"Rối loạn bên trong,
rối loạn bên ngoài,
nhân loại vướng mắc trong một cuộc
rối loạn. Tôi xin hỏi
Sa Môn Gotama (
Cồ Đàm). Ai là người sẽ
gỡ rối cho
tình trạng rối loạn ấy?"
-- "Khi người sáng suốt vững chắc kiên cố trong giới đức (sìla) trau giồi tâm định (citta-samàdhi) và trí tuệ (pannà) chừng ấy, là một tỳ khưu nhiệt thành và thận trọng, vị ấy tháo gỡ tình trạng rối loạn này." [1]
Câu hỏi trên do một vị Trời nêu lên bạch hỏi
Đức Phật, và sau đó là lời
giải đáp của
Đức Bổn Sư. Lời
giải đáp tuy
vắn tắt nhưng mang đầy
ý nghĩa,
bao gồm trọn vẹn giáo huấn Bát Chánh Đạo,
chân lý cuối cùng của
Tứ Diệu Đế mà
Đức Thế Tôn tuyên ngôn ban dạy trong
bài pháp đầu tiên.
Đức Phật chỉ rõ rằng điều
cần thiết căn bản để
tháo gỡ rối loạn là trau giồi ba pháp học (sikkhà): giới (sìla), định (citta hay samàdhi) và tuệ (pannà).
"Rối loạn" (jatà), trong đoạn kinh trên là màn lưới của
ái dục hay khát vọng. Vì
tình trạng rối loạn này phát sanh
liên quan đến chính người này và người khác, và
liên hệ đến
nội căn và ngoại căn, nên gọi là
rối loạn bên trong và bên ngoài.
Đức Phật rõ ràng chỉ dạy rằng
rối loạn ấy là giây
trói buộc chánh yếu đã cột giữ
chúng sanh trong vòng quanh sanh và tử
triền miên:
"
Này chư tỳ khưu, Như Lai không thấy dây trói buộc nào khác mà chặt chẽ cột trói chúng sanh lâu dài, dài dẳng, thênh thang và hối hả bất định xuyên qua vòng quanh những kiếp sinh tồn, như trói buộc của ái dục (tanhà samyojana). Quả thật vậy, này chư tỳ khưu, bị thằng thúc ái dục cột trói, chúng sanh lê bước thênh thang và hối hả bất định trong vòng luân hồi." [2]
Trong
tư tưởng Phật Giáo ái dục có ba loại:
-
tham dục, hay
ái dục đeo níu theo nhục dục
ngũ trần (kàma-tanhà),
-
hữu dục, hay
ái dục đeo níu theo sự
liên tục sinh tồn, hay tự
bảo tồn (bhava-tanhà), và
-
tuyệt diệt dục,
ái dục đeo níu theo sự
vô sanh (vibhava-tanhà).
Ái dục này, khát vọng
mù quáng của
chúng sanh này, đã gây nên
sân hận và tất cả mọi khổ đau
phiền lụy. Không phải bom hạt nhân mà chính tham, sân, si (lobha, dosa, moha) là
mối nguy hại tiêu diệt con người quan trọng nhất. Bom đạn và
khí giới được chế tạo do
tham vọng của
con người nhằm xâm lăng và chiếm đoạt.
Sân hận dẫn đến giết chóc, và
si mê đưa đến cả hai, chiếm đoạt và
tiêu diệt. Lòng khát khao
danh lợi,
thế lực và quyền
thống trị đã đem lại cho
nhân loại bao nhiêu đớn
đau khổ lụy không kể xiết.
Nếu không cố gắng kềm hảm lòng khát khao
ham muốn vô
trật tự luôn luôn sẵn sàng lôi kéo tâm mình thì
con người trở thành nô lệ của nó.
Con người sẽ không hơn
thú vật, vì cả hai đều ăn, ngủ, và
thỏa mãn dục vọng.
Tuy nhiên, loài thú không thể trau giồi
đời sống tinh thần đạo đức,
con người có thể.
Con người có những đức tánh ngủ ngầm và có khả năng xử dụng các đức tánh ấy để tạo
an lành cho chính mình và cho kẻ khác. Nhưng
nếu không quán chiếu nội tâm, trau giồi và phát triển những
tư tưởng thiện và tránh xa những
tư tưởng bất thiện thì kiếp sống của
con người thiếu
lý tưởng và nguồn
cảm hứng hướng dẫn.
Bốn
Chân LýNhững gì
Đức Phật giáo truyền được
bao gồm trong bốn
chân lý thâm diệu,
Tứ Diệu Đế, tức:dukkha,
đau khổ,
xung đột hay bất
toại nguyện của
đời sống, sự phát sanh của
đau khổ, sự
chấm dứt đau khổ, và
con đường dẫn tránh xa
tình trạng đau khổ. Người có suy tư
sâu xa sẽ
nhận thức rằng các
Chân Lý ấy là
con người và
mục tiêu của
con người,
sự giải thoát cùng tột; đó là những gì
bao gồm trọn vẹn pháp
Tứ Diệu Đế. Đối với những ai nhìn
thế gian vô thường này với tâm
vô tư khảo sát, có một điều trở nên
nổi bật rõ ràng: trên
thế gian này chỉ có một
vấn đề,
vấn đề đau khổ, dukkha. Tất cả những
vấn đề khác, được biết hay chưa được biết, đều nằm trong đó, và đó là
vấn đề có tánh cách
phổ cập đại đồng. Như
Đức Phật dạy:
"Thế gian kiên cố vững chắc trong đau khổ, nằm trên nền tảng đau khổ (dukkhe loko patitthito)" [3]. Nếu có chi
trở thành vấn đề, thì
chắc chắn đó là
vấn đề đau khổ, bất
toại nguyện, và
xung đột --
xung đột giữa
tham vọng của
con người và những
trạng huống của kiếp
sinh tồn. Và
lẽ dĩ nhiên,
nỗ lực của
chúng ta là để
giải quyết vấn đề,
dẹp bỏ tình trạng bất
toại nguyện,
kiểm soát xung đột. Chính
nỗ lực ấy là
đau khổ, một
trạng thái tâm dầy vò
bứt rứt.
Vấn đề đơn độc ấy
bao gồm nhiều sắc thái: kinh tế,
xã hội,
chánh trị,
tâm lý, và chí đến
vấn đề tôn giáo. Có
phải chăng tất cả những
vấn đề khó khăn ấy bắt nguồn từ một
vấn đề đơn độc, dukkha, bất toại nguyện?
Nếu không bất
toại nguyện, tại sao
cần phải gắng công giải quyết? Có
phải chăng giải quyết vấn đề hàm xúc
ý nghĩa làm giảm suy
tình trạng bất toại nguyện? Tất cả các
vấn đề đều đưa đến
tình trạng bất
toại nguyện, và
vì lẽ ấy ta phải
nỗ lực chấm dứt, nhưng
vấn đề này lại dẫn đến
vấn đề khác.
Nguyên nhân của nó thường không phải ở ngoài, mà ở trong chính
vấn đề; nó phát xuất từ cái nhìn
chủ quan.
Chúng ta thường nghĩ rằng mình đã
giải quyết thỏa đáng vấn đề, nhưng nó lại phát hiện
trở lại dưới một
hình thức khác, bằng nhiều cách khác nhau. Luôn luôn ta phải
đối phó với những
vấn đề mới, và
chúng ta phải
gia công tạo những
nỗ lực mới để
giải quyết. Như vậy,
vấn đề khó khăn và
phương cách giải quyết vấn đề liên tục nối tiếp không ngừng.
Bản chất của
đau khổ, đặc tướng
phổ cập của kiếp
sinh tồn, luôn luôn
biến chuyển là như vậy.
Đau khổ phát sanh và
chấm dứt, chỉ để phát sanh
trở lại dưới
hình thức khác. Tất cả những
hình thức đau khổ đều là
vật chất hay
tâm lý, và vài người có thể
chịu đựng hình thức này dễ dàng hơn
hình thức khác.
Tuy nhiên,
xác nhận tánh cách
phổ cập của
đau khổ không phải là
hoàn toàn phủ nhận thú vui hay
hạnh phúc.
Đức Phật, vị Chúa Tể của
đau khổ, không bao giờ phủ nhận
hạnh phúc trong đời sống khi Ngài đề cập đến tánh cách
phổ cập của
đau khổ. Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm (I. 80), một bộ trong
kinh điển Pali, có đoạn dài nêu lên những
hạnh phúc mà
con người có thể
thọ hưởng.
Xuyên qua giác quan,
con người bị
trần cảnh thu hút, rồi
thỏa thích trong đó, và bám níu vào đó để
thọ hưởng khoái lạc. Đó là
sự kiện hiển nhiên, không thể phủ nhận vì là
kinh nghiệm sống.
Tuy nhiên,
trần cảnh mà ta
hoan hỷ thỏa thích trong đó, cũng như chính sự
thọ hưởng thỏa thích, cả hai đều không
bền vững. Nó phải đổi thay.
Chúng sanh, và
thế gian mà
chúng sanh ấy
kinh nghiệm, cả hai đều không ngừng
chuyển biến, phát sanh rồi
hoại diệt. Tất cả đều
quay cuồng trong một
vòng lẩn quẩn, không có chi vượt thoát ra khỏi
trạng thái vô thường biến đổi, và
trạng thái ấy vốn bất di dịch. Và do
bản chất phù du tạm bợ ấy, không có chi thật sự là đáng
thỏa thích. Có
hạnh phúc, nhưng nó chỉ
tồn tại nhất thời, rồi tan biến như giọt tuyết rơi và nhường chỗ cho
tình trạng bất
toại nguyện. Không có
trạng thái an nghỉ thật sự trong
vũ trụ,
mặc dầu con người mệt mỏi có khát khao ước muốn được an nghỉ bao nhiêu. Có thể
tương đối an nghỉ, nhưng
tuyệt đối an nghỉ thì không thể
tìm ra.
Hạnh phúc quả có thật, nhưng chỉ là
trạng thái mê hoặc ảo huyền. Mắt vừa thấy thì nó đã biến tan. Đối tượng
mong mỏi không còn đó nữa khi ta vói tay nắm lấy, hoặc khi nắm được trong tay rồi thì nó vội tan biến.
Giải pháp cho
vấn đề đau khổ, dukkha,
xung đột, bất
toại nguyện,
trong đời sống là
Bát Chánh Đạo mà chư Phật, các đấng
Chánh Đẳng Chánh Giác của tất cả mọi
thời đại đã ban truyền.
Con Đường ấy vốn là
pháp hành của
Phật Giáo, được sắp xếp làm ba nhóm: giới, định, tuệ.
Tám chi của
con đường là:
Nhóm Tuệ (pannà)1.
Chánh Kiến (sammà-ditthi)
2.
Chánh Tư Duy (sammà-samkappa)
Nhóm Giới (sìla)3.
Chánh Ngữ (sammà-vàcà)
4.
Chánh Nghiệp (sammà-kammanta)
5.
Chánh Mạng (sammà-àjiva)
Nhóm Định (samàdhi)6.
Chánh Tinh Tấn (sammà-vàyàma)
7.
Chánh Niệm (sammà-sati)
8.
Chánh Định (sammà-samàdhi)
Đức Phật, người
sáng lập Con Đường này,
Con Đường duy nhất của
Phật Giáo, khác biệt với tất cả các
tôn giáo và
triết thuyết khác, gọi
Con Đường ấy là
Trung Đạo, vì là
con đường tránh xa hai
cực đoan,
lợi dưỡng trong
dục lạc và
khổ hạnh ép xác [4]. Ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng danh từ "Con Đường" chỉ là một
hình ảnh tượng trưng, một
biểu tượng diễn đạt, một
nghĩa bóng.
Mặc dầu một cách
quy ước ta nói đi trên
con đường, nhưng trong
ý nghĩa cùng tột, đó là
thực hành tám giai đoạn, tám
yếu tố, hay tám
tâm sở. Tám
tâm sở này
tùy thuộc lẫn nhau,
liên quan mật thiết với nhau, và đến tầng cao
siêu nhất,
sinh hoạt cùng một lúc; không phải hành theo thứ tự, chi này xong rồi đến chi kế. Dầu ở tầng lớp thấp hơn cũng vậy, mỗi chi đều phải
liên hệ nhiều hay ít với
chánh kiến, bởi vì
chánh kiến là
yếu tố then chốt trong
đạo Phật.
Chánh kiến đến đầu tiên và
lãnh đạo các chi khác của
Con Đường.
Tam HọcCon đường giới, định, và tuệ mà nhiều
bài kinh đề cập đến, được xem là ba pháp
tu tập (tividhà-sikkhà). Ba pháp này đi chung
với nhau và tương trợ lẫn nhau. Giới, hay sự điều hòa phẩm hạnh,
củng cố vững mạnh
tâm định, và đến lượt nó, định giúp phát triển tuệ. Tuệ phá tan
đám mây mờ
che lấp quan kiến, không cho ta thấy rõ
đời sống như thật sự
đời sống là vậy, tức thấy rằng tất cả sự vật
trong đời đều sanh và diệt.
"
Định, này chư tỳ khưu, được giới hỗ trợ, đem lại nhiều thành quả, nhiều lợi ích. Tuệ, được định nâng đỡ, đem lại nhiều thành quả, nhiều lợi ích. Tâm mà được trí tuệ (chánh kiến) hỗ trợ trọn vẹn và đầy đủ ắt thoát ra khỏi mọi ô nhiễm của dục vọng, thoát ra khỏi hữu (không còn trở thành), khỏi tà kiến và vô minh (kàma, bhava, ditthi, avijjà). [5]"
Hãy
quan sát pháp
tu học đầu tiên trong ba pháp, giới (sìla).
Giới luật mà
Đức Phật ban truyền có rất nhiều loại và
rộng rãi mênh mông, nhưng
chức năng của giới trong
Phật Giáo chỉ có một, không nhiều:
kiểm soát lời nói và
việc làm, nói cách khác là thanh lọc khẩu và thân. Tất cả giới được
ban hành trong
Phật Giáo đều dẫn đến
mục tiêu này -- phẩm hạnh thanh cao.
Tuy nhiên, tự chính nó,
giới đức không phải là
mục tiêu, mà là
phương tiện nhằm đưa đến định (samàdhi). Rồi định là
phương tiện nhằm đưa đến
trí tuệ thật sự (pannà) và đến
giải thoát cái tâm (ceto vimutti),
mục tiêu cùng tột của
giáo huấn. Hợp chung lại, giới, định và tuệ đem lại
trạng thái phát triển điều hòa những
cảm xúc và phần
trí thức của
con người. Đó là
mục tiêu mà
Đức Bổn Sư muốn hướng hàng
đệ tử về.
Chánh NgữBa chi của
Bát Chánh Đạo hợp thành
giới luật (sìla). Đó là:
chánh ngữ (sammà-vàcà),
chánh nghiệp (samma-kamma) và
chánh mạng (samma-àjivà).
Chánh ngữ bao gồm (a)
kiêng cữ lời
giả dối và luôn luôn nói lời
chân thật; (b)
kiêng cữ lời đâm thọc,
gieo rắc mối chia rẽ và
tình trạng bất hoà, và nói những lời đem lại hoà khí và
hoàn cảnh an lành; (c)
kiêng cữ lời
thô lỗ cộc cằn,
mắng nhiếc chưởi rủa và
trái lại, dùng lời
thanh tao nhã nhặn; và (d)
kiêng cữ lời
nhảm nhí,
vô ích, hay ngồi lê đôi mách và nói những lời hữu lý và đáng được
tán dương, không bị khiển trách.
Lời nói thật là
kỳ diệu; chỉ
nói một lời cũng có thể
biến đổi toàn diện một người -- từ xấu
trở thành tốt hoặc từ tốt trở nên xấu.
Quả thật chúng ta rất hữu phúc có được
thiên tính ấy mà loài thú không có.
Tuy thế, không bao nhiêu người trong
chúng ta biết xử dụng nó để tạo
an lành cho mình và cho kẻ khác. Nhiều
phiền toái và nhiều
hoàn cảnh hiểu lầm nhau có thể tránh nếu
con người thận trọng và dịu hiền hơn trong
lời nói,
chính xác và
thành thật hơn trong khi viết.
Lời nói là một khả năng có
giá trị lớn lao. Nhờ nó ta có thể
chia xẻ tư tưởng và
ý kiến của mình với người khác. Nhưng nếu ta để cho cái lưỡi, vốn không xương,
tự do trở thành vô kỷ luật thì nó có thể là một hiểm họa lớn lao.
Phải chăng vì nó mà bao nhiêu
trường hợp cãi vã,
tranh chấp và
xáo trộn đã xảy diễn giữa những
gia đình, bao nhiêu chiến tranh giữa những quốc gia? Nếu
con người có thể
thuần hóa cái lưỡi của mình,
thế gian này
phải chăng là nơi chốn biết bao
tốt đẹp hơn để sống?
Không nên để cho những
tư tưởng bất thiện như tham, sân,
ganh tỵ,
ngã mạn hay
ích kỷ chen lẫn và
ảnh hưởng lời nói.
Nói nhiều chắc chắn làm cho tâm khó lắng dịu và suy tư chân chánh, và một cái lưỡi không được
kềm chế sẽ dẫn đến tất cả bốn loại
vọng ngữ.
Đức Phật dạy: "
Này chư tỳ khưu, có năm điều bất lợi và năm hiểm họa trong lời nói dài dòng bất cẩn: người nói nhiều, không kiểm soát lời nói, sẽ thốt ra những lời giả dối, đâm thọc, thô lỗ cộc cằn và vô ích, và sau khi chết sẽ tái sanh vào cảnh xấu." [6]
(1) Giới đầu tiên của
chánh ngữ là
cố tránh xa những
lời nói giả dối, và nói lời
chân thật. Người đáng
tín cẩn nói lời
thành thật, ngay thẳng,
chắc chắn. Người ấy không rời xa
sự thật để tìm
danh lợi hay để
lấy lòng người khác.
(2) Nói đâm thọc, nói hai lưỡi, hay ngồi lê đôi mách là tật xấu kế đó mà cái lưỡi không xương có thể
vi phạm. Danh từ Pali có nghĩa "bẻ gảy tình bằng hữu". Đâm thọc,
nói xấu người này với người khác tệ hại
vô cùng, bởi vì đó là bày điều
đặt chuyện,
cố ý làm giảm suy
uy tín của một người. Người nói đâm thọc thường phạm hai giới cùng một lúc. Họ
nói dối vì thuật lại một điều sai
sự thật, rồi
nói xấu.
Trong văn thơ Bắc Phạn (Sanskrit) người nói đâm thọc được
ví như loài muổi, nhỏ mà độc hiểm. Nó bay đến bạn, vo ve ca hát, đậu trên mình bạn, hút máu bạn, và có thể chuyển đến bạn chứng bệnh sốt rét.
Lời nói của người tánh ưa đâm thọc có thể ngọt ngào như mật nhưng tâm của họ đầy
độc dược. Ta nên
cẩn thận xa lánh người có
thói quen đặt điều "đâm bị thóc, chọc bị gạo" để
phá hoại tình bằng hữu. Thay vì gây
xáo trộn, hãy nói những lời tạo
hòa nhã, những lời đem lại
an bình và
hòa hợp [7]. Thay vì gây mầm mống chia rẽ, hãy đem lại
thanh bình và tình
huynh đệ giữa những người bất
đồng ý kiến hay
thù nghịch. "Hãy đoàn kết, không nên chia rẽ" (samaggà hotha màvivadatha), là lời dạy của
Đức Phật.
"Sống thuận thảo trong niềm hòa khí quả thật đáng ca ngợi" (samavàyo eva sàdhu) là những chữ được Vua Asoka (A Dục) xứ
Ấn Độ cho ghi tạc vào đá. Bởi vì
chúng ta tùy thuộc lẫn nhau,
chúng ta phải tập sống chung
với nhau an lành trong tình
huynh đệ, tương thân tương ái và
thuận thảo điều hòa.
(3) Giới kế đó là
kiêng cữ,
lánh xa những lời
thô lỗ cộc cằn và nên ăn nói
nhã nhặn thanh cao, dễ mến. Những gì mà ta nói ra có thể đem lại
lợi lộc hay mất mát,
danh thơm hay
tiếng xấu,
khen tặng hay khiển trách,
hạnh phúc hay
đau khổ.
Lời nói dịu hiền có thể làm mềm quả tim cứng rắn nhất, trong khi lời
thô lỗ cộc cằn có thể gây bao nhiêu đổ vỡ và
tai họa không thể tả. Vậy, ta nên
thận trọng suy nghĩ cặn kẻ trước khi
nói xấu người nào, vì đó là một
cố gắng làm
tổn hại thanh danh và
uy tín họ.
Lời nói thường
bộc lộ tâm tánh của người nói. Một lời
thô lỗ cộc cằn, một
cử chỉ sỗ sàng khó thương, một nụ cười
bất chánh, có thể
biến đổi người bẩm tánh
hiền lương trở thành người
tội lỗi, một bạn lành trở nên
thù nghịch.
Lời nói thanh nhã dễ mến có sức
hấp dẫn và là một lợi điểm cho
xã hội; nhưng
lắm khi vẻ đẹp ấy bị những lời
thô lỗ sỗ sàng làm hư hỏng. "Ngôn ngữ của tâm,
lời nói phát xuất từ
thâm tâm, lúc nào cũng giản dị,
duyên dáng và đầy
năng lực."
(4) Giới thứ tư, cũng là giới
cuối cùng của
chánh ngữ, là
kiêng cữ, không nói những lời
nhảm nhí vô ích hay ngồi lê đầu này đầu kia để nói chuyện
thiên hạ, không đem
lợi ích lại cho ai, dầu ở đâu cũng vậy.
Con người có tật ham
nói nhảm, độc hiểm, làm giảm suy
giá trị người khác.
Báo chí, trong những cột ngồi lê đôi mách của họ, cũng
xấu xa như vậy. Đàn ông cũng như đàn bà, ăn không ngồi rồi, không có chuyện gì làm, mãi mê say trong những cuộc
nói nhảm vô cùng tận, tìm
vui thích cho mình trong khi có hại cho người khác. Như J.L. Hollard nói: "Câu chuyện ngồi lê đôi mách lúc nào cũng là
trường hợp tự
thú tội (
bộc lộ cho người ta thấy rõ), hoặc bẩm tánh xảo quyệt, hoặc
tình trạng ngu dốt, của mình. Đó là
câu chuyện thấp hèn, nông nổi, không
đứng đắn và thường là bẩn thỉu, làm cho những người bạn láng giềng trở nên
thù nghịch lẫn nhau
trọn đời."
Đức Phật thẳng tay
bác bỏ những lời
đồn đãi nhảm nhí, những lời
gièm pha, gây
xáo trộn, bởi vì nó làm cho tâm chao động, không tĩnh lặng và an trụ. "Chỉ một câu
vắn tắt đầy
ý nghĩa, làm cho người nghe
an lạc thanh bình, còn hơn cả ngàn câu
dài dòng văn tự -- chỉ gồm một mớ danh từ
vô ý nghĩa.[8]". Trong tiếng Pàli, người
thông minh sáng suốt, nhà
hiền triết, bậc
trí tuệ, đôi khi được gọi là muni, có nghĩa là người giữ
im lặng. Đúng vậy, "im lặng là vàng".
Vì lẽ ấy, chỉ nên nói khi ta biết chắc rằng
lời nói sẽ
cải thiện hoàn cảnh,
tốt đẹp hơn là giữ
im lặng.
Chánh NghiệpChánh nghiệp là chi thứ nhì trong nhóm giới.
Chánh nghiệp là
kiêng cữ, tránh xa ba loại hành động
sai lầm:
sát sanh,
trộm cắp và
tà dâm. Thay vì ba hành động
sai lầm ấy, chi này bao hàm
lòng bi mẫn đối với tất cả
chúng sanh; chỉ lấy những gì được
cho đến mình; và sống
đời sống gia đình trong sạch -- đối với hàng
tại gia cư sĩ là không lang chạ lăng loàn, và đối với
chư tăng và chư ni là sống
hoàn toàn cuộc sống
độc thân. Đây là ba giới đầu trong
năm giới căn bản (pancasìla) của nền
luân lý Phật Giáo, hai giới còn lại là
kiêng cữ vọng ngữ và các chất say. Những giới
tu tập này, trong khi đào luyện
tâm tánh cá nhân của người
thận trọng nghiêm trì, cũng giúp đem lại
tình trạng điều hòa
tốt đẹp trong cuộc giao dịch giữa người và người. Người nghiêm túc
trì giới tạo cho người khác
hoàn cảnh châu toàn và
an lạc, không
lo âu sợ sệt.
Toàn thể giới luật, hay cuộc sống
giới đức tốt đẹp, đều căn cứ trên nền tảng
từ ái và bi mẫn (mettà và karunà). Người thiếu hai đức tánh
nổi bật ấy không thể thật sự được gọi là
đức hạnh.
Lời nói và
việc làm mà không đượm nhuần
tâm từ và
tâm bi không thể được xem là tốt và
thiện nghiệp.
Lẽ dĩ nhiên, ta không thể
sát sanh với những
tư tưởng từ bi và tâm thiện, mà chỉ khi nào bị
tham ái, hung bạo và
si mê lôi cuốn.
Cần phải trau giồi
đời sống tâm linh đến một mức độ nào, bởi vì cái
tâm không được
thuần hóa luôn luôn tìm
lý do biện giải để hành động
sai lầm bằng thân hay khẩu. "Khi
tư tưởng không được canh phòng, hành động bằng thân cũng
buông lung, khẩu và ý cũng vậy. [9]"
Hạnh kiểm tạo
tâm tánh. Không ai có thể
ban cho người khác một
tâm tánh tốt. Mỗi người phải tự mình
xây dựng nhân phẩm của mình bằng đường lối suy tư,
nghĩ ngợi,
cần cù,
tinh tấn, chú niệm và
định tâm. Cũng như khi muốn
vững chắc trong một nghệ thuật ta phải
gia công chuyên cần. Cùng thế ấy, muốn
chắc chắn nắm vững nghệ thuật trau giồi đức tánh cao quý
thánh thiện nhằm
xây dựng tâm tánh tốt đẹp và
dũng mãnh, ta phải
cần mẫn nỗ lực. Như William Hawes nói: "Trong mọi
trường hợp, một
tâm tánh tốt là
thành quả của
công trình cố gắng cá nhân. Đó không phải là
di sản mà ta
thừa hưởng của
cha mẹ, không phải được tạo nên do
lợi thế ngoại lai, không
nhất thiết phải dính liền với sự sanh trưởng trong một
gia đình nào, với
sự nghiệp,
tài năng, hay
địa vị nào; mà là
hậu quả của
sự cố gắng của chính mình. [10]" Nếu muốn có một
tâm tánh cao đẹp phải nhớ lời
Đức Phật nhắc nhở không nên
buông lung:
"Hãy tinh cần, luôn luôn giữ chánh niệm" (appamattà satìmanto). Trong pháp
tu tập tâm tánh, điều thiết yếu phải có đầu tiên là
thực hành đức hạnh tự chế (samyama). Hạnh tự chế này đến với ta qua lối suy tư về
giới đức và những
lợi ích của giới. Nhất là
tuổi trẻ,
cần phải trau giồi lòng
quý mến giới đức, vì giới dưỡng nuôi
đời sống tâm linh. Một cái
tâm không được
kềm chế sẽ
buông lung xao lãng trong những
sinh hoạt vô ích.
Tâm tánh là cái gì ta phải đào luyện, rèn đúc trên hòn đe của
ý chí cương quyết.
Những giới
tu tập --
kiêng cữ sát sanh,
trộm cắp,
tà dâm,
nói dối và dùng các chất say -- không hàm
ý nghĩa nào như
giới cấm, hay điều răn.
Đức Phật không phải nhà
lập pháp,
ban hành giới luật một cách
độc đoán. Trong
Phật Giáo không có
áp chế hay
cưỡng bách.
Nhà sư hay người
Phật tử cư sĩ tự ý mình,
tự do chấp nhận nghiêm
trì giới luật.
Chánh nghiệp -- sammà-kammanta không phải gì khác hơn là sammàkamma.
Nghiệp báo là một trong những
giáo lý then chốt trong
Phật Giáo. Nghiệp (kamma) là những hành động có
tác ý. Nếu
thông suốt rõ rằng những hành động có
tác ý sẽ mang lại
hậu quả tương xứng của nó (kamma-vipàka), ta sẽ không
cố tình làm những hành động
bất thiện,
nhận thức rằng những hành động
bất thiện như vậy chỉ dội
trở lại, đem đến ta
đau khổ và
sầu muộn.
Chánh MạngChi thứ ba, và cũng là chi
cuối cùng của nhóm giới,
chánh mạng (sammà-àjìva),
bao gồm:
kiêng cữ buôn bán vũ khí và
khí giới có thể gây tử thương, chăn nuôi
thú vật để làm thịt, bán người, bán các
thức uống có chất say và
các loại thuốc độc.
Mặc dầu Đức Phật chỉ nêu lên năm nghề kể trên,
chúng ta phải hiểu nằm lòng rằng Ngài nói với
xã hội Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu trước dương lịch. Lúc bấy giờ phần lớn là
nông dân, những nhà chăn nuôi
súc vật, và
thương gia. Ngày nay
chúng ta có thể thêm vào nhiều nghề sinh sống
sai lầm khác.
"Trong
thế gian tân tiến
hiện đại,
chánh mạng có thể là
giới hạnh khó
gìn giữ trong sạch nhất. Rất nhiều công ăn
việc làm có thể gây
tác hại cho
xã hội và không
thích nghi với người
Phật tử chân chánh. Có những kỹ nghệ chiến tranh hạt nhân, những cơ xưởng chế tạo
khí giới, những cơ sở buôn bán các
thức uống có chất say, những nghề phải giết
thú vật; những người làm báo nhơ bẩn bất lương,
quảng cáo và rao hàng
bất chánh; và những thương vụ nhằm
vơ vét của người.
Phật Giáo không phải là
tôn giáo có tâm trạng hẹp hòi.
Phật Giáo nhìn các khuyết điểm của
con người yếu mềm với tâm
hiểu biết và
thương hại.
Tuy nhiên, người
Phật tử chân chánh không thể vừa
công khai tuyên bố một
quy chế giới luật, vừa
hành nghề theo một
nếp sống thấp hèn khác. [11]"
Nhiệm Vụ Của
Quốc GiaKhông nên nghĩ rằng
Đức Phật chỉ nói với người dân thường khi đề cập đến
chánh mạng. Trong
kinh điển Pali, như trong hai bộ Dìgha và Anguttara Nikàya (
Trường A Hàm và
Tăng Nhứt A Hàm), có những
bài kinh dạy về
nhiệm vụ của nhà cầm quyền hay hạng người trị dân. Kinh sách
rõ ràng dạy rằng làm vua phải cai trị một cách ngay thẳng (dhammena) chớ không phải
bất chánh (a-dhammena). Ngoài
nhiệm vụ phải nghiêm túc
hành trì năm giới căn bản như tất cả những người dân thường, nhà cầm quyền trị dân
cần phải có những đức tánh
lành mạnh làm cho mình xứng đáng
lãnh đạo quốc gia. Người trị dân phải
vững vàng kiên cố trong
Giáo Pháp (dhamma), trong
từ bi, và trong hạnh
chánh trực công minh, tránh xa những tật xấu và như thế, nêu gương lành cho dân trong xứ.
Không bao giờ an nghỉ để tận hưởng
quyền lợi của ngai vàng hay của chức vụ mình, nhà vua hay người trị dân được
trông đợi phải hiền hoà và hữu trách, làm tròn nghĩa vụ đối với dân "giống như ông cha lành đối với con cái. [12]" Một ông vua mà
chìm đắm trong nhục dục
ngũ trần và say mê trong
quyền thế (issariyamadamatta) không đáng được khen ngợi
tán dương mà đáng bị khiển trách và
xem thường [13]. Nhằm giữ mình cho được công minh,
trong sạch và
chánh trực đối với
mọi người, không
thiên vị và
đặc biệt dung dưỡng, ban bố
ân huệ cho riêng ai, người cầm quyền trị dân nên
cố tránh bốn
tư cách đối xử
sai lầm là đối xử với tâm
tham ái (chanda),
sân hận (dosa), sợ sệt (bhaya) và
si mê (moha) [14]. Trong
thời đại dân chủ hiện nay, những
nếp sống thông thường được chuyển từ nhà cầm quyền cai trị dân sang người
đại diện chánh phủ, người được bầu lên hay được
chỉ định, có phận sự
điều hành quốc gia. Những
quy luật liên quan đến chánh mạng được
ban hành nhằm mang lại
hạnh phúc thật sự cho
cá nhân và
xã hội, và tạo
hoàn cảnh đoàn kết thuận hoà giữa người và người. Có những
lối sống bất công và
sai lạc giữa
cá nhân, giữa
gia đình và giữa những
quốc gia. Một nghề sinh sống
bất chánh và không đúng với
chánh mạng kéo theo biết bao
hoàn cảnh bất hạnh, kém điều hòa và
xáo trộn. Khi một người hay một đoàn thể
sa ngã trong
tội ác,
lợi dụng khai thác kẻ khác, ắt
xen lẫn vào phá rối
trật tự và
tình trạng thanh bình và hòa điệu của
xã hội.
Quả thật tánh
ích kỷ và
tham lam đã xúi giục
con người có
lối sống sai lạc và bất
hợp pháp. Những người như thế ấy
rõ ràng dững dưng, không màng nghĩ đến
tình trạng lợi lộc và lỗ lã mà mình gây ra cho người láng giềng và cho
xã hội.
Chánh Tinh Tấn
Giới hạnh là giai đoạn đầu tiên trên Con Đường Giải Thoát. Kế tiếp là trau giồi tâm trí, hay định (samàdhi), bao gồm ba chi của Bát Chánh Đạo: chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Chánh tinh tấn (sammà-vàyamà) là kiên trì gia công nỗ lực để:
(a) ngăn ngừa những tư tuởng xấu xa và bất thiện chưa phát sanh, không để cho phát sanh,
(b) xua đuổi, diệt trừ các tư tưởng xấu và bất thiện mà đã phát sanh,
(c) khai triển và trau giồi những tư tưởng thiện chưa phát sanh, và
(d) cải tiến và bảo tồn những tư tưởng thiện đã phát sanh.
Như vậy, chức năng của chi thứ sáu này là kiên trì, gia công kiểm soát những tư tưởng bất thiện và khai triển, bảo tồn những tư tưởng trong sạch và thiện. Người đã vững chắc làm chủ lời nói và hành động do nhờ giới (sìla), giờ đây nỗ lực quán chiếu tận tường tư tưởng và những trạng thái tâm.
Đức Phật mãnh liệt quan tâm đến chi thứ sáu này của Con Đường -- chánh tinh tấn -- bởi vì tự bản thân Ngài không có quyền năng cứu ai hết, mà chính mỗi người phải tự mình nỗ lực. Mặc dầu lúc nào cũng sẵn sàng hướng dẫn người khác tiến bước trên con đường, khuyến khích và nâng đỡ tinh thần kẻ khác, nhưng Ngài không phải là nhân vật cứu thế và không thể bảo đảm sẽ cứu ai vượt khỏi đau khổ, tháo gỡ những trói buộc của vòng luân hồi (samsàra). Ý niệm rằng có ai đó có thể đem người khác từ thấp lên tầng lớp cao hơn và cuối cùng cứu hẳn họ, có chiều hướng làm cho con người nhu nhược, uể oải biếng nhác, và kém suy tư. Nó làm suy giảm giá trị và lu mờ phẩm cách của con người trên mọi phương diện.
Thái độ của Đức Phật, đặt nặng trọng tâm nơi chánh tinh tấn, chỉ rõ rằng Phật Giáo không phải là một giáo huấn bi quan yếm thế để cho những tâm hồn ươn yếu, mà là tôn giáo của hạng chiến sĩ tinh thần thật sự, của người nhất quyết mở đường tự giải thoát. Dầu là tiến bộ trong thế gian trần tục như lợi lạc và quyền thế, cũng đều phải tùy thuộc nhiều vào sự nỗ lực của ta. Như vậy, càng cần nỗ lực hơn nữa để rèn luyện tâm tánh và trau giồi những gì tốt đẹp cao cả nhất bên trong ta. Vì công trình rèn luyện tâm tánh đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn, hãy gia công từ giờ phút này. "Không nên để ngày tháng trôi qua như cái bóng của đám mây, không lưu lại dấu vết gì phía sau để nhắc người ta nhớ đến."
Chánh Niệm
Chánh niệm (sammà-sati), giai đoạn kế tiếp của con đường, áp đặt sự hay biết vào, hay làm cho tâm giác tỉnh chăm chú vào:
(a) sinh hoạt của thân (kàyànupassanà, niệm thân),
(b) thọ, hay những cảm giác (vedanànupassanà, niệm thọ),
(c) những trạng thái tâm (cittanupassanà, niệm tâm), và
(d) các đối tượng của tâm (dhammànupassanà, niệm pháp).
Thời Pháp được biết nhiều về "Sự Củng Cố Chú Niệm" (satipatthàna-sutta) đề cập rành mạch đến bốn niệm xứ này.
Vì các chi của con đường tùy thuộc lẫn nhau, chánh tinh tấn hỗ trợ chánh niệm. Cùng chung với nhau, hai chi này -- chánh tinh tấn và chánh niệm -- hợp sức kiểm soát, không để cho ác pháp phát sanh. Người tỉnh thức luôn luôn hay biết hành động của thân và khẩu mình, tránh xa những gì gây tổn hại cho tiến bộ tinh thần của mình. Con người như thế ấy không thể để tâm lười biếng và dã dượi. Sự chú niệm, trạng thái hay biết đầy đủ và hiểu biết rõ ràng, là hai yếu tố chánh giúp công phu hành thiền thành tựu mỹ mãn. Người mà lúc nào cũng chú niệm đã ở trước cổng của trạng thái Bất Diệt. Một diễn biến có nhiều ý nghĩa là trước giờ Nhập Niết Bàn, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công phu chú niệm, lời di huấn tối hậu của Đức Phật là: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực gia công chú niệm" (vayadhammà samkhàrà appamàdena sampàdetha) -- (Dìgha Nikàya, Trường A Hàm, 16).
Không ngừng chú niệm và luôn luôn giác tỉnh là hai công trình rất thiết yếu để tránh làm điều bất thiện và cố làm điều thiện. Tư tưởng và cảm xúc của chúng ta lúc nào cũng cần phải được trông nom chăm sóc để hướng về con đường trong sạch (Thanh Tịnh Đạo). Chính nhờ kiên trì canh phòng hay biết như vậy mà ta chứng nghiệm tiến bộ tinh thần.
Học nhiều không đem lợi ích gì cho người học nếu học mà không chú niệm. Không có niệm, đức tánh tối trọng yếu này, dầu học rộng biết nhiều cũng không thể thấy sự vật đúng trong bối cảnh của nó. Người có địa vị cao sang mà ăn nói không suy tư và không lượng định hậu quả của lời nói, thường bị chỉ trích nặng nề và đúng lý. Có lời tục ngữ rằng: "Lời đã thốt ra, cơ hội đã mất, và như mũi tên bắn đi, không bao giờ có thể thâu hồi lại được."
Pháp hành thiền được thành tựu tốt đẹp nhờ ba yếu tố căn bản phối hợp: tinh tấn, niệm và định. Ba chi này hợp thành ba tao nhợ của sợi đỏi. Tuy nhiên, niệm được xem là tao nhợ vững chắc nhất, bởi vì niệm đóng vai trò trọng yếu nhất trong cả hai, thiền vắng lặng và thiền minh sát (samatha và vipassanà). Chú niệm là một chức năng của tâm và như vậy, là một yếu tố tâm, tức tâm sở. Được gọi là chánh niệm vì nó lánh xa sự chú tâm sai lạc và ngăn ngừa, không để tâm chăm chú vào đối tượng lầm lạc. Niệm hướng dẫn người có chánh niệm đi đúng trên con đường dẫn đến trong sạch và tự do.
Chánh niệm phải được áp đặt vào tất cả và mỗi hành động. Trong mọi cử động, người hành thiền phải luôn luôn giác tỉnh chú niệm. Dầu đi, đứng, hay ngồi, dầu nói năng hay im lặng, ăn uống hay đại tiện, tiểu tiện -- trong những công việc ấy và trong tất cả những hoạt động khác, phải luôn luôn thức tỉnh và chú niệm. "Chú niệm, này hởi các tỳ khưu, Như Lai tuyên ngôn, là chánh yếu trong tất cả và ở mọi nơi."
Nơi đây phải ghi nhận rằng trong kinh điển Phật Giáo danh từ Niệm (sati) thường được dùng chung với một danh từ khác cũng có ý nghĩa ngang nhau, "hiểu biết rõ ràng" (sampajanna). Từ ngữ sati-sampajanna, niệm và hiểu biết rõ ràng, thường đi chung với nhau trong các bài kinh và mật thiết hỗ trợ lẫn nhau.
Cũng như người kia đi từ ngoài trời sáng vào một phòng tối, lúc đầu bị chóa mắt, rồi dần dần phân biệt nhận ra các món đồ trong phòng, cũng dường thế ấy, người chú niệm đầy đủ và hiểu biết rõ ràng, càng lúc càng thấy rõ hơn bản chất thật sự của sự vật, vốn bị che đậy dưới lớp mây mờ vô minh, nhưng chánh niệm giúp khai triển tuệ minh sát và chánh kiến.
Trong bài kinh "Niệm Xứ" (satipatthàna), các đoạn mô tả mỗi niệm xứ đều chấm dứt bằng những chữ: "Vị ấy sống độc lập, không bám níu vào bất luận gì trên thế gian. [15]" Đó là thành quả mà người hành thiền nhắm đến, một thành tựu thiết tha mong muốn, và lúc nào cũng kỳ vọng tiến đạt. Rất khó mà không bám níu gì trên thế gian, và những cố gắng của ta để tiến đến tầng lớp cao thượng ấy có thể không đem lại kết quả trong tức khắc. Tuy nhiên, nó đáng cho ta kiên trì cố gắng thêm ... và thêm nữa. Một ngày nào, nếu không phải trong kiếp này thì trong một kiếp sống khác, ta có thể tiến đến tận đỉnh cao mà tất cả những ai thật sự nỗ lực đã đến. "Hãy gieo một ý tưởng", có người nói như vậy, "và bạn sẽ gặt hái một hành động. Hãy gieo một hành động, và bạn sẽ gặt hái một thói quen. Hãy gieo một thói quen, và bạn sẽ gặt hái một tâm tánh. Hãy gieo một tâm tánh, và bạn sẽ gặt hái một định mạng -- bởi vì tâm tánh là định mạng."
Chánh Định
Chánh định (sammà-samàdhi), chi thứ tám của con đường, là trạng thái tâm tập trung vững chắc, giống như ngọn đèn không chao động, ở một nơi không có gió. Định (samàdhi) kềm giữ tâm ngay ngắn và ở yên một điểm, không lay chuyển và không xao xuyến. Pháp hành đúng giữ tâm trong một trạng thái quân bình. Người hành thiền gặp phải nhiều chướng ngại tinh thần, nhưng nhờ chánh tinh tấn và chánh niệm hỗ trợ, hành giả có thể vượt qua và đạt đến tâm định hoàn toàn. Một cái tâm hoàn toàn an trụ không bị ngoại cảnh, những đối tượng của giác quan, khuấy động và thấy đúng thực tướng của sự vật.
Pháp hành thiền trong Phật Giáo được chia làm hai hệ thống, tâm định hay vắng lặng (samàdhi, samatha) và minh sát (vipassanà). Trong hai pháp này, tâm định có tác dụng làm cho tâm tĩnh lặng, và do đó danh từ samatha hay samàdhi ở vài nơi được dịch là vắng lặng, yên tĩnh hay tĩnh lặng. Làm cho tâm tĩnh lặng hàm xúc ý nghĩa gom tâm, tập trung tâm vào một điểm duy nhất hay "nhất điểm tâm", thu hẹp tâm chăm chú vào một đề mục, không còn thấy gì khác ngoài đề mục ấy.
"Tâm định là gì? Dấu hiệu của tâm định là gì? Cần phải có gì mới định tâm? Làm thế nào để phát triển tâm?
"Bất cứ gì là trạng thái gom tâm vào một điểm, đó là định tâm; bốn trường hợp phát sanh của niệm là dấu hiệu của tâm định; bốn tinh tấn là những gì cần phải có để định tâm; bất cứ gì là pháp tu tập, là sự phát triển, là sự tăng trưởng những điều ấy, đó là phát triển tâm định." [16]
Những lời dạy trên rõ ràng chỉ rằng ba chi của nhóm định (samàdhi) -- tức chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định -- cùng sinh hoạt chung với nhau để tạo tâm định thật sự.
Hiện nay nhiều người xem tự do và không tự kềm chế là đồng nghĩa. Khuynh hướng vật chất của nền văn hóa hiện đại, nặng về phần nhục dục, làm cho họ tin rằng công trình tự rèn luyện tâm tánh là một trở ngại, làm cho con người không thể phát triển trọn vẹn. Tuy nhiên, giáo huấn của Đức Phật thì khác hẳn. Đức Phật tuyên ngôn rằng phải tự khắc phục lấy mình, tự thuần hóa và rèn luyện đúng theo chiều hướng chân chánh mới có thể trở thành thật sự tốt đẹp. Phải canh phòng, không để cho những tư tưởng tham, sân, si phát sanh -- đó là con đường dẫn đến an lạc và hạnh phúc thật sự.
Chỉ đến khi tâm được kiểm soát và kềm giữ đúng theo con đường chân chánh của sự tiến bộ có trật tự nó mới trở thành hữu dụng, cho người làm chủ nó và cho xã hội. Một cái tâm hoang dại, buông lung và vô trật tự là một gánh nặng, cho người làm chủ nó và cho nhiều người khác. Tất cả những tai họa tàn khốc trên thế gian đều đã được gây nên bởi những nguời không có học phương pháp kiểm soát tâm, làm cho tâm quân bình và trầm tĩnh. Kiểm soát tâm là cái chìa khóa để mở lối vào hạnh phúc. Đó là vị chúa tể của giới hạnh và động lực nằm phía sau mọi thành tựu thật sự mỹ mãn. Chính vì thiếu kiểm soát mà bao nhiêu xung đột đã nổi dậy trong tâm con người.
Muốn kiểm soát tâm, con người cần phải học hỏi làm thế nào để không buông lơi thả lỏng những khát vọng và những chiều hướng tâm tánh hoang dại của mình và phải cố gắng sống cuộc đời tự kềm chế, trong sạch và an tĩnh.
Trầm tĩnh không phải là yếu hèn. Một thái độ trầm tĩnh lúc nào cũng cho thấy là con người thấm nhuần văn hóa. Nghĩ rằng chỉ có người ồn ào, gây gổ và lăn xăn mới hùng mạnh thì quả thật là sai lầm.
"Đúng vậy, trống rỗng thì kêu to,
Nhưng đầy thì trầm lặng;
Kẻ ngu như cái lọ vơi nước,
Người trí như ao hồ."
-- Sutta Nipàta, v, 721.
Người có trau giồi đức hạnh trầm tĩnh ít khi cảm nghe bực dọc phiền toái lúc phải đương đầu với những thăng trầm của đời sống. Người ấy cố gắng nhìn sự vật đúng trong bối cảnh của nó, khởi phát như thế nào và tan biến làm sao. Không lo âu và không bị khuấy động, người ấy cố gắng nhận thức đặc tánh phù du tạm bợ của những gì vốn là tạm bợ phù du. "Những tâm hồn tĩnh lặng ... tiếp tục tiến bước, khi may mắn cũng như trong hoàn cảnh bất hạnh, đều đặn cùng một nhịp, như cái đồng hồ trong cơn sấm sét" (R.L. Stevenson).
Dầu bao nhiêu lập luận về phương pháp làm cho tâm vắng lặng và cho cuộc sống trở nên toàn hảo cũng không đưa chúng ta đến mục tiêu mong mỏi; nhưng mỗi hành động buông xả thật sự, mỗi cố gắng để tách rời chúng ta ra khỏi những đối tượng của ái dục, dẫn đến trạng thái tĩnh lặng và trong sáng.
Con đường mà Đức Thế Tôn chỉ dạy để làm cho nội tâm trưởng thành là hành thiền. Tất cả những phương pháp hành thiền được đề cập đến trong Phật Giáo đều dẫn đến sức khỏe nội tâm, không bao giờ đến ươn yếu, bởi vì tất cả đều loại trừ những tình trạng căng thẳng làm cho tâm bệnh hoạn, và rửa sạch những bợn nhơ của tâm.
Tư tưởng thật sự quan trọng chỉ có thể tăng trưởng trong những khoảng thời gian yên tĩnh lâu dài. Hoàn cảnh cô đơn giúp làm cho tâm lớn mạnh và hùng dũng. Năng lực sáng tạo to lớn nhất được un đúc trong tình trạng im lặng, nhưng thông thường người ta thích tiếng động hơn. Phần đông người ta say mê trong công cuộc làm ăn hằng ngày và xem thường tầm quan trọng của công trình yên lặng lắng tâm suy niệm. Khi ẩn rút vào yên lặng ta tuyệt đối đơn độc một mình, tự do quán chiếu và nhận thấy chính mình như thật sự mình là vậy; ta trực diện với thực tại và chừng đó có thể tu tập sửa sai những khuyết điểm và thiếu sót của ta. Nhưng thường ngày ta mãi lo bận rộn quây quần giống như con sóc chạy vòng vòng trên cái đu của nó, quay tròn trong cái lồng -- mặc dầu rất nhanh nhẫu hoạt động, nhưng chỉ quay tròn bên trong cái lồng. Con gà mái ấp trứng, dầu thấy hình như bất động và uể oải biếng nhác, nhưng đang làm một việc hữu ích: nó ôm ấp chuyền hơi nóng, làm cho trứng nở ra gà con. Ta phải cố gắng dành ít nhất là nửa tiếng đồng hồ mỗi ngày, làm công chuyện con gà mái ấp trứng. Công phu hành thiền phải được tiếp tục đều đặn, đúng giờ, trong một thời gian lâu dài. Không nên trông đợi kết quả nhanh chóng, bởi vì chuyển biến tâm linh chỉ xảy diễn rất chậm chạp. Chính nhờ yên lặng tu tập suy niệm mà ta có thể thành tựu hoàn mãn một cái tâm tĩnh lặng -- atta manasà (cái tâm của chính mình) là tên của một trạng thái tâm hạnh phúc, thành quả của công trình cố gắng tu tập và thành tựu. Nhưng trạng thái tâm khốn khổ, chìm đắm trong những tư tưởng tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, ganh tỵ v.v... là anatta manasà (tâm của kẻ khác).
Trí Tuệ Thật Sự
Đã nắm vững, làm chủ tâm mình do nhờ định tâm (thiền vắng lặng), giờ đây hành giả trau giồi trí tuệ thật sự (pannà), gồm hai chi đầu của Bát Chánh Đạo, chánh kiến và chánh tư duy, giai đoạn cuối cùng của con đường.
Chánh tư duy (sammà-samkappa), suy tư chân chánh, bao gồm những tư tưởng từ khước, buông xả (nekkhamma samkappa), thiện ý, không thù hận (avyàpàda samkappa) và bi mẫn, không hung tợn (avihimsà samkappa). Những tư tưởng này phải được trau giồi và ban rải cùng khắp tất cả chúng sanh không phân biệt dòng giống, chủng tộc, giai cấp, bộ lạc, nam nữ hay tín ngưỡng. Những tư tưởng này phải bao trùm tất cả chúng sanh có hơi thở, không có hạn chế gia giảm nào. Người ích kỷ, chỉ biết mình, không thể ban rải những tư tưởng cao cả như vậy. Nếu nhận thức sự vật với tâm quan sát không thiên tư ta sẽ hiểu rằng ham muốn ích kỷ, sân hận và hung bạo không thể đi chung với trí tuệ thật sự. Chánh kiến hay trí tuệ thật sự lúc nào cũng thấm nhuần những tư tưởng chân chánh, không bao giờ tách rời. Đàng khác, chánh tư duy, suy tư chân chánh, là hậu quả của chánh kiến. Cả hai -- chánh kiến và chánh tư duy -- hợp thành nhóm tuệ, được đề cập đến trong phần Bát Chánh Đạo. Suy tư đúng, chánh tư duy, là hậu quả của lối nhìn sự vật đúng như sự vật là vậy.
Tư tuởng quả thật rất quan trọng vì thân nghiệp và khẩu nghiệp đều bắt nguồn từ tư tưởng. Chính tư tưởng được diễn đạt thành lời nói và hành động. Hậu quả của những lời ta nói và những việc ta làm thiện hay bất thiện, xấu hay tốt, chỉ tùy thuộc nơi lối suy tư của ta. Do đó, tu tập suy tư chân chánh, thay vì quanh co bất chánh và không chừng đổi, thật vô cùng trọng yếu.
Giờ đây chúng ta thử tìm hiểu tầm quan trọng của công trình diệt trừ những tư tưởng bất thiện và phương pháp áp dụng để thành tựu hoàn mãn công trình ấy bằng cách thực hành chân chánh các pháp từ khước, thiện ý và bi mẫn. Khi tâm mãi mê say đắm trong khát vọng hay sân hận, ắt ta không thể thấy rõ sự vật. Nhưng diệt trừ những trở ngại ấy không có nghĩa là tranh đấu với những tư tưởng bất thiện đang bám chặt vào tâm. Phải tu tập để diện đối diện, thấy rõ những tư tưởng ấy -- nó khởi phát, xuất hiện trở lại và áp đảo, khắc phục tâm ta như thế nào; phải nghiên cứu học hỏi bản chất của nó. Giờ đây, nếu ta để cho tâm liên tục ôm ấp dưỡng nuôi những tư tưởng tham ái và sân hận, không cố gắng kiểm soát nó, những tư tưởng bất thiện ấy sẽ tăng trưởng lớn mạnh và khuynh đảo, làm chủ tâm. Nhưng nếu thật sự quyết tâm diệt trừ nó, ta nỗ lực dần dần, trau giồi và phát triển những tư tưởng thiện. Thiện pháp này sẽ phản công các pháp bất thiện. Thí dụ như khi ta bị tham dục khuấy động, những tư tưởng từ khước, buông bỏ, sẽ đem lại trạng thái tâm thanh bình an lạc. Cùng thế ấy, thiện ý và bi mẫn sẽ thoa dịu những tư tưởng ác ý, sân hận, hung tợn và thù hằn. Tuy nhiên, không phải là dễ nắm vững, làm chủ cái tâm của mình. Cần phải tận lực quyết tâm và gia công cố gắng.
Trong Phật Giáo, thiện ý (avyàpàda) hàm xúc tình thương không thiên về xác thịt. Trong giới Phật tử, danh từ thông dụng để nói thiện ý là tâm từ (mettà), hay danh từ sanskrit (Bắc Phạn) là maitrì. Tình bằng hữu, lòng tốt, tình thương đại đồng, và lòng từ ái, hay tâm từ, là những chữ thường được dùng nhất. Mettà, tâm từ, là lòng thành thật mong muốn cho tất cả chúng sanh, không có hạn định hay phân biệt nào, đều được an lành hạnh phúc.
Lòng bi mẫn (avihimsà) chắc chắn không phải là trạng thái cảm xúc yếu mềm. Đây là đức tánh dũng mãnh và bền bỉ. Khi có một người đang khốn khổ. Chính quả tim trắc ẩn của người bi mẫn đập mạnh và thúc đẩy người ấy cứu vớt kẻ lâm nạn và nơi đây, tâm cần phải có sức mạnh. Có người hấp tấp cho rằng bi mẫn là dấu hiệu của tính yếu hèn bởi vì bi mẫn là dịu hiền, mềm mỏng. Những người ấy không biết họ đang nói gì. Theo họ, tàn ác chắc đúng thật là dấu hiệu của tâm dũng mãnh.
Chánh kiến (sammà-ditthi), trong ý nghĩa cùng tột, là hiểu biết thực tướng của đời sống. Muốn được vậy, phải rõ ràng thông suốt Tứ Diệu Đế. Thấu hiểu những chân lý này là thông suốt những điểm phức tạp của thiên nhiên. "Người thấu triệt trọn vẹn những chân lý này thật sự được gọi là 'sáng suốt chứng ngộ'." [17]
Chánh kiến quan trọng hơn tất cả, bởi vì hướng dẫn bảy chi còn lại của Bát Chánh Đạo [18]. Chánh kiến kiện toàn chánh tư duy, làm cho suy tư được bảo đảm, và phối hợp các ý nghĩ. Khi những suy tư và ý nghĩ trở thành rõ ràng và thiện thì việc làm và lời nói cũng xuôi chiều theo sự hướng dẫn ấy: một lần nữa, chánh kiến thúc đẩy ta từ bỏ những cố gắng vô ích và trau giồi chánh tinh tấn để chánh tinh tấn hỗ trợ, phát triển chánh niệm. Chánh tinh tấn và chánh niệm, được chánh kiến hướng dẫn, tạo điều kiện cho các chi khác của hệ thống dung hợp thích nghi.
Người đọc thận trọng giờ đây có thể hiểu biết ba nhóm giới, định và tuệ, dung hoà tương trợ lẫn nhau như thế nào để cùng chung tiến đến mục tiêu, giải thoát cái tâm (cetovimutti). Do nhờ thật sự trau giồi tâm và kiểm soát thân, khẩu mà hành giả thành đạt trạng thái trong sạch. Do nhờ tự mình gia công, tự mình phát triển, hành giả tiến đến tự do. Đó là Giáo Pháp mà Đức Phật khám phá, tự Ngài áp dụng để chứng đắc trạng thái Toàn Giác, và giáo hóa người khác.
Từ xa xưa trong quá khứ, thế gian có nhiều vấn đề. Mỗi thời đại có vấn đề của nó, và thái độ của chúng ta đối với các vấn đề ấy có phần khác biệt nhau; và nhiều giải pháp đã được đem ra áp dụng. Bát Chánh Đạo thâu hẹp các vấn đề, gom lại thành một mà Đức Phật gọi là dukkha, vấn đề đau khổ. Ngài giải thích rằng nguyên nhân đưa đến vấn đề ấy là avijjà, vô minh, và tanhà, ái dục, khát vọng vị kỷ. Ngày nay, vấn đề là: con người hiện đại đã tìm ra giải pháp chưa, hay chỉ làm cho nó trở nên trầm trọng thêm? Hiện nay con người có sống trong trạng thái an toàn và hạnh phúc không, hay vẫn mãi mãi lo sợ và luôn luôn căng thẳng? Họ đang đi trên con đường dẫn đến trạng thái tâm lành mạnh hay đang đi đến điên rồ? Giờ đây, thử nhìn xem Trung Đạo là con đường gì? Nó bao gồm tám chi: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Có chi nào trong đó mà ta có thể gác bỏ qua một bên vì nó lỗi thời và không dẫn đến tiến bộ vật chất hay tinh thần không? Có chi nào gây trở ngại cho tình trạng phát triển tốt đẹp của con người, phàm tục hay gì khác không? Chắc chắn là chỉ người đầu óc đầy bùn nhơ mới có thể gọi Bát Chánh Đạo là lỗi thời bởi vì, mặc dầu là xưa cũ, pháp ấy lúc nào cũng vẫn tươi trong mát dịu. Tất cả những vấn đề của đời sống đang dồn dập tấn công con người có thể thâu gọn lại thành vấn đề duy nhất, dukkha, đau khổ, xung đột, hay bất toại nguyện. Giải pháp cho vấn đề ấy mà chư Phật hay các đấng Toàn Giác trong các thời đại ban truyền là giáo huấn Bát Chánh Đạo. Cũng như có ăn mới chứng minh được món ăn là ngon, cùng thế ấy, phải thực hành mới có thể chứng minh giải pháp là đúng.
Bát chánh Đạo của Đức Phật được mở rộng cho tất cả. Không có sự phân biệt trong Niết Bàn. Đề cập đến con đường và so sánh nó với chiếc xe, Đức Bổn Sư dạy:
"Và dầu đó là người nữ, dầu là người nam
Chiếc xe ấy vẫn đợi chờ, cùng một chiếc xe ấy,
Sẽ chở vào Niết Bàn."
-- Kindred Sayings, i, trang 45.
T.W. Rhys Davids, vị Chủ Tịch Sáng Lập Viên hội Pali Text Society tại London viết:
"Dầu là Phật tử hay không, tôi đã khảo sát các hệ thống tôn giáo lớn trong thế gian, từng hệ thống một, không có ở đâu tìm ra điều gì tốt đẹp hơn và đúng lý hơn Bát Chánh Đạo của Đức Phật. Tôi tự nguyện uốn nắn đời sống mình đúng theo con đường ấy."
"Hãy từ ái và bi mẫn
Và khéo thu thúc trong giới hạnh,
Hãy gia công nỗ lực, hướng về mục tiêu,
Và tiến bước, luôn luôn can đảm tiến lên.
Hiểm họa nằm trong sự dể duôi uổng phí thì giờ,
Công phu kiên trì nỗ lực chắc chắn và an toàn:
Điều ấy khi ta thấy,
Rồi trau giồi Bát Chánh Đạo,
Ta sẽ chứng ngộ, và như vậy
Làm cho Con Đường Bất Diệt là của chính ta."
-- Psalms of the Brethen, 979, 980.
Chú thích:
[1] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, i,13.
[2] Itivuttaka, I, ii,v.
[3] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, I, 40.
[4] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, v, 420; Vinàya Pitaka, Tạng Luật, I, 10.
[5] Dìgha Nikàya, Trường A Hàm, bài kinh số 16.
[6] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, iii, 254.
[7] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 27.
[8] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 100.
[9] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, I, 261
[10] Mark Gilbert, Wisdom of the Ages (London: 1948), trang 48.
[11] John Walters, Mind Unshaken (London: Rider & Co., 1961), trang 47.
[12] Dìgha Nikàya, Trường A Hàm, ii, 178.
[13] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, i, 100.
[14] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, ii, 17.
[15] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, v, 115.
[16] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 44/l. 301.
[17] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 43/l. 292.
[18] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 117/lll. 76.