Quan ĐiểmPhật Giáo là một
hệ thống luân lý và
tu tập trau giồi
tinh thần và
trí thức mà
Đức Phật Gotama đã ban truyền. Đây không phải là một
lối sống tuyệt đối trí thức hay
hoàn toàn duy lý, cũng không phải
chỉ thiên về những
nghi thức lễ bái tụng niệm, mà
bao gồm cả hai sắc thái,
trí thức và xúc cảm của
đời sống con người - tâm và trí.
Nhìn từ
quan điểm này,
Phật Giáo không phải như một vài nhà
phê bình hấp tấp
kết luận, chỉ là một phương thức
suy luận có tánh cách
triết học suông, một
giáo lý siêu hình, và những
lý thuyết trừu tượng hợp lý, không có
giá trị thực tiễn nào hay không có gì quan trọng.
Lối sống của người
Phật tử,
phương pháp của người
Phật tử để nắm vững
chân lý cao
siêu nhất,
tỉnh thức từ giấc mơ
vô minh tiến đến mức
hoàn toàn liễu ngộ, không
tùy thuộc suông nơi sự
hiểu biết trên
lý thuyết hay
thuần túy trí thức, mà trên một
giáo lý dẫn đến
thực hành, và chính sự
phối hợp hữu hạnh giữa
lý thuyết và
thực hành đã hướng dẫn người
tín đồ đến
giác ngộ và
giải thoát cùng tột.
Thái dộ của
Đức Phật đối với cuộc sống không phải chỉ là
trí thức suông mà
thực dụng. Đó là sự
chứng ngộ những gì
tốt đẹp và hữu ích. Nó dẫn đến
luân lý tuyệt hảo và phóng thích
tinh thần. Điều này bao hàm
công trình trau giồi những cảm kích tốt và
buông xả những
xúc động xấu. Sắc thái cảm kích cũng vậy, phải được trau giồi,
mặc dầu riêng rẽ
đơn độc nó không thể đưa đến
mục tiêu cuối cùng. Những
cảm xúc tốt luôn luôn phải được
pha lẫn với
hiểu biết chân chánh, bởi vì phẩm hạnh và
trí tuệ bổ túc lẫn nhau. [1]
Nghi thức, hay một số
hình thức lễ nghi mà người
tín đồ phải nghiêm trì, có chỗ đứng hầu như trong tất cả các
tôn giáo. Trong khi những
nghi thức ấy
cần thiết cho phần cảm kích của
con người ta phải
thận trọng không nên đi quá xa, vì như vậy có thể
bị cảm xúc
ám ảnh và phân hóa. Ta có thể
trở thành nạn nhân của
tình trạng quá
dễ cảm. Trong bất luận việc gì, không nên
quá khích mà phải theo
con đường ở khoảng giữa mà
Đức Phật tán dương.
Đức Phật là
hiện thân của
tâm bi và
trí tuệ (karunà và pannà). Hai phẩm hạnh
từ bi và
trí tuệ trở thành nguyên tắc
chỉ đạo trong mọi công tác
thừa hành Phật sự (sàsana). Qua
kinh nghiệm bản thân Ngài thấu hiểu
ưu thế của
con người, và dạy rằng tất cả những gì mà
con người đạt đến và
thành tựu, đều do sức
cố gắng và
trí thông minh sáng suốt của mình.
Tượng PhậtTrong
Phật Giáo có tập tục được gọi là
Buddha-vandanà, hay
lễ bái Đức Phật.
Tuy nhiên Đức Phật đã
viên tịch, không còn ở đó để nhận lãnh lòng
tôn kính của ai khác. Như vậy, tại sao
sùng kính và
đảnh lễ một người không hiện hữu? Ta có thể hỏi: Tại sao người
Phật tử đến trước
tượng Phật, cội
Bồ Đề, một
bảo tháp hay một vật tương tợ để
lễ bái và nguyện cầu?
Đúng. Nơi đây không có vái van, hay
sùng bái những vật
vô tri vô giác. Đứng trước pho
tượng Phật, người
Phật tử chỉ tưởng nhớ đến sự hướng dẫn vĩ đại và vị thầy mà pho tượng
tượng trưng. Lòng
tôn sùng cao cả nhất là
tôn sùng con người cao cả nhất, những
tâm hồn vĩ đại và
can trường đã
quét sạch vô minh và bứng tận gốc rễ, tận diệt mọi
nhiễm ô trong tâm, bằng cách
chắc chắn nắm vững
thực tướng của
vạn pháp. Người thấy rõ
chân lý là người có thể thật sự giúp ta, nhưng một
Phật tử thuần thành không van vái nguyện cầu. Họ chỉ
lễ lạy để tỏ lòng ngưỡng mộ,
tri ân và khâm phục người đã
khám phá chân lý và
soi sáng cho họ
con đường dẫn đến
hạnh phúc thật sự và
giải thoát.
Trong hành động
lễ bái này chính người
thiện tín có
tâm đạo nhiệt thành
thọ hưởng lợi ích.
Tư tưởng,
lời nói và hành động của họ là
trong sạch trong khi tưởng niệm những phẩm hạnh của
Đức Phật và
chú tâm vào đó. Họ
thọ lãnh nguồn gợi cảm và được sự
nâng đỡ tinh thần, dốc lòng ước muốn noi theo gương lành của
Đức Bổn Sư. Đây là một lối hành thiền hữu ích.
Chúng ta tôn trọng những người đã
quá vãng. Tại sao người ta đặt
tràng hoa trước đài kỷ niệm chiến sĩ trận vong? Tại sao ta dành một chỗ xứng đáng trên tường nhà để treo hình
cha mẹ và những người thân? Có
phải chăng vì
tôn trọng bức ảnh hay
tôn trọng cái khung? Chắc không phải. Người ta
tôn trọng và
sùng kính một người thân đã
quá vãng. Như vậy, khi người
Phật tử đến gần pho
tượng Phật, vốn là một
đề mục hành thiền, và tưởng nhớ đến Đức
Tôn Sư với lòng
tri ân và khâm phục
sâu xa, gọi đó là
sùng bái thần tượng một cách
vô ích thì có đúng không?
Tuy nhiên cũng nên
ghi nhận rằng trong
trường hợp của người đã
tiến bộ khá nhiều thì
nghi thức lễ bái trừu tượng cũng không mấy
cần thiết. Họ có thể
hình dung tánh cách vĩ đại của
Đức Phật mà không cần một
biểu tượng,
hình ảnh hay pho tượng, vốn rất cần và đôi khi là
vô cùng thiết yếu đối với người mà
tinh thần chưa được
tiến bộ.
Mặc dầu vậy, không phải chỉ có những người thuộc loại
nhạy cảm, mà chí đến các bậc
trí thức cao thâm và những đại
tư tưởng gia cũng cảm kích mạnh mẽ trước pho
tượng Phật.
Trong bản tự thuật
tiểu sử của mình, Jawaharlal Nehru viết:
"Tại Anuradhapura (Ceylon), tôi rất thích một pho
tượng Phật ngồi rất cũ. Một năm sau, khi tôi ở Dehra Dun Gaol, có một người bạn từ Ceylon gởi biếu bức ảnh của pho tượng ấy, và tôi giữ nó trên bàn nhỏ trong phòng giam của tôi. Nó
trở thành người
bạn thân quý báu, và
hình ảnh vô cùng trầm lặng của pho tượng thoa dịu cơn sầu và cho tôi
sức mạnh, giúp tôi
vượt qua những lúc
tinh thần suy nhược.
"Đức Phật lúc nào cũng là nguồn gợi cảm
dồi dào cho tôi ... Chính phẩm cách
cá nhân của Ngài đã
lôi cuốn tôi." [2]
Bá tước Kayserling trong quyển The Travel Diary of a Philosopher viết: "Tôi không biết cái chi trong
thế gian này vĩ đại hơn
hình ảnh của
đức Phật. Đó là
hiện thân tuyệt hảo của
tâm linh trong
lãnh vực hữu hình."
Dâng Hoa Cúng DườngTrong các xứ
Phật Giáo ta thường thấy những
thiện tín nhiệt thành, già cũng như trẻ, và chí đến những em bé,
dâng hoa trước một pho tượng hay một vài lễ phẩm
thiêng liêng, thắp đèn dầu và
đốt hương trầm để
cúng dường,
lễ Phật. Trẻ em thường
thích thú góp nhặt và sắp sửa bông hoa trước khi dâng cúng
Đức Phật. Trong khi học
thưởng thức sắc thái thẩm mỹ của sự vật, các em cũng
tu tập đức tánh
quảng đại,
buông bỏ, và trên
hết lòng tôn kính Đức Phật, bậc
Tôn Sư,
Giáo Pháp,
Giáo Huấn mà Ngài giáo truyền và
Tăng Già, những người bước
theo dấu chân của Ngài.
Bây giờ, khi người
Phật tử dâng hoa, hay thắp đèn, và suy niệm về những phẩm hạnh của
Đức Phật, người ấy không vái van bất cứ ai; sự
cúng dường ấy không phải là
nghi thức,
nghi lễ hay
sùng bái.
Những tai hoa sớm tàn, và những
ngọn đèn sớm lụn nói lên cho họ biết đặc tướng
vô thường (anicca) của tất cả những sự vật được
cấu tạo. Pho tượng là một
đề mục để gom
tâm an trụ, hành thiền; người ấy cảm kích mạnh mẽ và
cố gắng noi theo gương lành
trong sạch của
Đức Bổn Sư. Những ai không
thông hiểu ý nghĩa của sự dâng cúng
đơn giản ấy hấp tấp
kết luận: đó là
sùng bái thần tượng. Không có chi có thể sai
sự thật hơn.
Lễ Cưới Trong
Phật GiáoKhông có
nghi thức đám cưới trong
Phật Giáo như ta thấy trong các
tôn giáo khác. Những
nhà sư Phật Giáo không thể thay thế một
thần linh để ban pháp lành cho cuộc
hôn nhân. Như vậy, các Ngài không
dự phần trong lễ cưới. Tại Sri Lanka (
Tích Lan), những người chú trọng nhiều về tập tục thường mời một
vị cư sĩ, người lớn tuổi và
thông thạo lễ nghi trong
gia đình, đứng ra làm chủ đám, đọc những câu kinh phúc chúc cho cặp vợ chồng mới được
Tam Bảo hộ trì.
Trong vài đám cưới, có một đoàn
thiếu nữ mặc toàn quốc phục màu trắng,
đồng thanh đọc tụng những câu kinh phúc chúc có tên là Jayamangala Gàtha,
mô tả vài phẩm hạnh
đặc biệt của
Đức Phật.
Thông thường, một vài ngày trước lễ cưới
chư tăng được cung thỉnh đến nhà cặp vợ chồng sắp cưới để dự buỗi
trai tăng (dàna). Sau khi thọ
lễ vật cúng dường chư tăng đọc kinh, những bài giảng của
Đức Phật,
đặc biệt là Mangala Sutta (
Hạnh Phúc Kinh), một
bài kinh phúc chúc, rồi một vị sư
đại diện,
thuyết giảng một thời Pháp ngắn để khuyên nhủ, khuyến khích và thuật lại những cuộc sống
gia đình hạnh phúc được ghi trong
kinh điển. Một trong những chuyện tích thường được nhắc đến là cuộc sống an vui của vợ chồng Nakulapità và Nakulamàtà, được thuật dưới đây.
Liền sau khi lễ cưới
chấm dứt, vài người
Phật tử thích đến chùa hay một
tu viện để được
chư tăng đọc những bài Parittas sutta, hay kinh để
bảo vệ.
Nhân dịp này, cặp vợ chồng mới cũng được nghe dạy về bổn phận của mỗi người và cách đối xử với người bạn đời của mình như
Đức Phật giải thích trong kinh Sigalovàda Sutta (Kinh
Thiện Sanh). [3]
Nhà sư làm tất cả những bổn phận có tánh cách
tôn giáo ấy
hoàn toàn miễn phí. Phần người
cư sĩ, cũng phải chăm lo nhu cầu của
nhà sư, vốn thật sự
tùy thuộc nơi người
cư sĩ thuần thành về những điều
cần phải có, tứ
vật dụng:
y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men. Không có
nghi thức đám cưới, cũng không có lễ
đăng ký hôn thú trong
chánh điện, ở chùa hay ở
tu viện, vì đó là những
thủ tục ngoài đời.
Câu chuyện của Nakulapità và Nakulamàtà
Hai diễn biến được đề cập đến trong
kinh điển cho thấy một
niềm tin vững chắc và một
tình thương trong sạch giữa đôi vợ chồng có thể dẫn dắt họ đi xa đến độ nào.
Nakulapità và Nakulamàtà là cặp vợ chồng
minh mẫn sáng suốt sống thời
Đức Phật Gotama. Khi
Đức Bổn Sư đến viếng nhà, cả hai
lần lượt đến gần đảnh lễ Ngài, và Nakulapità, người chồng, bạch: "Bạch
Đức Thế Tôn, lúc còn là một thanh niên khá trẻ con cưới Nakulamàtà, chỉ là một
thiếu nữ xuân xanh, về làm vợ. Từ ngày chúng con thành vợ thành chồng
đến nay,
Bạch Đức Thế Tôn, con không biết
một lần nào con có
tư tưởng sai trái đối với
vợ con, càng không có hành động
lỗi lầm.
Bạch Đức Thế Tôn, chúng con khẩn thiết
ước mong được như thế này, không phải chỉ trong kiếp sống
hiện tiền, mà
mãi mãi trong đời sống tương lai." Rồi Nakulamàtà, người vợ, cũng bạch với
Đức Phật y như vậy.
Đức Phật dạy:
"Nếu hai vợ chồng đều ước muốn cùng sống với nhau trong chính kiếp hiện tại và mãi mãi trong đời sống tương lai, nếu cả hai đều có niềm tin nơi Tam Bảo (saddhà), giới đức (sìla), tâm quảng đại (càga), và trí tuệ (pannà) bằng nhau, thì sẽ cùng nhau thương yêu, chung sống trong chính kiếp hiện tại và trong đời sống tương lai." (Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, ii, 61.)Diễn biến kia cũng được ghi chép trong bộ Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm [4].
Một lần nọ Nakulapità lâm trọng bịnh. Nakulamàtà, vợ ông đến bên giường
nhỏ nhẹ dịu dàng an ủi, nhắc lại nhiều đức tính của bà và khuyên ông không nên
lo âu,
hoài nghi, hay
phiền muộn về bà. Bà nhắc nhở ông không nên có
ý nghĩ làm khuấy động
tâm linh và
tổn hại sức khỏe.
Khi được bà vợ
thân yêu khuyên lơn và
an ủi như vậy, bịnh tình của Nakulapità
dần dần thuyên giảm. Ông chống gậy đến
đảnh lễ Đức Phật.
Đức Phật nhân cơ hội,
tán dương phẩm hạnh của bà Nakulamàtà và dạy: "Này ông
thiện nam, ông rất hữu phúc có được bà vợ, vừa là người dẫn dắt vừa là thầy, như Nakulamàtà. Bà rất
từ bi và
hết lòng mong mỏi những gì
tốt đẹp nhất cho ông."
Được biết rằng cả hai đều
chứng đắc thánh quả và cả hai ông bà được
Đức Phật ngợi khen là hạng người có
niềm tin vững chắc nhất nơi
Tam Bảo.
Tang Lễ Theo
Phật GiáoCũng như trong
trường hợp lễ cưới, tang lễ của người
Phật tử được
cử hành đơn giản, không có chi
phiền phức. Khi một người
Phật tử qua đời
thân nhân cung thỉnh
chư tăng về nhà người chết hoặc đến nghĩa trang để
hành lễ.
Trước tiên mọi người đọc kinh quy y Tam Bảo (tisaranà) và thọ
ngũ giới (panca sìla).
Kế đó những người thân (con cái, trong
trường hợp người
quá vãng là
cha mẹ) dâng vải trắng đến
chư tăng. Phước báu phát sanh do sự
cúng dường này được
hồi hướng đến người
quá vãng như sau:
Idam me nàtinam hotuSukhità hontu nàtayo.
"Xin hồi hướng (phước báu) này đến thân nhân của tôi đã quá vãng. Ngưỡng nguyện thân nhân tôi được an lành hạnh phúc!"Trong khi đọc câu kinh Pali trên, con cái hay người thân trong nhà từ từ sớt nước từ một lọ nhỏ vào cái chén không
cho đến lúc nước đầy tràn, một
cử chỉ tượng trưng là phước báu đã được
hồi hướng.
Lúc ấy chư tăng đọc tụng câu kinh
đặc biệt thích hợp với cơ hội này:
Aniccà vata samkhàrà -- uppàda vaya dhamminoUppajjitvà nirujjhanti -- tesam vupasamo sukho.
"Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường,Sanh rồi diệt, đó là bản chất thiên nhiên của chúng;Chúng phát sanh và hoại diệt,Thoát ra khỏi chúng là hạnh phúc tối thượng."Sau đó là một thời Pháp ngắn
nhấn mạnh về đặc tướng
vô thường của
vạn pháp -- rằng cái chết đến với tất cả
mọi người và
chấm dứt cuộc sống ngắn ngủi này.
Vào ngày thứ sáu sau khi
thân nhân lâm chung, người nhà cung thỉnh một vị sư về vào một buổi chiều tối để
thuyết Pháp, Thông thường, vị
Pháp Sư giảng về hai
thực tại của
đời sống,
vô thường và
đau khổ, và
bản chất của thảm kịch sống và chết.
Vào ngày thứ bảy, nhiều vị sư được thỉnh về nhà thọ trai (dàna) và
đọc kinh hồi hướng đến người
quá cố. Phần lớn các
nghi thức ấy cũng được lặp lại khi đúng ba tháng.
Nếu sống trong một xứ không có
Phật Giáo, không có
nhà sư, thì hàng
cư sĩ có thể đọc chung
với nhau hai câu kinh trên và
hồi hướng đến người
quá cố.
I. Vào Lúc
Lâm ChungCó những sự
hiểu biết hữu ích để giúp người ta sanh đẻ dễ dàng, nhưng không có ngành khoa học nào giúp người từ giã cõi đời, ra đi một cách
thoải mái.
Phật Giáo chú trọng nhiều về phần
tâm linh, xem chập
tư tưởng cuối cùng của người sắp
lâm chung thật
vô cùng quan trọng, vì nó tạo duyên cho kiếp
sinh tồn sắp tới. Trong nhiều
trường hợp, khi biết một người sắp chết,
Đức Phật nói lên những lời
thích nghi có nhiều
ý nghĩa nhằm đặt cái tâm người ấy vào khuôn khổ chân chánh.
Chỉ thoáng nhìn thấy
Đức Phật hoặc, vào thời buổi không có một vị Phật hay một vị
A La Hán,
hình dáng nhà sư hay một người
thánh thiện cũng là niềm
an ủi lớn lao cho người
lâm chung. Bản
Chú Giải Kinh Pháp Cú có ghi chép
câu chuyện sau đây: [5]
Tại Sàvatthì có người
Bà la môn bẩm tánh
hà tiện. Con
duy nhất của ông ta tên Matthakundali. Khi đứa bé lên mười sáu thì
thình lình lâm bịnh. Mẹ em rất muốn dẫn em đến nhờ
lương y chẩn mạch, nhưng người cha tiếc tiền, chỉ cho đi
nếu không mất chút ít
tiền của gì của ông. Khi
sức khỏe con quá
kiệt quệ ông mới bằng lòng cho rước thầy. Nhưng thầy cũng chạy, vì bịnh tình đã
trầm trọng đến mức không còn có thể chữa.
Người cha biết chắc rằng con mình sắp chết mới
nghĩ thầm: "Khi con ta chết ắt có đông bạn bè và
bà con quyến thuộc đến viếng và họ sẽ
dòm ngó của cải trong nhà. Ta sẽ gặp khó khăn." Và ông để cho đứa
con bịnh nằm trước hàng ba.
Biết
tình trạng đáng thương của em bé,
Đức Phật đến viếng. Đứa bé đang
lâm chung thoáng nhìn thấy
hình dáng của
Đức Bổn Sư,
sáng ngời và
rực rỡ tâm từ vô lượng. Một
hình ảnh cao cả vĩ đại mà trước đây em chưa từng bao giờ thấy. Trong
tình trạng vô cùng phỉ lạc ấy em muốn
chấp tay đảnh lễ đấng
Đại Từ Đại Bi, nhưng hai tay xuôi cứng, em không
đủ sức dở lên. Với
tâm trí tràn đầy kỉnh mộ và
sùng kính, em chăm chăm nhìn
Đức Bổn Sư như muốn lễ Ngài.
Đức Phật giải thích; "Nó làm bấy nhiêu đó đã đủ rồi," và
trở về Tịnh Xá Jetavana (
Kỳ Viên).
Lúc ấy thì em bé trút
hơi thở cuối cùng và
tái sanh vào một
cõi trời (deva),
cảnh giới nhàn lạc.
Một trong những phước lành của người
thường niệm tâm từ (mettà bhàvanà) là không bao giờ người ấy chết với tâm
loạn động (assmmmùlho kàlam karoti) [6]. Trong giờ phút
lâm chung vô cùng quan trọng người
Phật tử thường đến cạnh giường bịnh nhân
đọc tụng Satipatthanà Sutta,
Kinh Tứ Niệm Xứ [7].
Việc làm này sẽ giúp cho người bịnh tạo những
tư tưởng thiện trước khi thở hơi
cuối cùng. Dầu cho người bịnh không hiểu gì về
ý nghĩa của lời kinh, là một
Phật tử, đã có
niềm tin nơi
Tam Bảo (saddhà), khi nghe tới nghe lui giọng
đọc tụng những câu kinh (gàthà)
quen thuộc, có nhiều
hy vọng rằng vị ấy sẽ thấm nhập vào
trạng thái tâm thiện,
hoan hỷ thưởng thức giọng kinh. Bất cứ ai giúp một người sắp
lâm chung nhập vào
trạng thái tâm chân chánh quả thật là người
bạn thân nhất (kalyàna mitta).
II.
Mai Táng Và
Hỏa TángNghi thức của
Phật Giáo đối với nhục thể của người
quá vãng như thế nào?
Mai táng hay hỏa táng?
Trong bài Mahà Parinibbàna Sutta (
Kinh Đại Niết Bàn) [8], Đức Ànanda, vị
thị giả của
Đức Phật, cũng bạch hỏi Ngài câu ấy: "Chúng con phải làm thế nào,
Bạch Đức Thế Tôn, với
pháp thể của đấng
Như Lai, đấng Trọn Lành?"
Đức Phật đáp rằng nhục thể phải được
hỏa táng như trong
trường hợp của một vị Cakkavatti Ràja,
Chuyển Luân Pháp Vương.
Ngoài
tuyên ngôn này của
Đức Phật,
kinh điển không có đoạn nào đề cập đến
việc phải làm thế nào với xác người chết. Không có một
nghi thức chung. Vài người thích
hỏa táng, những người khác thích
mai táng.
Tuy nhiên, với
tình trạng ngày càng thiếu đất đai cho người ở, và dân số
tăng trưởng nhanh chóng đến mức
báo động, tưởng cũng nên nghĩ đến
hỏa táng, hơn là chôn cất. Về
phương diện vệ sinh cũng vậy,
hỏa táng là
thích hợp hơn trong nhiều
quốc gia.
Tro của người được
hỏa táng cũng vậy, không có một
nghi thức chung cho tất cả
mọi người. Có thể đựng trong một cái lọ hoặc tôn trí trong một đền thờ được tạo dựng để tưởng niệm người chết.
Có tập tục tạo dựng những
bảo tháp để tôn trí tro của
Đức Phật và những vị
A La Hán.
Hình ảnh của ngôi
bảo tháp làm êm dịu
tâm trí và gợi cho ta cảm nhớ những cuộc sống
tuyệt đối trong sạch của các bậc
thánh nhân ấy. Chính
Đức Phật có đề cập đến điều này trong kinh Mahà Parinibbàna Sutta (
Đại Niết Bàn).
Giá Trị Của Kinh Paritta (Pirit)
"Gần đây,
công trình khảo cứu y khoa về
tâm lý học thực nghiệm đã rọi vài
tia sáng vào
bản chất của tâm và
vị trí của nó trên
thế gian. Trong bốn mươi năm sau này, giới y khoa ngày càng
tin tưởng chắc chắn hơn rằng các chứng bịnh, thuộc hữu cơ cũng như những bịnh thuộc về
cơ năng, trực tiếp khởi sanh do những
trạng thái tâm linh.
"Cơ thể lâm bịnh vì cái tâm mà
kiểm soát nó thầm kín muốn làm cho nó bịnh hay gì khác, bởi vì trong
trạng thái loạn động như vậy không thể
ngăn ngừa cơ thể khỏi bịnh. Dầu
tình trạng vật lý như thế nào, sức kháng bịnh
chắc chắn phải
liên hệ đến
điều kiện (
tâm linh) của bịnh nhân." [9]
"Tâm không những chỉ gây bịnh, mà cũng chữa bịnh. Một bịnh nhân
lạc quan có nhiều
hy vọng được
hồi phục hơn là người bịnh luôn luôn
lo âu và
bất mãn. Có nhiều
trường hợp được
ghi nhận cho thấy rằng một
niềm tin vững chắc có khả năng chữa trị, luôn cả những chứng bịnh thuộc hữu cơ, hầu như tức khắc." [10]
Về điểm này ta
thích thú ghi nhận rằng trong các
quốc gia Phật Giáo rất
thường có người đặt hết
niềm tin lắng nghe đọc những
bài kinh nhằm
bảo vệ,
thoát khỏi ảnh hưởng xấu, và đem lại
tình trạng an lành hạnh phúc. Những
bài kinh được chọn lựa để
đọc tụng có tên là Paritta suttas. Danh từ Pali
"Paritta" (tiếng Sanskrit là
Paritrana và tiếng Sinhala là
Pirit) nghĩa chánh là "bảo vệ". Danh từ này
mô tả vài
bài kinh, hay bài giảng (do
Đức Phật thuyết), được xem là có
tư cách bảo vệ và làm cho
thoát khỏi những
ảnh hưởng xấu.
Nghi thức đọc tụng và nghe Paritta sutta bắt đầu từ xa xưa
trong lịch sử Phật Giáo.
Chắc chắn rằng đọc những
bài kinh này có tạo
trạng thái tâm
an lành cho những ai lắng nghe một cách
hiểu biết và
tin tưởng nơi
chân lý của Phật ngôn. Tâm trạng
an lành như vậy có thể giúp một người bịnh sớm
phục hồi và cũng có thể giúp đưa đến
thái độ tinh thần an lạc hạnh phúc. Lúc
ban sơ, tại
Ấn Độ những người nghe chính
Đức Phật nói lên
bài kinh Paritta,
hiểu biết ý nghĩa của lời kinh thì có rất nhiều
linh nghiệm.
Đức Phật cũng được người khác
đọc kinh Paritta cho Ngài, và cũng có khi Ngài
yêu cầu người khác đọc cho các vị
đệ tử của Ngài khi lâm bịnh.
Nghi thức này vẫn còn thạnh hành trong các
quốc gia Phật Giáo.
Đức Phật và chư vị
A La Hán có thể gom tâm vào những
bài kinh Paritta mà không cần ai giúp.
Tuy nhiên, khi đau ốm bịnh hoạn, các Ngài nghe người khác đọc rồi
trụ tâm vào
Giáo Pháp chứa đựng trong kinh thì dễ dàng hơn là chính các Ngài nghĩ đến
Giáo Pháp. Trong những
trường hợp như
bịnh nặng,
tâm trí mệt mỏi, có ai gợi lên cho ta
ý nghĩ thì
công hiệu hơn là chính ta tự kỷ ám thị.
Theo
Giáo Pháp, tâm
mật thiết dính liền với thân đến độ những
trạng thái tâm có thể
ảnh hưởng đến
sức khỏe và
tình trạng an lành của cơ thể. Cũng có vài
bác sĩ nói rằng không có chi
thuần túy là bịnh cơ thể. Như vậy, ngoại trừ
trường hợp những
trạng thái tâm bất thiện ấy
sanh khởi do những hành động
bất thiện trong
quá khứ (akusala kamma-vipàka), và như
vậy thì không thể
tu chính, ta có thể
sửa đổi để làm cho
sức khỏe tâm linh và
tình trạng an lạc của thân có thể theo đó
cải thiện.
Rung động của những
âm thanh mà kinh Paritta tạo nên làm êm dịu
thần kinh và đưa đến
trạng thái tâm
thanh bình an lạc, hòa điệu với
toàn thể hệ thống.
Bằng cách nào đọc Paritta Suttas có thể
đối trị những
ảnh hưởng xấu của các
chúng sanh bất thiện? Những
ảnh hưởng xấu ấy là kết quả của sự suy tư
bất thiện. Như vậy, có thể
đối trị nó bằng các
trạng thái tâm tốt. Những
trạng thái tâm tốt này phát sanh do sự lắng nghe những lời dạy của kinh Paritta một cách
hiểu biết và với
niềm tin vững chắc. Chăm chú lắng nghe giúp gom tâm.
Tâm an trụ nhiệt thành
theo dõi chân lý của
lời Phật dạy sẽ
tiêu trừ những
tư tưởng bất thiện.
Đọc Paritta Sutta là một
hình thức saccakiriya,
nương nhờ chân lý để được
bảo vệ,
xác nhận chân lý để tự
bảo vệ. Đây có nghĩa là tự đặt mình
trọn vẹn củng cố trong
chân lý để
đạt đến mục tiêu. Câu nói: "Oai lực của
chân lý bảo vệ người sống theo chân lý" (Dhammo have rakkhati dhammacàrim) là nguyên tắc nằm phía sau
công phu đọc tụng những
bài kinh này. Nếu đúng thật
đức hạnh bảo vệ con người đức hạnh, thì một người chăm chú lắng nghe kinh với
niềm tin vững chắc nơi những lời của
Đức Phật, vốn phát xuất
từ trí tuệ của một đấng
toàn giác, ắt phải tiến
đạt đến trạng thái tâm đầy đủ phẩm hạnh để
diệt trừ mọi
ảnh hưởng bất thiện.
Đọc tụng những bài Paritta suttas cũng đem lại phước lành có tánh cách
vật chất xuyên qua những
trạng thái tâm linh, bằng cách gom
tâm an trụ và đặt
niềm tin trong sự lắng
nghe lời kinh một cách
hiểu biết. Theo lời dạy của
Đức Phật,
chánh tinh tấn là
yếu tố thiết yếu để khắc phục
đau khổ (viriyena dukkham accheti) [11].
Thành tâm lắng nghe những
bài kinh ấy một cách
thích nghi cũng làm tăng thêm lòng thiết tha muốn làm những việc tốt, và
chuyên cần thuận theo con đường tiến bộ của
thế gian.
Đã được biết rằng lắng tai nghe các bài Paritta suttas một cách
hiểu biết và
tin tưởng, sẽ tạo cho người nghe những
thiện pháp có thể chữa trị và
ngăn ngừa bịnh. Không có thuốc nào
công hiệu như
chân lý (Dhamma), cho cả thân lẫn tâm, vốn là
nguyên nhân của tất cả mọi
đau khổ và
bất hạnh. Như vậy Paritta suttas, khi được lắng nghe một cách chân chánh, sẽ đem lại
tiến bộ tinh thần và
tình trạng vật chất thanh bình,
an lạc.
Sách Paritta (
Bảo Vệ)
Ta lấy làm
thích thú và
mát mẻ mà
ghi nhận rằng hầu như trong nhà tất cả
mọi người Phật tử ở Sri Lanka (
Tích Lan) đều có một quyển sách Paritta, hay sách
Bảo Vệ, luôn luôn được
tôn kính cất giữ ở một nơi quan trọng.
Sách chứa đựng những gì? Đây là một tuyển tập hai mươi ba
bài kinh, hầu hết đều do
Đức Phật thuyết giảng, được ghi chép rải rác đó đây trong năm bộ
A Hàm, Nikàyas, gom chung lại thành
Tạng Kinh, Sutta Pitaka hay "Giỏ Đựng Kinh". Trước khi đọc những
bài kinh này có
nghi thức quy y Tam Bảo (saranagamana); thọ
Mười Giới (dasa sikkhà-padàni); và
những câu hỏi được nêu lên cho thầy sa di (sàmanera panhà), cũng được gọi là câu hỏi cho người trẻ tuổi (kumàra panhà). Trong hai mươi ba
bài kinh này được biết nhiều nhất là
Hạnh Phúc Kinh (Mangala Sutta), Tam Bảo Kinh (Ratana Sutta), và Từ Bi Kinh (Mettà Sutta).Trong sách Paritta (
Bảo Vệ) cũng có những bài giảng quan
trọng như Dhammacakkapavattana Sutta (Kinh
Chuyển Pháp Luân, bài giảng đầu tiên của
Đức Phật, thuyết tại
Vườn Lộc Uyển, Isipatana, Vàrànasi); bài
Sacca-vibhanga,
Phân Giải (Bốn)
Chân Lý, và
Bojjhangas,
Thất Giác Chi hay
Thất Bồ Đề Phần.
Khi các
nhà sư được cung thỉnh về nhà trong những
trường hợp như sinh nhật, tân gia, đau ốm hay những diễn biến tương tợ, thông thường các Ngài
đọc tụng những
bài kinh được đề cập trên đây. Trong những cơ hội
đặc biệt,
chư tăng được cung thỉnh
đọc tụng Paritta suttas, không phải một thời kinh mà luôn suốt đêm. Lúc
khai kinh,
chư tăng (thường là mười hai vị) cùng đọc chung
với nhau ba
bài kinh được đề cập ở phần trên. Sau đó từng cặp, mỗi lần hai vị,
tiếp tục đọc tụng hai tiếng đồng hồ, rồi nghĩ. Hai vị khác
tiếp theo đọc hai tiếng, và cứ thế sáu cặp thay phiên nhau
tụng kinh suốt đến bình minh.
Trong khi
chư tăng tụng kinh người ta để một lọ nước trên bàn
trước mặt các Ngài. Trên bàn cũng có một quyển kinh Paritta ghi chép trên lá buôn, một cuồng chỉ đã được
tháo gỡ và trao chuyền từ mỗi vị sư đến những người
cư sĩ, mỗi người cầm chỉ trên tay trong khi
chư tăng đọc tụng ba
bài kinh thông thường để khai mạc. Đến sáng, vào lúc bế mạc, trọn các
bài kinh trong sách đã được
đọc tụng, chỉ được cắt ra từng đoạn và phân phối cho hàng
cư sĩ. Nước trong lọ cũng được sớt ra và phân phối. Đây là
nghi thức tượng trưng cho oai lực
bảo vệ của kinh Paritta đã được
đọc tụng. Nước và chỉ này có những
linh nghiệm tâm lý.
Một thắc mắc có thể được nêu lên: sách Paritta có đem lại kết quả
mong mỏi mỗi lần
đọc tụng không? Về điểm này, câu
trả lời của
Đại Đức Nagasena với Vua Milinda, "tại sao trong mọi
trường hợp kinh Paritta không
bảo vệ ta khỏi chết," đáng được ghi nhớ.
Có ba
nguyên nhân làm cho kinh Paritta có
thể không linh nghiệm:
1.
chướng ngại của nghiệp (kammà- varanena);
2.
chướng ngại của
ô nhiễm (kilesa-varanena); và
3. thiếu
niềm tin (asaddhànatàya). [12]
Hồi Hướng Phước BáuĐời sống sau khi chết (và do đó,
đời sống trước khi sanh) là một trong những
giáo lý chánh yếu của
Đức Phật. Người
Phật tử tin nơi
tái sanh hay một cách
chính xác -- nơi sự
trở thành trở lại (không phải là
đầu thai, bởi vì nói
đầu thai là hàm xúc
ý nghĩ có một
linh hồn thường còn không
biến đổi,
chuyển sinh vào bên trong cơ thể của một người hay một con thú). Theo
lời khuyên của
Đức Phật người
Phật tử chia sẻ phước báu cho
thân nhân quá vãng. Hành động này thường được gọi là "hồi hướng phước báu", tức trao chuyển
công đức mà mình đã tạo đến người
quá cố.
Trong
Phật Giáo danh từ
"phước báu" (punna) được dùng trong
ý nghĩa việc làm tốt, thiện, tạo
thiện nghiệp. Những việc mà mình làm với tâm
trong sạch; hành động được
thực hiện với
tác ý tốt,
thiện tâm. Hành động (kamma) có ba: hành động bằng thân, khẩu hay ý. Tất cả mọi hành động, thiện hay
bất thiện, đều gây
phản ứng (kamma-vipàka).
Một người đã tạo
thiện nghiệp quyết tâm trao chuyển, chia sẻ quả lành đến "vị này, vị này". Sự "hồi hướng phước báu" tự nó là một hành động tốt và người
hồi hướng không có mất gì, mà
trái lại còn tích trử thêm phước báu. Khi
hồi hướng phước báu đến người
quá vãng, người
Phật tử đọc một
công thức ngắn gọn bằng tiếng Pali:
"idam vo nàtinam hotu sukhita hontu nàtayo". "Ngưỡng nguyện phước báu này phát sanh đến thân nhân chúng tôi, cầu xin thân nhân chúng tôi được an vui hạnh phúc."Trong thời
Đức Phật, tại
Ấn Độ người ta dùng máu để tế lễ
thần linh.
Đức Phật có
thái độ dứt khoát đối với hành động
sát sanh, bất luận
sát sanh để nhằm vào
mục tiêu nào.
Tâm từ vô lượng bao trùm tất cả
chúng sanh của Ngài đã thắng
triết học Veda (
Phệ Đà) và
triết học Upanishad với sự
cảm hóa Vua Seniya Bimbisara (
Bình Sa Vương) của xứ Magadha (
Ma Kiệt Đà), người đầu tiên
chấp nhận chánh sách ahimsà (
bất bạo động) một cách không thể
đảo ngược. Ông
ban hành đạo luật phải được
áp dụng toàn quốc, cấm
hy sinh mạng thú để tế lễ
thần linh. Các nhà cầm quyền trị dân khác cũng noi theo gương lành của ông.
Tạng Kinh, tuyển tập các bài
thuyết giảng của
Đức Phật, có nhiều
bài kinh trong đó
Đức Phật thuyết phục các vị
bà la môn nên thấy rõ đường lối
sai lầm của họ và
chấm dứt tập tục
hy sinh con vật để tế lễ
thần linh. Kùtadanta Sutta (Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, số 5) là một trong những
bài kinh ấy.
Tập tục được
lưu truyền từ xưa
đến nay là trong khi
chư tăng đọc kinh để
hồi hướng đến
thân nhân quá vãng, người
thiện tín sớt nước từ một cái lọ đầy vào ly trống
cho đến khi nước tràn ly. Tập tục này không thấy có ghi ở nơi nào trong
kinh điển.
Tuy nhiên, không phải vì thế mà
chỉ trích và
từ bỏ. Tánh cách
thiêng liêng của
nghi thức này đã từ lâu được
tín nhiệm.
Đức Phật cho phép áp dụng những tập tục
xã hội nào mà không đi ngược
giáo huấn của Ngài.
Trong dịp lễ khánh thành ngôi chùa Jetavana (
Kỳ Viên Tự), người ta rót nước vào tay của
Đức Phật. Trong lễ thành hôn, cô dâu và chú rễ nắm tay nhau, và nước được rót lên.
Hồi hướng phước báu là một hành động
quý báu theo đó người cho phước
phát tâm trong sạch muốn
phục hồi cho
thân nhân quá vãng, từ
tình trạng bất hạnh trở lại trạng thái an vui
hạnh phúc.
Vì lẽ ấy nghi thức này phải được
cử hành nghiêm trọng. Dầu sao, người không quen với tập tục xưa cũ này không nên làm hư hõng việc
hồi hướng phước báu.
Trong các xứ
Phật Giáo, sau khi
nghi thức dâng vật thực đến
chư tăng đã
hoàn tất, thì chư sư, những vị hội viên của
Giáo Hội Tăng Già,
đồng thanh đọc câu
hồi hướng phước báu đến người
quá cố như sau:
"Cũng như nước từ trên cao chảy xuống thấp, cùng thế ấy, phước báu (mà thân nhân làm đây) ở cảnh người, được chia sẻ cho người quá vãng (ở một cảnh giới khác).
"Cũng như nước từ các sông ngòi tuôn chảy làm đầy biển cả, cùng thế ấy, phước báu này được chia sẻ cho thân nhân quá vãng."
-- (Tirokudda Sutta, Khuddakapàtha, trang 213).Có chăng một ngày
nhất định để tạo phước và
hồi hướng đến
thân nhân quá vãng? Không có lời dạy nào của
Đức Phật,
cho biết ngày giờ
nhất định.
Tuy nhiên, người
Phật tử thường có thói quen chọn ngày thứ ba, ngày thứ bảy, tháng thứ ba, và đôi khi ngày giáp năm, để cúng. Ta nên theo tập tục, và cũng nên nhớ câu
châm ngôn mà người uống trà thường nói: "Giờ nào cũng là giờ uống trà" [13]. Có nghĩa là: mỗi khi tạo phước báu, bất cứ lúc nào, hãy nhớ đến người thân
quá vãng, từ khi bắt đầu
việc làm.
Sau khi làm một điều thiện, tạo phước báu, người
Phật tử cũng
hồi hướng đến
chư thiên (devatà,
chúng sanh ở cảnh trời). Bởi vì các vị này cũng mong muốn được chia sẻ phước báu mà
con người hồi hướng. Dầu sao,
chư thiên không phải là những
chúng sanh siêu thế có những
quyền năng siêu thế. Các vị ấy được sanh vào nhàn cảnh (sugati) và có thể giúp người, theo
phương cách của các Ngài.
Năng lực của các vị này vẫn còn
tại thế và hạn định, không thể dẫn dắt đến
giác ngộ và
giải thoát cùng tột. Các Ngài cũng còn chịu
ảnh hưởng của
định luật nghiệp báo (kamma),
vô thường và chết -- dầu ở
cảnh người hay cảnh trời, không ai
thoát khỏi cảnh chết chóc.
Con người hồi hướng phước báu đến
chư thiên và các Ngài
hoan hỷ và như thế có
tình trạng hòa điệu,
thiện ý, và
thanh bình an lạc giữa hai
cảnh giới, người và
chư thiên.
Chú thích:
[1] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, 4, 124.
[2] Nehru, An Autobiography, (John Lane, The Bodley Head, London, 1942), trang 271
[3] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, 31. Xem Everyman's Ethics, (Kandy: BPS) loại Wheel #14.
[4] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, iii, 295.
[5] Dhammapadatthakathà, quyển 1, trang 25.
[6] Mettànisamsa Sutta, Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm câu 342.
[7] Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, số 10; Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, số 22. Xem The Foundations of Mindfulness, do Nyanasatta chuyển dịch (Kandy: BPS), loại Wheel 19.
[8] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, số 16. Xem Last Days of the Buddha, Mahà Parinnibàna Sutta (Kandy: BPS) loại Wheel 67/69
[9] Xem J.E.R. Mc Donagh, The Nature of Disease.
[10] Aldous Huxley, Ends and Means (London: Chatto & Windus, 1946), trang 258-259.
[11] Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, i, 214.
[12] Milinda-panha, I.154.
[13] Every time is tea-time.