"Tất cả các
pháp hữu vi đều
vô thường, phải
biến chuyển. Hãy
kiên trì cố gắng với chú niệm!" Đó là lời dạy
tối hậu của
Đức Phật.
Và khi Ngài vừa
viên tịch, Sakka, Vua
Trời Đế Thích, than như sau:
Aniccà vata sankhàrà -- uppàda vaya dhammino Uppajjitvà nirujjhanti --tesam vùpasamo sukho. --(Mahàparinibbàna Sutta)
"Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, Phát sanh và hoại diệt, đó là bản chất của chúng; Chúng ra đời rồi tan biến, Thoát ra khỏi chúng là hạnh phúc tối thượng." --(Kinh Đại Niết Bàn) [1]Chí đến ngày nay, trong tất cả những đám táng của người
Phật tử theo
truyền thống Nguyên Thủy,
chư tăng đều có
đọc tụng câu kinh Pali trên để nhắc nhở người nghe
bản chất phù du của
đời sống.
Trong các
quốc gia Phật Giáo ta thường thấy người
đi chùa dâng cúng bông hoa và dầu đốt đèn đến trước
tượng Phật. Họ không van vái nguyện cầu
Đức Phật hay một "nhân vật siêu phàm" nào. Những cành hoa đang tàn héo và
ngọn đèn dầu đang lụn dần nói lên, nhắc họ tánh cách
vô thường của các
pháp hữu vi.
Chính danh từ
"vô thường" (anicca) đơn giản ấy là nòng cốt trong
giáo lý nhà Phật.
Vô thường cũng là nền tảng cho hai đặc tướng khác của kiếp
sinh tồn là bất
toại nguyện (dukkha) và
vô ngã (anattà).
Vô thường có nghĩa là sự vật không bao giờ tịnh mà luôn luôn chuyển động, luôn luôn
biến đổi, và điều này được các nhà khoa học
hiện đại ghi nhận là
bản chất cơ bản của
toàn thể thế gian, không
trường hợp ngoại lệ. Trong
giáo huấn của Ngài về các
thực tại chuyển biến Đức Phật trao truyền cho ta cái chìa khóa chánh để mở tung bất cứ cửa nào mà ta muốn.
Thế gian hiện đại cũng dùng cái chìa khóa chánh ấy, nhưng chỉ dùng trong việc
thành tựu những
công trình có tánh cách
vật lý, nhờ nó mà mở được hết cửa này đến cửa khác, và
thành công một cách
ngạc nhiên.
Biến chuyển hay
vô thường là đặc tướng chánh yếu của tất cả các
hiện tượng trong đời sống.
Chúng ta không thể nói đến vật nào,
vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri, hữu cơ hoặc vô cơ, rằng "vật này tồn tại", bởi vì trong khi ta nói như thế thì nó đã đổi thay. Tất cả đều phù du tạm bợ: màu sắc xinh tươi của hoa, giọng hát lảnh lót của chim, tiếng vo ve của loài ong, và cảnh
vinh quang xán lạn của buổi
hoàng hôn.
Thí dụ như bạn đang
thưởng thức một cảnh trời chiều
ngoạn mục.
Toàn thể vùng trời ở
hướng Tây ửng hồng tươi đẹp; nhưng bạn biết rằng trong nửa tiếng đồng hồ sau, tất cả những màu sắc tươi sáng
đẹp đẽ kia sẽ biến dần
trước mắt, dù rằng mắt bạn không thể đưa bạn
đi trước, đặt bạn trong
quang cảnh mặt trời lặn, theo đúng như bạn suy tư. Như
vậy thì kết luận như thế nào?
Kết luận là bạn không bao giờ thấy cái màu mà đang ẩn tàng, chưa lộ ra, bất cứ màu nào, dầu chỉ trong
thời gian ngắn nhất mà ta có thể nói hay
quan niệm. Trong một phần triệu giây đồng hồ,
toàn thể vùng trời xán lạn đang
trải qua chuỗi dài
vô tận những
biến chuyển về màu sắc. Màu này
dần dần trùm phủ lên màu kia nhanh chóng đến độ không có
phương cách hay dụng cụ nào có thể đo lường. Nhưng bởi vì đây là một tiến trình
biến đổi mà không có dụng cụ đo lường nào có thể
áp dụng ...
lý trí không thể
chận đứng ở một khoảng
thời gian nào trong luồng hoạt cảnh chảy trôi, hay
tuyên bố rằng cái này là thế nào, chính vì nó không còn; nó đã nhường chỗ cho một cái gì khác. Nó là một chuỗi dài những màu sắc trong đó không một màu nào thật sự
tồn tại. Mỗi màu
liên tục tan biến trong một màu khác." [2]
Tất cả các
pháp hữu vi, tức tất cả những gì phát sanh do
nguyên nhân tạo
điều kiện và đến lượt nó, tạo duyên cho những cái khác phát sanh, có thể kết tinh trong một chữ anicca,
vô thường. Như vậy, tất cả hòa điệu chỉ là những âm điệu khác nhau do cái khảy trên dây đàn, vốn tự nó là
vô thường, khổ (bất
toại nguyện), và
vô ngã: anicca, dukkha và anattà.
Được ngụy trang, ba đặc tướng ấy của
đời sống ngự trị toàn khắp
thế gian cho đến khi một bậc
Toàn Giác tối thượng khám phá bản chất thật sự của nó. Vì để
tuyên bố ba đặc tướng này và
giáo hóa chúng sanh phương cách tu tập nhằm
chứng ngộ nó,
giải thoát cái tâm, mà một vị
Phật thị hiện trên
thế gian. Đó là phần
tinh túy, là
tổng số giáo lý nhà Phật.
Mặc dầu khái
niệm vô thường áp dụng cho tất cả các
pháp hữu vi nhưng
Đức Phật riêng biệt chú trọng đến cái gọi là
chúng sanh, bởi vì đây là
vấn đề của
con người, không phải của các vật
vô tri. Cũng như nhà cơ thể học mổ xẻ tay chân ra thành sớ thịt, và sớ thịt thành tế bào, để
nghiên cứu,
Đức Phật, Nhà
Phân Giải (vibhajjavàdi),
phân tách cái gọi là
chúng sanh "sankhàra punja", khối tiến trình, ra làm năm nhóm luôn luôn
biến chuyển, và chỉ rõ rằng chẳng có chi
ẩn náu, chẳng có chi được
bảo tồn lâu dài trong luồng
trôi chảy của năm nhóm ấy (khandha santati). Đó là: sắc hay cơ thể
vật chất, thọ hay
cảm giác, tưởng, hành, thức.
Đấng
Toàn Giác giải thích:
"Ngũ uẩn, này chư tỳ khưu, là vô thường; bất luận gì vô thường là khổ (dukkha), bất toại nguyện; bất luận gì khổ là không có một bản ngã (atta) trường tồn; cái gì vô ngã không phải là của ta, không phải là ta, không phải là bản ngã của ta. Như thế ấy sự vật phải được nhận thức với trí tuệ toàn hảo (sammappannàya), đúng như sự vật là vậy. Người thấy đúng như vậy với trí tuệ toàn hảo, tâm người ấy không bám níu mà buông bỏ tất cả, người ấy giải thoát." [3]
Ngài Nàgàrjuna (
Long Thọ) chỉ lặp lại vang âm của
Đức Phật khi nói: "Khi
ý niệm về một
bản ngã (Àtman)
chấm dứt,
ý niệm "Của Ta" cũng
chấm dứt, và ta đã vượt thoát ra khỏi mọi
ý niệm "Ta" và "Của Ta". [4]
Đức Phật dùng năm
hình ảnh sống động để
mô tả bản chất phù du
huyền ảo của
năm uẩn. Ngài ví sắc như một khối bọt, thọ như
bong bóng nước, tưởng
như ảo cảnh, hành như cây mã đề (như cây chuối, như lục bình, ruột xốp, không chắc), thức
như ảo tưởng, và Ngài hỏi: "Này chư tỳ khưu, có chăng
thể chất vững bền trong một khối bọt, một
bong bóng nước, một
ảo cảnh, một loại cây mà ruột như lục bình, như cây chuối, một ảo tưởng?"
Tiếp theo,
Đức Phật dạy: "Bất luận sắc nào, dầu trong
quá khứ, trong
vị lai, hay ở
hiện tại, thô kịch hay
vi tế, thấp hay cao, xa hay gần, vị tỳ khưu thấy sắc ấy,
quán chiếu và khảo sát sắc ấy với sự
chú tâm chân chánh có
hệ thống, vị tỳ khưu đã thấy như vậy,
quán chiếu và khảo sát với sự
chú tâm chân chánh có
hệ thống như vậy, sẽ
nhận thức rằng nó rỗng không, không có
thực chất, không có
tinh chất vững bền. Như vậy, này chư tỳ khưu, có gì có thể là
thể chất thường còn trong sắc?"
Cùng
một thế ấy,
Đức Phật đề cập đến bốn uẩn còn lại và hỏi: "Có gì là
thể chất thường còn trong thọ, trong tưởng, trong hành, trong thức? [5]
Như vậy, với sự
phân tách năm uẩn ta
đạt đến tầng lớp
hiểu biết tiến bộ hơn. Chính đến giai đoạn này
chánh kiến mà được gọi là
tuệ minh sát (vipassanà) bắt đầu
tác động.
Xuyên qua tuệ minh sát ta nắm vững
bản chất thật sự của
năm uẩn và thấy nó trong ánh sáng của ba đặc tướng (ti-lakkhana), tức:
vô thường, bất
toại nguyện và
vô ngã.
Không phải chỉ có
ngũ uẩn là
vô thường, bất
toại nguyện,
vô ngã, mà những
nguyên nhân (nhân) và những
điều kiện (duyên) tạo nên
năm uẩn ấy cũng
vô thường, bất
toại nguyện và
vô ngã. Về điểm này
Đức Phật giải thích rõ:
"Sắc, thọ, tưởng, hành và thức, này chư tỳ khưu, là
vô thường (anicca). Bất luận gì là nhân và duyên làm cho
ngũ uẩn phát sanh, chính nó, cũng
vô thường. Làm thế nào
ngũ uẩn, phát sanh từ những gì
vô thường, này chư tỳ khưu, có thể là thường còn?
"Sắc ... và thức, này chư tỳ khưu, là bất
toại nguyện (dukkha). Bất luận gì là nhân và duyên làm cho
ngũ uẩn phát sanh, chính nó, cũng bất
toại nguyện. Làm thế nào
ngũ uẩn, phát sanh từ những gì bất
toại nguyện, này chư tỳ khưu có thể là
hạnh phúc hay đối tượng của
hạnh phúc cho ai?
"Sắc ... và thức, này chư tỳ khưu là
vô ngã (anattà). Bất luận gì là nhân và duyên làm cho
ngũ uẩn phát sanh , chính nó, là
vô ngã. Làm thế nào
ngũ uẩn, phát sanh từ những gì
vô ngã, này chư tỳ khưu, lại là hữu ngã, có một
bản ngã (atta)?
Vị thánh
đệ tử đã được huấn luyện (sutavà ariya-sàvako), này chư tỳ khưu, thấy biết như vậy, trở nên
thản nhiên,
điềm tĩnh, không
ham muốn gì với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Xuyên qua tâm tánh thản nhiên,
điềm tĩnh, vị ấy
buông xả, không
luyến ái và
xuyên qua sự
buông xả, vị ấy
giải thoát; trong
trạng thái giải thoát, vị ấy
hiểu biết rằng mình đã
giải thoát, và vị ấy
thấu triệt: Mọi sự sanh đã
chấm dứt, chỉ còn sống đời
hoàn toàn trong sạch, đã làm những gì
cần phải làm, không còn gì như thế này xảy đến (nghĩa là
ngũ uẩn không còn
liên tục xảy diễn, tức không còn
tái sanh )." [6]
Vì không thấy
bản chất thật sự của các pháp, cái nhìn của
chúng ta luôn luôn bị
che lấp. Bởi những
thành kiến sẵn có, tánh tham và sân, thương và ghét,
chúng ta không thể
nhận thấy lục căn và
lục trần một cách khách quan, đúng theo
bản chất thật sự của nó (àyatanànam àyatanattam), và
chạy theo rượt bắt những gì là
ảo huyền huyển hoặc.
Giác quan lừa phỉnh và dẫn dắt ta đi sai đường lạc nẻo, không thấy đúng sự vật trong ánh sáng thật sự của nó và như thế, lối nhìn của ta trở nên
lầm lạc (viparita dassana).
Đức Phật đề cập đến ba loại ảo kiến, hay
hiểu biết sai lầm (vipallàsa, Sanskrit là viparyàsa), hằng đeo níu bám chặt tâm
con người, đó là:
tri giác sai lầm, suy tư
sai lầm và
kiến thức sai lầm (sannà vipallàsa, citta vipallàsa và ditthi vipallàsa) [7]. Khi
con người bị dính mắc trong ảo kiến tương tợ thì
tri giác, suy tư và
kiến thức đều
sai lầm.
Những sự vật
vô thường, người ấy thấy là thường còn, người ấy
thỏa mãn trong
hoàn cảnh bất
toại nguyện (
thoải mái và
hạnh phúc trong
đau khổ), thấy một
bản ngã trong cái
vô ngã (một
linh hồn trường cửu trong cái không có
linh hồn), vật đáng
ghê sợ nhờm chán mà cho là đẹp.
Người ấy có những suy tư và những
kiến thức cũng
lầm lạc như thế ấy. Như vậy, mỗi ảo kiến
tác động theo bốn chiều
sai lạc, dẫn
đi lạc nẻo,
che lấp kiến thức và làm cho
con người rối loạn mập mờ. Đó là vì suy tư kém chân chánh,
chú tâm không đúng
phương pháp (ayoniso mana- sikàra).
Chánh kiến (hay
thiền minh sát) phá tan những ảo kiến ấy và giúp
con người thấu triệt bản chất thật sự ẩn tàng phía dưới mọi biểu hiện bên ngoài. Chí đến lúc
con người vượt qua lớp mây mờ ảo kiến và huyển hoặc ấy mới có thể
chói sáng rực rỡ trong
trí tuệ thật sự, giống như
mặt trăng rạng tỏ khi thoát ra khỏi
đám mây đen.
Những
thành phần của tâm và thân (
ngũ uẩn), nằm trong
định luật nhân quả, không ngừng sanh, trụ, diệt, nhanh chóng đến độ không thể
quan niệm, giống như những lượn sóng
vô cùng tận trên biển cả hay như mực nước sông ngòi, lớn rồi ròng, ròng rồi lớn.
Quả thật vậy, kiếp sống của
con người không khác nào dòng suối trên núi cao, dồn dập tuôn xuống, không ngừng
biến chuyển -- một dòng nước
luân lưu bất tận (nadì sotoviya). [8]
Chúng sanh mà ta gọi là
con người, đàn ông, đàn bà hay
cá nhân, để tiện việc giao dịch
hằng ngày,
rõ ràng là không "tịnh" mà "động", bởi vì ở trong
trạng thái liên tục và không ngừng
biến chuyển. Khi người kia thấy rõ
đời sống và tất cả những gì
liên quan đến đời sống dưới ánh sáng ấy và
phân tách,
nhận thức rằng cái được gọi là
chúng sanh chỉ là một chuỗi dài những
thành phần tâm linh và
vật lý liên tục nối tiếp, người ấy thấy sự vật đúng như sự vật là vậy (yathàbhùtam). Người ấy đã
đoạn diệt thân kiến (sakkàya ditthi) và không tin vào một
linh hồn trường tồn bất biến hay một tự ngã. Người ấy thấu hiểu đúng theo
chánh kiến rằng tất
cả đời sống
hiện tượng đều là
duyên sinh, tức khởi sinh
tùy thuộc những
nhân duyên (paticca samuppanna), mỗi
hiện tượng của
đời sống đều do một cái gì khác tạo duyên (
điều kiện) để
hiện hữu và
liên quan với những duyên ấy. Người ấy
nhận thức rằng do đó không có một cái "Ta", một
thực thể tâm linh thường còn, không có một tự ngã
đơn thuần hay cái gì
liên quan đến bản ngã trong
diễn tiến của
đời sống. Do đó người ấy không có
ý niệm về một tiểu hồn (jìvàtma) hay một đại hồn (paramàtma),
linh hồn cũng không.
Chính nhờ
thiền minh sát (vipassanà) mà ta thấy sự vật đúng như nó thật sự là vậy (yathàbhùtam), không phải hình như nó là vậy. "Thấy sự vật đúng
như thật sự nó là vậy" hàm ý là, như đã đề cập ở phần trên, thấy rõ
bản chất của các
pháp hữu vi là
vô thường, bất
toại nguyện và không có một tự ngã thường còn. Đối với một thiền giả
đệ tử Phật như thế ấy, "thế gian" không phải ở ngoài, cũng không phải là
thế gian theo
kinh nghiệm thông thường, mà là thân và tâm của
con người. Đó là
thế gian ngũ uẩn thủ (panca-upàdànakkhanda). Vị ấy
cố gắng nhìn thấy cái
thế gian thân và tâm này mà
Đức Phật đề cập đến khi Ngài dạy Mogharàja:
"Hãy luôn luôn chú niệm, này Mogharàja, hãy thấy
thế gian là rỗng không (sunna) --
tức từ bỏ
ý niệm về một
bản ngã -- phải khắc phục cái chết (màra) như thế ấy. Thần Chết không thấy người đã
hiểu biết thế gian như vậy." [9]
Toàn thể triết thuyết vô thường được dạy trong
Phật Giáo là tất cả những sự vật
hiện hữu do
nhân duyên -- các
pháp hữu vi -- là một tiến trình, chớ không phải là một nhóm
thực thể đơn thuần, nguyên vẹn, ẩn tàng, không
biến chuyển.
Tuy nhiên, vì những
thành phần của thân và tâm
biến đổi quá nhanh nên ta thấy như một
thực thể bất động. Ta không thấy nó luôn luôn nhanh chóng sanh-diệt (udaya-vaya) mà xem nó như một khối
đơn thuần hay một
toàn thể (ghana sannà).
Những ai đã từng có
thói quen liên tục nghĩ rằng thân và tâm này và
thế gian bên ngoài là những
toàn thể, những
đơn vị dính liền nhau không thể
phân chia, đối với những người ấy
quả thật khó mà
từ bỏ cái lớp mặt
giả dối "xem hình như một toàn thể" này. Ngày nào mà không nhìn thấy được rằng sự vật là những tiến trình, những
hiện tượng luôn luôn
di động, thì ta không bao giờ thấu hiểu thuyết
vô ngã (anattà) của
Đức Phật.
Vì lẽ ấy mà nhiều người kém nhẫn nại,
nóng nảy nêu lên câu hỏi:
Nếu không có một
thực thể đơn thuần và thường còn không
biến đổi như một
linh hồn trường cửu hay một tự ngã
vĩnh tồn, thì cái gì
kinh nghiệm hậu quả của những hành động, ở đây và về sau?
Có hai
bài kinh đề cập đến câu hỏi nóng bỏng này. [10] Một ngày nọ
Đức Phật giải thích cho hàng
đệ tử về
bản chất vô thường của
ngũ uẩn, về đặc tánh rỗng không của cái được xem là tự ngã, về
ảo tưởng ngủ ngầm "Ta" và "Của Ta" và làm thế nào
chấm dứt những
quan niệm sai lầm ấy. Lúc bấy giờ trong tâm của một vị tỳ khưu phát sanh
ý nghĩ: "Sắc là
vô ngã, thọ là
vô ngã, tưởng là
vô ngã, hành là
vô ngã, thức là
vô ngã. Như
vậy thì cái ngã nào mà hành động
vô ngã gieo
ảnh hưởng đến?"
Đọc được
ý nghĩ trong tâm vị tỳ khưu,
Đức Phật dạy: "Câu hỏi ấy vượt ra ngoài
vấn đề," và Ngài làm cho vị tỳ khưu thấu rõ
bản chất vô thường, bất
toại nguyện và
vô ngã của
năm uẩn.
Nói rằng người hành động và người gặt quả là một, là sai. Cũng là
sai lầm nếu nói người hành động và người gặt quả là hai người khác biệt" [11], giản dị bởi vì ta nói rằng
đời sống là một sự chảy trôi của tiến trình tâm và
vật lý, hay đó là những
năng lực không ngừng phát sanh và
hoại diệt.
Ta không thể nói rằng chính người hành động
kinh nghiệm hậu quả bởi vì người ấy đã đổi mới trong mỗi khoảnh khắc của
đời sống; nhưng
cùng lúc ấy ta phải nhớ rằng
đời sống liên tục chảy trôi, tức là ta
liên tục kinh nghiệm hậu quả của những hành động đã làm, tiến trình các diễn biến không mất; nó
liên tục xảy diễn, không
gián đoạn. Trong khi
trưởng thành, em bé và người
thiếu niên không phải là một, người
thiếu niên với người tráng niên cũng không phải là một, nhưng họ cũng không
hoàn toàn khác hẳn
với nhau (
na ca so na ca anno) [12]. Chỉ có một luồng
trôi chảy của những tiến trình tâm-vật-lý.
Có ba hạng thầy: hạng đầu tiên dạy rằng có một tự ngã thật sự, trong
hiện tại cũng như trong tương lai (nơi đây và về sau); vị thứ nhì dạy rằng tự ngã chỉ thật sự có
trong đời sống
hiện tại, trong tương lai không còn; vị thứ ba dạy rằng khái niệm về một tự ngã chỉ là
ảo tưởng -- dầu trong
hiện tại hay trong tương lai, không có tự ngã thật sự.
Vị thầy thứ nhất chủ trương
Thường Kiến (sassata- vàdi); vị thứ nhì,
Đoạn Kiến (ucchedavàdi); vị thứ ba là
Đức Phật. Ngài dạy
trung đạo,
con đường ở khoảng giữa, tránh xa hai
cực đoan thường kiến và
đoạn kiến. (Nơi đây
trung đạo là chủ thuyết tùy-thuộc-phát-sanh, hay
thập nhị nhân duyên -- paticca-samuppàda).
Tất cả những
giáo lý duy thần dạy rằng
sau khi chết, bằng cách này hay cách khác, cái tự ngã hay
linh hồn của
con người vẫn
tồn tại, không
hoại diệt. Khái niệm của người theo chủ thuyết
vật chất là khi chết tự ngã cũng
tuyệt diệt.
Quan điểm của
Phật Giáo là không có tự ngã hay bất luận gì có
thực chất hay thường còn, mà tất cả những gì phát sanh do
điều kiện đều phải
biến chuyển, và phải
biến chuyển không ngừng, không thể
tồn tại giống hệt trong hai khoảnh khắc
kế tiếp. Có sự
liên tục, nhưng không có
trạng thái giống hệt. Ngày nào còn ôm ấp
ý niệm về một tự ngã thường còn ắt
con người không thể
nhận thức rằng tất cả mọi sự vật đều
vô thường, rằng trong
thực tế có sanh và có diệt (samudayadhamma, vayadhamma) [13].
Thông hiểu rành rẽ
lý vô thường -- chỉ có trong
Phật Giáo -- là điều thiết yếu để thấu đạt
Tứ Diệu Đế và các
giáo lý chánh yếu khác trong
Phật Giáo.
Con người trong
thế gian ngày nay
ghi nhận bản chất vô thường của
đời sống.
Mặc dầu đã thấy điều ấy, họ không giữ nằm lòng, không
sáng suốt và
bình tĩnh hành động.
Biến đổi rồi
biến đổi, lặp đi và lặp lại, những
biến đổi đã nói lên, nhắc nhở và làm cho họ khổ, họ vẫn
điên cuồng chạy nhanh rượt theo vòng quanh những kiếp
sinh tồn và bị giày vò xô xát, khốn khổ trong những cây căm của bánh xe. Họ thiết tha
tin chắc có thể
khám phá con đường hạnh phúc trong chính cái
biến đổi, có thể
tìm ra một
trung tâm châu toàn của vòng quanh
vô thường. Họ tưởng tượng rằng
mặc dầu thế gian là bấp bênh
vô định, họ
vẫn có thể làm cho nó
vững bền và đặt nó trên một nền tảng
kiên cố, và như vậy cuộc
tranh đấu để
cải thiện mức sống
tiếp tục không thối chuyển với
cố gắng kiên trì và nhiệt tâm
vô hiệu quả.
Lịch sử đã
chứng tỏ nhiều lần, và sẽ còn
tiếp tục chứng tỏ, rằng trên
thế gian này không có chi
tồn tại vững bền. Tất cả đều tan biến. Những
quốc gia và những
văn minh trổi lên, thạnh vượng rồi
suy tàn, nhường chỗ cho cái mới, giống như những lượn sóng trên biển cả, và cứ thế, hồ sơ của
thời gian cuốn tròn,
ghi nhận những tấn tuồng đời
liên tục diễn tiến, những
ảo mộng vô căn cứ, và luồng
trôi chảy của dòng
lịch sử nhân loại.
________________________________________
Chú thích:
[1] Theo kinh Mahà-Sudassana Sutta (Dìgha Nikàya) câu kệ trên do
Đức Phật tuyên ngôn; Theo Túc Sanh Truyện Mahà Sudassana Jàtaka (số 95), do Đức
Bồ Tát, trong kiếp
tái sanh làm Vua Sudassana; theo Theragàthà (câu 1159), Đức
A La Hán Mahà Moggallàna đọc lên câu kệ trên sau khi nhắc đến sự
viên tịch của Đức
A La Hán Sàriputta (trong câu 1158). Chỉ hai
tuần sau Ngài cũng
viên tịch.
[2] Ferrier's Lectures and Remains, quyển I, trang 119, được trích trong Sarvadarsana Samgraha, E.B. Cowell and A.E. Gough London, 1914, trang 15.
[3] Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, quyển iii, trang 44.
[4] Màdhyàmika-kàrikà, quyển xviii, trang 2.
[5] Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, quyển iii, trang 140.
[6] Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, iii, trang 23.
[7] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, ii, 52. Xem Anguttara Nikàya, Phần I, bản dịch của
Đại Đức Nyanaponika Thera (Wheel 155/158). Catukka Nipàta, số 49 (Kandy BPS) trang 86.
[8] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, 137.
[9] Sutta Nipàta, quyển v, 1119.
[10] Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm 109; Khandha Samyutta, 82.
[11] Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, ii, 20.
[12] Milindapanha (Vua Milinda Vấn Đạo).
[13] Satipatthàna Sutta, thường được gọi là
Kinh Tứ Niệm Xứ.