với Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Vô số những giáo lý như vậy, bao gồm cả nghi quỹ này của Jamgon Kongtrul Rinpoche[4], đã được chôn giấu thành Terma tại những địa điểm khác nhau – trong những vùng nước, bầu trời, núi thiêng và địa điểm được thánh hóa khác. Theo một số miêu tả lịch sử, Khandro Yeshe Tsogyal đã dành khoảng một trăm năm để chôn giấu tất cả giáo lý sâu xa của Guru Rinpoche sau khi Ngài rời đến lục địa Chamaradvipa của La Sát. Sau đó, những đạo sư vĩ đại như Nyak Jnanakumara, Vairotsana và Tôn giả Vô Cấu Hữu (Vimalamitra) cũng chôn giấu nhiều giáo lý Mật thừa thù thắng, để được phát lộ bởi chư Terton trong tương lai.
Hiểu được những phẩm tính phi phàm của giáo lý Terma là điều cốt yếu. Truyền thống về kho tàng ẩn giấu không dành riêng cho Mật thừa mà cũng xuất hiện trong Kinh thừa. Ví dụ, trong Trường Phái Nyingma Của Phật Giáo Tây Tạng của Dudjom Rinpoche, các bản văn Kinh thừa như Kinh Sự Hiển Bày Của Dòng Sông được trích dẫn để minh họa điểm này. Theo các bản văn này, một số giáo lý đặc biệt của Phật Thích Ca Mâu Ni đã được chôn giấu tại những địa điểm cụ thể, để được phát lộ bởi những cá nhân được chỉ định trong tương lai. Tuy nhiên, những trường hợp như vậy trong Kinh thừa ít phổ biến hơn so với trong truyền thừa của Guru Rinpoche.
Xuyên suốt lịch sử Phật giáo Tây Tạng, từng có 108 Terton được công nhận rộng rãi mà tiểu sử được tập hợp lại trong Trăm Vị Terton. Các tác phẩm lịch sử khác, bao gồm Trường Phái Nyingma Của Phật Giáo Tây Tạng của Dudjom Rinpoche, cũng kể về cuộc đời của các Terton vĩ đại, chẳng hạn Jigme Lingpa, Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, Jamyang Khyentse Wangpo và Mipham Rinpoche. Nhờ đọc các bản văn kho tàng được phát lộ bởi những Terton vĩ đại này và hiểu được công đức và ảnh hưởng sâu xa của chư vị, người ta phát triển sự xác quyết sâu sắc với sức mạnh của Terma.
Terma, là sự trao truyền truyền thừa ngắn, sở hữu những phẩm tính khác với sự trao truyền truyền thừa dài. Nó không bị vấy bẩn bởi sự ô nhiễm tiềm tàng, điều có thể đến từ thệ nguyện (Samaya) bị phá vỡ và không chịu sự dài dòng và quá trình phức tạp của sự trao truyền từ thầy sang trò qua nhiều thế hệ. Đích thân Đức Liên Hoa Sinh đã gia trì cho các giáo lý Terma này trước khi chúng được chôn giấu và tiên đoán người sẽ phát lộ chúng trong tương lai.
Khi các thuận duyên – chẳng hạn thời gian và địa điểm thích hợp – xuất hiện, nhờ sức mạnh những lời nguyện của Guru Rinpoche, sự chứng ngộ và lời nguyện của vị Terton tiền định, các giáo lý kho tàng này được phát lộ vì lợi lạc của hữu tình chúng sinh. Nhiều nghi quỹ của Đạo Sư Liên Hoa Sinh được phát lộ bởi các Terton sau này, những vị mà khi đến các địa điểm cụ thể, đã nhớ lại đời quá khứ.
Năm 1990, khi Choje Yidzhin Norbu[5] viếng thăm Paro Taktsang ở Bhutan – một thánh địa, nơi Đức Liên Hoa Sinh đã hiển bày trong hình tướng phẫn nộ, cưỡi hổ cái để điều phục lực ma quỷ – Ngài đã phát lộ Thực Hành Hằng Ngày Dorje Drolo, một nghi quỹ Terma về Đức Liên Hoa Sinh phẫn nộ. Toàn bộ quá trình phát lộ Terma này được ghi lại trong tiểu sử của Ngài, điều hiện có sẵn để tìm hiểu[6].
Các thực hành và giáo lý Mật thừa chứa đựng ý nghĩa sâu xa, thứ vượt xa khỏi sự hiểu quan niệm thông thường. Điều quan trọng với môn đồ Kim Cương thừa là nhận ra điều này.
Trên đây là giải thích theo nghĩa đen, cô đọng về những đoạn kệ từ nghi quỹ Terma của Jamgon Kongtrul Rinpoche về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng.
Như đã nhắc đến lúc bắt đầu bài giảng này, lần này, tôi không có ý định thuyết giảng mở rộng về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Mục đích của tôi là giúp đỡ những vị có niềm tin với Kim Cương thừa hiểu được công đức và lợi lạc của lời cầu nguyện thù thắng này. Tôi tin rằng sau bài giảng này, nhiều người các bạn sẽ tụng lời cầu nguyện này hằng ngày, thậm chí trong lúc đi bộ hay ăn. Cá nhân tôi luôn luôn có niềm tin lớn với một cuốn sách ngay sau khi đọc nó. Tôi nghĩ rằng sự nhiệt thành của các bạn với bài giảng này cũng giống như cảm giác của tôi về cuốn sách vừa đọc xong. Tuy nhiên, tâm của chúng sinh bình phàm hay thay đổi và theo thời gian, bạn có thể cảm thấy không có cảm hứng hay thiếu tinh tấn. Dẫu vậy, khi bạn đã có sự hiểu căn bản về những lợi lạc của lời cầu nguyện này, sự xác quyết và tin tưởng của bạn với nó không thể nào suy giảm nghiêm trọng.
Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng lớn lao của việc cầu nguyện đến Đạo Sư Liên Hoa Sinh trong thời kỳ suy đồi này. Tôi mong các bạn sẽ quán chiếu điểm này. Không phải đơn giản là vì tôi là hành giả Phật giáo Tây Tạng mà tôi chia sẻ giáo lý và thực hành này. Bất cứ điều gì làm lợi hữu tình chúng sinh – dù đó là giáo lý Phật hay bất kỳ điều gì khác – đều đáng được thúc đẩy như nhau. Đây là mục tiêu rốt ráo. Là Phật tử, chúng ta đều cần quán chiếu sâu sắc xem giáo lý nào vô cùng ý nghĩa với lợi lạc của tất cả hữu tình chúng sinh, trong cả đời này và các đời tương lai.
Nguồn Anh ngữ: https://khenposodargye.org/books/ebooks/invoking-guru-rinpoche-a-practical-commentary-on-the-seven-line-prayer/.
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.
[1] Bản dịch Anh ngữ (và Việt ngữ tương ứng) của bản văn gốc dựa trên cuốn sách White Lotus: An Explantion of the Seven-Line Prayer to Guru Padmasambhava, do Nhóm Dịch Padmakara chuyển dịch. Những điều chỉnh nhỏ được giới thiệu bởi biên tập viên chủ yếu để duy trì tính nhất quán với ý nghĩa bối cảnh được trình bày trong bài giảng bằng tiếng Trung của Khenpo Rinpoche.
[2] Tức hrīḥ (trong Phạn ngữ); Tạng: ཧྲཱིཿ (Wylie: hrIH).
[3] Bạn có thể tham khảo câu chuyện về Darcarupa như được kể lại trong Trường Phái Nyingma Của Phật Giáo Tây Tạng – Những Nguyên Tắc Cơ Bản Và Lịch Sử của Dudjom Rinpoche.
[4] Điều này nhắc đến nghi quỹ dựa trên Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, trích từ một kho tàng Giáo Pháp của Pema Garwang Chime Yungdrung Lingpa.
[5] Xuyên suốt cuốn sách này, thuật ngữ Choje, Khenpo Rinpoche, Rinpoche, Kyabje Rinpoche và Yidzhin Norbu được dùng để nhắc đến Khenpo Jigme Phuntsok Rinpoche.
[6] Tham khảo The Golden Garuda: The Extraordinary Life of Modern-Day Mahasiddha Jigme Phuntsok Rinpoche [Kim Sí Điểu Hoàng Kim: Cuộc Đời Phi Phàm Của Đại Thành Tựu Giả Thời Hiện Đại Jigme Phuntsok Rinpoche] (Boulder, CO: Shambhala Publications, 2025).