Những gì
Đức Phật thuyết giảng trong
thời gian bốn mươi lăm năm
quả thật bao la và có nhiều sắc thái rất khác nhau,
vô cùng thâm diệu, khiến nhiều
học giả gọi
Phật Giáo là một
tôn giáo; một
triết học; một
hệ thống luân lý; một
hệ thống tôn giáo-triết học; một
học thuyết đạo đức lý tưởng. Nhưng ta còn phải tìm một
tôn giáo nào mà trong đó phần
tâm lý được đề cập đến
rộng rãi như trong
Phật Giáo. Cái mà thông thường được gọi là
lý thuyết tâm lý học -- cũng như các
lý thuyết khoa học khác -- định nghĩa cái tâm bằng những danh từ tịnh, trong khi đó
tâm lý học
Phật Giáo định nghĩa
đời sống tâm linh với những danh từ động.
Tuy nhiên, sau nhiều
cố gắng và phấn đấu,
tâm lý học
hiện đại cuối cùng rời bỏ trụ sở đổ nát của những trường phái chánh thống, và
khám phá trở lại giáo lý cổ xưa về cái tâm
sống động.
Chắc chắn là có vài điểm khác nhau, nhưng nguyên tắc
căn bản vẫn là một. Ngày nay nhiều
nhà tâm lý học chấp nhận bản chất sống động của cái tâm, và những sách giáo khoa về
tâm lý học
hiện đại đã
từ bỏ ngành khoa học về tác phong của
con người.
Đối với
Đức Phật, chí đến
vấn đề tôn giáo và nguồn cội của
tôn giáo cũng không phải siêu hình, nhưng là một
vấn đề tâm lý và
trí thức. Ngài không sẵn sàng
giải đáp những thắc mắc như:
Thế gian có
trường tồn vĩnh cửu hay không?
Thế gian có
vô cùng tận hay không?
Thế gian có ngày tận cùng hay không? Nguồn gốc của
thế gian là gì? Có người hỏi thì Ngài lặng thinh, không
trả lời những câu hỏi xem hình như quan trọng nhưng không bổ ích như vậy, bởi vì đối với những câu hỏi và thắc mắc
vô nghĩa lý tương tợ,
im lặng là
giải đáp tốt đẹp nhất. Đường lối
duy nhất để
giải quyết những
hoài nghi và những
vấn đề khó khăn là nhìn sâu trở vào,
thám sát những thâm cung
bí hiểm của
nội tâm, chỉ có thể
thực hiện được do
công trình tự quán chiếu, căn cứ trên
đức hạnh trong sạch và
thiền tập.
Tất cả những
giáo lý chánh yếu trong
Phật Giáo như
nghiệp báo,
nhân quả và
tái sanh,
pháp hành thiền và những
thành quả tinh thần,
tốt hơn hết nên được
nghiên cứu và
nghiền ngẫm khảo sát như những
sinh hoạt của tâm và như vậy, một cách
thích nghi nhất,
Phật Giáo có thể được
mô tả là một
môn học về
tâm lý cao
siêu nhất.
Trong
kinh điển Phật Giáo,
Tạng Luận (Abhidhamma Pitaka, tạng
Vi Diệu Pháp) trình bày và
giải thích rành mạch cái tâm và những
yếu tố của tâm (
tâm vương và
tâm sở), giúp vạch rõ
lối sống trong sạch cho người
Phật tử.
Tuy nhiên, một cuộc khảo sát tận tường những cuộc
đàm thoại, những lời giảng của
Đức Phật, có chiều hướng làm cho ta
tin chắc rằng phần
tâm lý cũng đóng một
vai trò quan trọng trong
Tạng Kinh (Sutta Pitaka). Những gì
Đức Phật cần nói về
bản chất của tâm,
phương pháp thanh lọc tâm, và nghệ thuật trở nên chủ nhân cái tâm chớ không phải
nô lệ, đã được tuyên dạy trong những bài giảng của
Tạng Kinh. Về điểm này
bài Kinh Niệm Xứ (Satipatthana Sutta, bài giảng về bốn Nền Tảng của Niệm) [1] ,
bài kinh Vitakka Santhàna Sutta (Loại Trừ Những
Tư Tưởng Phóng Dật) [2] và những
bài kinh nòng cốt tương tợ là những
thí dụ điển hình.
Phật Giáo có tánh cách
tâm lý nhiều hơn tất cả các
tôn giáo. Điểm quan trọng đáng được chú ý là những
sinh hoạt phức tạp của tâm được đề cập đến trong
Phật Giáo đầy đủ hơn bất luận trong
tôn giáo nào và như vậy,
tâm lý học cùng
sinh hoạt chung với
Phật Giáo nhiều hơn với bất cứ
tôn giáo nào khác.
Phật Giáo có
liên hệ với
tâm lý học
hiện đại không? ta có thể hỏi. Có, với vài điểm khác biệt. Niềm
ưu tư của
Phật Giáo là chữa bịnh, hơn là
phân tách.
Phật Giáo giúp ta vượt lên khỏi tầng lớp
trí thức, đến mức thật sự
kinh nghiệm chính
đời sống.
Xuyên qua pháp hành thiền
Đức Phật đã
khám phá chứng bịnh
phổ cập nằm sâu trong tâm tư và
trí não con người.
Trí tuệ minh sát phi thường của
Đức Phật thấy sâu vào bên trong những
sinh hoạt của tâm làm cho Ngài là một nhà
tâm lý và một khoa học gia siêu tuyệt tột đỉnh. Đúng thật rằng đường lối nhằm tiến đến những
chân lý ấy của
đời sống không giống như của người theo
chủ nghĩa thực nghiệm, nhưng những gì
Đức Phật khám phá vẫn là
chân lý, và trong
thực tế đã được các nhà thực nghiệm
chứng thật.
Tuy nhiên khi dấn thân vào những khảo sát ấy
mục tiêu của Ngài khác hẳn các nhà khoa học.
Những lời
Đức Phật tuyên ngôn về
bản chất của tâm và
vật chất nhắm thẳng về
chủ đích nhất định.
Mục đích ấy giản dị là
giải thoát cá nhân, là
tình trạng châu toàn
tối thượng ra khỏi mọi
trói buộc.
Sở dĩ Đức Phật đặt nặng sự chú ý vào tâm và những
hiện tượng tâm linh là vì
đời sống nội tâm có một
vai trò quyết định làm khởi phát hành động của
con người. Trong những
tôn giáo thờ
thần linh,
căn bản là
Thượng Đế.
Phật Giáo vốn không thờ
thần linh, lấy tâm làm nền tảng.
Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo khởi đầu với những lời, "Vào lúc
sơ khai Thượng Đế tạo trời và đất," trong khi ấy câu mở đầu
Kinh Pháp Cú là:
"Mano pubbangamà dhammà mano setthà manomayà," "Tâm dẫn đầu các pháp; tâm là chủ; tâm tạo tác tất cả." Những lời của Thiên Chúa, và trong
thực tế, những lời của chư vị
Thần Linh trong tất cả các
tôn giáo thờ
thần linh, nhắm về
Thần Linh và
cõi trời, những gì
vượt qua bên kia
đời sống.
Đức Phật đặt
trọng tâm vào tầm quan trọng của cái tâm trong lược đồ
giải thoát, hướng dẫn vào những đường lối phân biện và khảo sát, và khuyến khích ta thật sự
gia công phát triển
năng lực và phẩm chất của
nội tâm.
Đức Phật dạy:
"Chính tự các con phải kiên trì tinh tấn, và thành tựu giải phóng cho chính mình; chư Phật chỉ rọi sáng con đường." [3]
Nhằm thấu hiểu đầy đủ
trạng thái tự do lý tưởng của cái tâm,
cần phải hiểu rõ và
xác nhận tầm quan trọng của nó.
Nếu không thông suốt tầm quan trọng của tâm một cách
thích nghi ta không thể
hiểu biết đầy đủ vì sao
cần thiết phải trau giồi và
gìn giữ tình trạng tự do của nó.
Trong tất cả các
năng lực,
tâm lực là
công hiệu nhất. Tự nó, và bên trong nó, tâm là một
động lực. Bất luận
cố gắng nào gây trở ngại, không để cho
động lực này
tự do trưởng thành, là một bước trong chiều hướng
sai lầm. Không ai
thấu triệt rõ ràng năng lực của tâm bằng
Đức Phật.
Phật Giáo, trong khi không phủ nhận
thế gian vật chất và
ảnh hưởng lớn lao của
thế gian vật chất trong đời sống
tâm linh,
nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng vĩ đại của tâm. Ngày kia, một vị tỳ khưu bạch hỏi
Đức Phật: "Bạch
Đức Thế Tôn, cái gì hướng dẫn thế gian? Cái gì
lôi cuốn thế gian? Dưới
thế lực của một pháp nào tất cả vận chuyển?"
Đức Phật khẳng quyết
trả lời:
"Thật vậy, này tỳ khưu, tâm hướng dẫn thế gian; tâm lôi cuốn thế gian; tất cả đều vận chuyển dưới năng lực của một pháp, cái tâm." [4] Theo
quan điểm của
Phật Giáo, tâm hay thức là phần nòng cốt của kiếp
sinh tồn. Tất cả những
kinh nghiệm tâm lý của
chúng ta, như
đau đớn và
thích thú,
âu sầu và
hạnh phúc, tốt và xấu, sanh và tử, không
do nơi bất luận nguyên lý
ngoại lai nào. Đó là
hậu quả của những
tư tưởng của chính
chúng ta và
phản ứng của nó.
Lối sống của người
Phật tử là một tiến trình thanh lọc
lời nói, hành động và
tư tưởng, rất mãnh liệt và
công phu. Đây là tự phát triển và tự thanh lọc, tiến đến
thành quả tự chứng ngộ. Điểm
trọng yếu là kết quả
thực dụng chớ không phải chỉ
suy cứu suông có tánh cách
triết học,
trừu tượng hợp lý hoặc nghiền ngẩm suy tư suông.
Luân lý và
tâm lý Phật Giáo được
xây dựng trên
chân lý vĩnh cửu của dukkha,
trạng thái bất
toại nguyện, của tất cả
chúng sanh hữu giác, tất cả những kiếp
sinh tồn.
Đức Phật tuyên ngôn:
"Chỉ có một điều, Như Lai dạy, Đau khổ và điểm chấm dứt đau khổ phải đạt đến." [5]
Thấu hiểu lời dạy không thể
lầm lẫn này tức là thấu hiểu
Phật Giáo; trọn
giáo huấn của
Đức Phật không có gì khác hơn là
áp dụng nguyên tắc này. Cái mà có thể được gọi là sự
khám phá của
Đức Phật chỉ là
Tứ Diệu Đế: tức
dukkha (
đau khổ), sự phát sanh hay
nguyên nhân sanh dukkha, sự
chấm dứt dukkha, và
con đường dẫn đến
chấm dứt dukkha. Và những gì còn lại là
hình thức khai triển
hợp lý và
giải thích chi tiết hơn bốn
chân lý ấy.
"Đó là giáo huấn điển hình của chư Phật trong các thời đại" [6]
Đức Phật là vị thầy
thực tế. Đối với ai lắng tai nghe, Ngài
giải thích trong từng
chi tiết vấn đề dukkha, thực trạng
phổ cập của
đời sống, và làm cho người nghe cảm nhận
trọn vẹn sức mạnh của nó. Ngài nói rõ cho
chúng ta biết những gì Ngài
giải thích và những gì
không giải thích. Đối với người có cái nhìn vào
thế gian và tất cả gì trên
thế gian trong bối cảnh
thích nghi của nó, niềm
ưu tư đầu tiên về kiếp
sinh tồn không phải chỉ là
suy cứu suông hay
vô ích, viễn du trong những vùng
ảo tưởng viển vông kỳ lạ, mà
thành đạt cho kỳ được
hạnh phúc thật sự và
tự do, thoát ra khỏi dukkha, bất
toại nguyện. Đối với người mà
kiến thức thật sự
tùy thuộc nơi
vấn đề nòng cốt: Điều học này có thể hữu dụng cho ta để
thành tựu nội tâm thanh bình an lạc và
vắng lặng,
hạnh phúc thật sự không?
Đức Phật dạy:
"Trong chính tấm thân dài một sải này với tâm thức và tri giác của nó Như Lai tuyên bố đó là thế gian, sự phát sanh của thế gian, sự chấm dứt thế gian và con đường dẫn đến chấm dứt thế gian." Nơi đây danh từ "thế gian" có nghĩa là dukkha (Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, ii, 48).
Theo
giáo huấn của Ngài,
đau khổ không thể tách rời ra khỏi
ngũ uẩn, tức tấm thân dài một sải này.
Ngũ uẩn và
đau khổ là một, không phải hai điều khác nhau. "Đau khổ là gì?
Đức Phật hỏi, và Ngài
giải đáp: "Phải nói rằng đó là
ngũ uẩn thủ." [7]
Không phải mọi
hình thức đau khổ đều do sự
tái sanh vào những
cảnh giới khác nhau. Và đối với người nhìn đời một cách chân chánh, không có gì ở
thế gian là không
đau khổ; bởi vì tất cả mọi sự vật, dầu là những
kinh nghiệm lạc thú nhất, đều
vô thường biến đổi,
thấm thoát trôi qua, rồi tan biến.
Vì lẽ ấy Đức Phật tuyên ngôn:
"Tất cả những gì được kinh nghiệm là đau khổ." (yamkimci vedayitam sabbam tam dukkhasmimti vadàmi..)Giờ đây,
rõ ràng là muốn thấu hiểu
chân lý thâm diệu đầu tiên, dukkha,
khổ đế, cũng như
ba đế kia, điều
cần thiết là phải có một
ý niệm rõ ràng về
ngũ uẩn, năm nhóm
thành phần cấu hợp một
chúng sanh. Theo
ngôn ngữ thông thường
chúng ta nói một "chúng sanh", nhưng trong
ý nghĩa cùng tột không có cái gì như một "chúng sanh", mà chỉ có sự biểu hiện của những
năng lực hay
năng lượng tâm-vật-lý không ngừng
chuyển biến. Những
năng lực và
năng lượng ấy cấu hợp
năm uẩn, và cái mà
chúng ta gọi là
chúng sanh không phải gì khác hơn là sự
phối hợp của
năm uẩn luôn luôn
biến đổi ấy. Vậy
ngũ uẩn là gì?
Theo
Phật Giáo,
con người là một
phối hợp tâm-vật-lý của tâm và thân (nàma-rùpa, danh-sắc). Những
thành phần của "tâm" được xếp vào bốn nhóm: thọ (vedanà); tưởng (sannà), tức
tri giác,
hình ảnh và khái niệm; hành (sankhàra), những
sinh hoạt của tâm cùng với những
trạng thái tâm phát sanh
đồng thời với nó; và thức (vinnànà). Bốn nhóm
tinh thần này là những
yếu tố phi-vật-lý (ngoài những
yếu tố vật lý) của
con người, được xem chung là tâm (nàma, danh). Danh (nàma), cùng với cơ thể
vật chất (rùpa, sắc), cấu hợp cái được gọi là
con người. Danh-sắc cũng được biết là
ngũ uẩn (pancakkhandha: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), năm nhóm
thành phần cấu thành một
cá nhân.
Trong ngành
tâm lý học,
tâm lý học
Phật Giáo hay gì khác,
chúng ta phải đặt câu hỏi xem tâm và não có khác nhau không.
Quả thật có sự
liên hệ rất
mật thiết giữa tâm và bộ óc
vật chất. Những
sinh hoạt tinh thần có
liên hệ đến cân não.
Tâm không phải là cái gì có thể sờ đụng bằng tay, hay trắc nghiệm bằng
phương pháp hóa học nào. Nó vô hình và không thể sờ đụng và vì thế không thể khảo sát bằng năm
giác quan. Nó nằm ngoài
phạm vi của
thế gian vật chất;
tuy nhiên ta có thể có vài
ý niệm về
bản chất, về kết cấu và một cách tổng quát, về lối
sinh hoạt của nó. Nhưng bộ óc thì khác. Ta có thể nói đến
vị trí thật sự, kết cấu và
chức năng của cân não. Cái tâm, tuy không thể được thấu hiểu do những
ảnh hưởng bên ngoài, không nằm dưới sự
kiểm soát của những
yếu tố bên ngoài, nhưng nó là chủ tất cả. Chính với cái tâm mà
con người tìm
chân lý, dò xét vào sâu bên trong sự vật, và có thể
học hỏi những
bí ẩn và
ý nghĩa của sự vật.
Một cách
vắn tắt, phần
vật chất (sắc), cơ thể
vật chất của
con người, gồm bốn
nguyên tố chánh yếu (cattàri mahàbhùtàni,
tứ đại), được biết là
nguyên tố có
đặc tính cứng rắn, lỏng, nóng hay nhiệt độ, và
di chuyển hay
rung động (pathavi, àpo, tejo, vàyo). Nơi đây,
tứ đại không phải chỉ giản dị là đất, nước, lửa và gió như ta
thường hiểu,
mặc dầu một cách chế định ta có thể gọi như vậy. Trong
tư tưởng Phật Giáo,
đặc biệt là trong
giáo lý Vi Diệu Pháp, Abhidhamma, nó còn là cái gì hơn nữa. Một cách rất
vắn tắt pathavi hay thể cứng, là
nguyên tố có đặc tánh choán một chỗ trong
không gian. Àpo, thể lỏng là
nguyên tố có đặc tánh làm dính liền. Tejo,
nguyên tố có đặc tánh nóng hay nhiệt độ. Vàyo là
nguyên tố di động, đó là sự
di chuyển. Tất cả vật thể đều do
Tứ Đại cấu hợp, nhưng trong mỗi vật,
thành phần này có thể trội hơn các
thành phần khác, như trong đất chẳng hạn,
mặc dầu có đủ bốn
nguyên tố của
Tứ Đại,
thành phần đất trội hơn nước, lửa, gió.
Như đã
thảo luận trước đây, bốn
yếu tố không-phải- vật-lý (phi-vật-lý) của
con người, tất cả những tiến trình
tinh thần và
cảm xúc, đều được
bao gồm trong danh từ "tâm". Người học Phật vốn
quen thuộc với ba danh từ: mano, citta và vinnàna. Những chữ này thường được
phiên dịch là tâm, ở nơi này hay trong một đoạn văn khác,
mặc dầu người
phân biệt xét đoán sẽ dịch vinnàna là thức, hay tâm hay biết. Anh ngữ "
mind" mà ta thường dịch là "
tâm"
diễn đạt không mấy
thích nghi ý nghĩa của
Phạn ngữ mano hay
citta. Ba danh từ
mano, citta và
vinnànatuy được xem là đồng nghĩa
(yam ca kho bhikkhave vuccati cittam itipi mano itipi vinnànam) [8] nhưng mỗi danh từ được
đặc biệt xử dụng trong những đoạn văn khác nhau, với những
ý nghĩa chút ít khác nhau để
diễn tả những sắc thái
tâm lý khác nhau trong
Phật Giáo. (Lời người dịch: thông thường,
mano được dịch sang tiếng Việt là
ý,
citta là
tâm và
vinnàna là
thức).
Trong
tâm lý học
Phật Giáo danh từ
vinnàna hàm xúc một
ý nghĩa sâu xa hơn. Trong
tâm lý học
Tây Phương, tâm được định nghĩa là: "Toàn phần được tổ chức của những tiến trình và kết cấu
tâm lý,
tri giác,
vô tri giác và
nội tâm linh, về mặt
triết học, thay vì về mặt
tâm lý,
thực thể hay tầng lớp
căn bản của những kết cấu và tiến trình ấy." [9] Theo
triết học: "Tâm được dùng trong
hai nghĩa chánh: (a) tâm
cá nhân là cái tự ngã hay chủ thể
tri giác, hồi nhớ, tưởng tượng,
cảm giác,
quan niệm,
lý luận, muốn, v.v... và, về mặt
chức năng,
liên hệ với một cơ thể
cá nhân; (b) tâm, khảo sát với
tính cách chung, là
một thể chất siêu hình
thấm nhuần tâm của tất cả mọi
cá nhân và nó là đối nghịch với
vật chất hay vật thể." [10]
Giờ đây
chúng ta hãy
thảo luận về bốn uẩn vedanà, sannà, sankhàra và vinnàna (thọ, tưởng, hành, thức), vốn cấu hợp
thành phần tâm linh.
Vedanà, thọ,
thành phần cảm giác đi chung với
ấn tượng và
ý nghĩ của
chúng ta. Thọ có ba:
thọ lạc, thọ khổ và thọ
vô ký (
trung lập, không lạc không khổ). Thọ phát sanh
tùy thuộc nơi xúc. Thấy một hình thể hay một vật, nghe một
âm thanh, hưởi một mùi, nếm một vị, sờ đụng một vật,
nhận thức một đối tượng của tâm (
ý nghĩ hay
tư tưởng)
con người kinh nghiệm một loại thọ. Sáu loại thọ này được cảm nhận
xuyên qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (khả năng
nhận thức của tâm manindriya, được xem là khả năng thứ sáu trong
tâm lý học
Phật Giáo).
Thí dụ như khi mắt, hình thể, và
nhãn thức (cakkù-vinnàna) hợp chung lại,
trạng thái hợp chung này được gọi là xúc. Xúc có nghĩa là sự
phối hợp giác quan, đối tượng của
giác quan, và
ý thức. Khi tất cả ba
yếu tố này hợp chung lại thì thọ đương nhiên phát sanh, không có
năng lượng hay
năng lực nào có thể cản ngăn.
Kế đó là
thành phần của
tri giác (sannàkkhandha,
tưởng uẩn).
Chức năng của
tri giác trong
tâm lý học
Phật Giáo là
nhận ra (samjànana) đối tượng -- cả hai, đối tượng
vật lý và đối tượng
tâm linh. Cũng như thọ, tưởng có sáu:
tri giác hình thể,
âm thanh, mùi, vị, và xúc chạm,
vật lý hay
tinh thần. Những
hình thức tri giác siêu-giác-quan như
thần giao cách cảm hay
thiên nhãn thông cũng được bao hàm trong
tưởng uẩn.
Có sự giống nhau
tế nhị giữa hay biết (vijànana), vốn là
chức năng của thức, và
nhận ra (samjànana),
chức năng của
tri giác. Trong khi thức hay biết một vật, tưởng
nhận ra những dấu hiệu đặc thù của vật ấy và như vậy
phân biệt nó với những vật khác. Dấu hiệu được
phân biệt này quan trọng để
nhận ra một vật lần thứ hai và thứ ba, và trong
thực tế, mỗi lần ta hay biết vật ấy. Đó là tưởng, sannà, dẫn đến
trí nhớ. Điều quan trọng nên
ghi nhận là
tưởng uẩn thường phỉnh gạt ta. Đến chừng ấy nó được biết là
ảo giác, hay
tình trạng tri giác sai lạc (sannà vipallàsa). Lúc nào không thấy được
bản chất thật sự của sự vật thì luôn luôn quan kiến của
chúng ta bị
che lấp; do những
thành kiến sẵn có,
luyến ái và âu phiền,
thương yêu hoặc ghét bỏ (anurodha, virodha) [11] của ta, ta không thấy được những
giác quan (căn) và những đối tượng của
giác quan (trần) theo đúng
bản chất khách quan của nó, và
chúng ta chạy theo những
hình ảnh tưởng tượng và
ảo giác.
Giác quan làm cho ta
hiểu biết sai lầm và dẫn dắt ta
đi lạc nẻo, rồi
chúng ta không thấy sự vật trong ánh sáng thật sự, trong bối cảnh
thích nghi của nó, do đó lối nhìn sự vật của
chúng ta trở thành sai lạc (viparìta dassana). Chỉ có
chánh kiến mới loại trừ những ảo kiến ấy và giúp
con người nhận ra bản chất thật sự nằm phía dưới mọi lớp
hình thức bề mặt, thấy sự vật đúng thật như sự vật là vậy chớ không phải hình như sự vật là vậy. Chỉ đến khi vượt thoát ra khỏi
đám mây mờ ảo kiến và
sai lạc,
con người mới sáng chói với
trí tuệ thật sự, như vầng trăng tròn tỏ rạng thoát ra khỏi
đám mây đen.
Khi một
tri giác riêng rẻ, dầu
lầm lạc hay không, mà phát sanh
thường xuyên, thì nó càng
tăng trưởng dũng mãnh lên và bám lấy tâm ta. Chừng đó khó mà rứt rời
tri giác ấy ra, và kết quả như thế nào đã được
giải thích rõ ràng trong câu dưới đây của kinh Sutta-Nipàta (câu 847):
"Người đã thoát khỏi mọi tri giác của lục cănNơi người ấy không còn trói buộc;Người, đã thành đạt giải thoát do nhờ tuệ minh sát,Tất cả mọi ảo tưởng đều chấm dứt;Nhưng người bám níu vào tri giác của lục cănVà những quan kiến sai lầm và huyễn hoặcNgười ấy sống ồn ào cãi vã trong thế gian."Theo sau tri giác (
tưởng uẩn) là nhóm
thành phần cấu
hợp tác ý (sankhàrakkhandha,
hành uẩn). Nên nhớ rằng cấu
hợp tác ý hay cấu hợp
tinh thần là danh từ thông thường để chỉ
sankhàra, hành, trong
ngũ uẩn.
Trong những đoạn văn khác sankhàra có nghĩa là vật
hữu lậu hay bất cứ gì
cần phải có
điều kiện mới
hiện hữu, những vật cấu hợp, tùy thế. Trong
tuyên ngôn "sabbe sankhàrà aniccà" hay "aniccà vata sankhàra", tất cả các vật
hữu lậu đều
vô thường, danh từ sankhàra có nghĩa là những vật
cấu tạo và do
duyên sinh, tức tất cả những sự vật phát sanh do nhân và duyên và rồi chính nó tạo nhân và duyên cho những quả khác phát sanh.
Nhóm
hành uẩn này (sankhàrà)
bao gồm tất cả những
yếu tố tâm, hay
tâm sở, ngoại trừ thọ (vedanà) và tưởng (sanna), đã được đề cập đến ở phần trên.
Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) nói đến
năm mươi hai tâm sở (cetasika). Thọ và tưởng là hai trong năm mươi hai ấy, nhưng không phải là hành. Năm mươi
tâm sở còn lại được gọi chung là hành, sankhàra, hay những cấu
hợp tác ý.
Tác ý, hay
ý định nằm phía sau hành động, có một
vai trò chủ yếu trong
lãnh vực tinh thần và
chúng ta sẽ
thảo luận đến với phần
tâm lý của nghiệp.
Thức uẩn (vinnànakkhandha) là quan trọng nhất trong
năm uẩn cấu thành
con người. Bây giờ,
chức năng của thức là gì? Cũng như thọ, tưởng và hành, thức cũng có sáu loại và
chức năng của nó rất khác nhau. Nó có căn và trần của nó.
Tất cả những thọ cảm của
chúng ta đều được
kinh nghiệm xuyên qua sự
tiếp xúc của
giác quan và
ngoại cảnh. Khả năng cảm nhận đối tượng
tinh thần không phải là cái gì có thể sờ đụng hay
cảm giác như năm
giác quan kia. Mắt
nhận ra thế gian màu sắc (vanna) hoặc hình thể, tai, những
âm thanh có thể
nghe được v.v... Nhưng cái tâm
nhận ra thế gian tư tưởng và
ý nghĩ. Khi nói đến
thế gian tư tưởng và
ý nghĩ, khả năng cảm nhận của tâm là chúa tể của
lãnh vực tinh thần. Mắt không thể nghĩ suy những
tư tưởng, và thâu nhận
ý nghĩ, nhưng rất cần để thấy hình thể và màu sắc.
Điểm rất quan trọng là ta nên thấu hiểu
chức năng của thức.
Mặc dầu có sự
liên hệ về
chức năng giữa các căn và đối tượng của nó,
thí dụ như mắt và hình thể, tai và
âm thanh v.v... sự hay biết phát sanh
xuyên qua thức. Nói cách khác,
trần cảnh không thể được cảm nhận với khả năng nhạy của
giác quan mà không có loại thức
thích nghi.
Khi có ba
yếu tố: mắt, hình thể và
nhãn thức chung
hợp lại, chính sự
trùng hợp này được gọi là xúc. Do xúc có thọ v.v... như đã
giải thích trong pháp
tùy thuộc phát sanh hay
thập nhị duyên khởi (paticca-samuppàda, chương trước).
Khi nói rằng thức phát sanh do sự
hỗ tương tác dụng của
giác quan và đối tượng của nó (indriya và àramana), điều này không có nghĩa rằng thức là cái gì được tạo nên do căn và trần, cả hai vốn là
thuần túy vật lý.
Nếu không vậy ắt ta
chấp thuận lý thuyết của những trường phái
vật chất, tin rằng thức chỉ giản dị là một sản phẩm phụ của
vật chất.
Chức năng của vinnàna, thức, là hay biết đối tượng (vijànana). Mắt
con người có thể
tiếp xúc với một hình thể, nhưng
nếu không có sự hay biết
chúng ta không thể
ý thức đối tượng. Thức cũng là một
pháp hữu lậu tức phải
chuyển biến, và như thế không phải là một
vong linh hay một
linh hồn bất biến đối nghịch với
vật chất, cũng không phải là cái gì do
vật chất sanh ra.
Khái niệm về vinnàna, thức, là một phần rất chủ yếu trong
giáo huấn của
Đức Phật nhưng không có bao nhiêu người
quan tâm nghiên cứu hay
thông hiểu trong tất cả những sắc thái của nó; phần này ít được
hiểu biết nhất. Đối với nhiều người, vinnàna, thức, chỉ là một trong
năm uẩn, và thức là cái gì hay biết đối tượng của
giác quan.
Ý nghĩa thâm sâu hơn của danh từ, những sắc thái
liên hệ rộng hơn, thì không
để ý.
Khi
thảo luận đến khái niệm về thức
liên hệ đến
giáo lý sống còn hay tiến trình
tái sanh của
chúng sanh,
chúng ta thấy rõ rằng thức có một
vai trò trọng yếu trong tiến trình
trở thành (punabbhava).
Điều này
hiển nhiên nổi bật trong pháp
tùy thuộc phát sanh, paticca-samuppàda:
sankhàra paccayà vinnànam,
tùy thuộc nơi nghiệp, tức hành động thiện hay
bất thiện trong những kiếp sống
quá khứ, thức trong kiếp sống
hiện tại được tạo duyên. Như vậy, thức là
yếu tố đầu tiên (nidàna), hay vòng khoen đầu tiên thuộc về kiếp sống
hiện tại. Vì thức hay vinnàna này là khởi điểm của luồng thức
trôi chảy (vinnàna-sota) thuộc về một kiếp
sinh tồn (bhava) nên cũng có tên là patisandhi vinnàna, thức-nối-liền hay thức-tái-sanh. Sankhàra, hành, có nghĩa là nghiệp thiện và
bất thiện, tất cả những hành động bằng thân, khẩu, ý (kàya-sankhàra, vacì-sankhàra, citta-sankhàra) mà sẽ đem lại
phản ứng đưa đến
hiện tượng tái sanh. Như vậy, sankhàra, hành,
quyết định phần thức này trong kiếp sống kế đó bằng cách
ảnh hưởng đến cá tính mới.
Điều mà ở đây
chúng ta gọi là
đời sống là
cơ năng của
ngũ uẩn mà ta đã có
thảo luận ở phần trên, hay là
cơ năng của tâm và thân (nàma-rùpa, danh-sắc). Danh và sắc chỉ là những
năng lượng hay
năng lực không bao giờ còn nguyên vẹn
giống hệt trong hai khoảnh khắc
kế tiếp, và trong luồng
trôi chảy của tâm và thân ta không thấy có bất luận chi thường còn. Người
trưởng thành không còn là em bé thủa nào mà cũng không hẳn là một người khác biệt; chỉ có
liên hệ trong sự nối tiếp. Luồng
trôi chảy của tâm và thân, hay của
năng lực tâm linh và
vật lý không mất lúc chết, bởi vì
năng lượng và
năng lực không bao giờ tan mất. Nó tự đặt mình
trở lại, tự cấu thành
trở lại trong những
điều kiện mới.
Hiện tượng đó được gọi là
tái sanh, sinh-tồn-trở-lại hay trở-thành-trở-lại (punabhava). Tiến trình nghiệp (kammabhava) là
năng lực phát xuất từ kiếp sống
hiện tại, tạo duyên cho kiếp sống
vị lai trong sự
liên tục nối tiếp không
gián đoạn. Trong tiến trình này không có chi
lưu hành sang, hay
chuyển sinh, từ kiếp này sang kiếp kế. Nó chỉ là một
di động liên tục không
gián đoạn. "Chúng sanh" mà lìa đời ở đây và
tái sanh ở
nơi khác không phải là một, mà cũng không phải là
hoàn toàn người khác (na ca so na ca anno). [12]
Có một chập tâm
cuối cùng (cuti-vinnàna hay cuti citta,
tử tâm) thuộc về kiếp sống liền trước đó; trong tức khắc kế đó, khi
tử tâm chấm dứt, nó tạo duyên cho chập
tư tưởng đầu tiên của kiếp
hiện tại phát sanh. Chập này được gọi là patisandhi-vinnàna, thức-nối-liền hay thức-tái-sanh,
hoạt động đầu tiên của
đời sống tâm linh bên trong một
chúng sanh. Cùng thế ấy, chập
tư tưởng cuối cùng của kiếp sống
hiện tại tạo duyên cho chập đầu tiên trong kiếp kế. Bằng cách ấy thức phát sanh và
hoại diệt, nhường chỗ cho một chập
tư tưởng mới. Như thế ấy luồng thức (vinnàna-sota)
mãi mãi liên tục trôi chảy cho đến khi ta tận diệt tất cả những căn nguyên đưa đến
trở thành, tức những
nhân duyên tùy thuộc theo đó phát sanh những kiếp
sinh tồn. Các căn ấy là:
tham ái,
sân hận và
si mê (ràga, dosa, moha). Theo một lối hiểu,
sinh tồn là thức, là
ý chí muốn sống.
Phạn ngữ patisandhi-vinnàna, là một danh từ chỉ thấy trong
văn chương Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), và
ý nghĩa của danh từ này được
giải thích với nhiều
chi tiết trong các
chú giải và những bài khái luận về Abhidhamma. Patisandhi, theo nghĩa từng chữ, là nối-liền-trở-lại, hợp-nhất-trở-lại, chấp-nối-lại. Gọi là hợp nhất
trở lại vì nó là chập tâm nối liền một kiếp sống với một kiếp khác, kiếp kế đó. [13] (Xem phần trên, trang 244).
Ta có thể
thích thú ghi nhận rằng trong
Tạng Kinh (Sutta Pitaka) có một danh từ
đối chiếu với "patisandhi-vinnàna" của Abhidhamma. Trong kinh Anenjasppàya Sutta (106) của bộ Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, danh từ vipàka-vinnàna được
giải thích là samvattanikam vinnànam, cái thức mà
tiếp tục trôi chảy,
tiếp tục nối liền,
diễn tiến từ kiếp sống này đến một kiếp khác như là
hậu quả (vipàka), cái thức mà
tiến hóa sang kiếp sống kế. Nhưng nên
ghi nhận rằng cái thức ấy cũng không phải là một
thực thể thường còn
bất biến.
Tùy thuộc nơi thức, phát sanh danh-sắc (nàma-rùpa),
cá thể tâm-vật-lý. Đàng khác, do danh-sắc tạo duyên, thức phát sanh (nàma-rùpa paccayà vinnànam, vinnàna paccayà nàma-rùpam) [14]. Hai
yếu tố này
hỗ tương tùy thuộc lẫn nhau và cả hai
hợp lại cấu thành
chúng sanh mới.
Trong kinh Mahà Nidàna-Sutta của bộ
Trường A Hàm vấn đề này được
Đức Phật nêu lên trong một cuộc
đàm thoại với vị
thị giả, Đức Ànanda Thera. Ngài hỏi nếu thức (vinnàna) không vào
bào thai của bà mẹ thì danh-sắc (nàma-rùpa) có thể phát triển và
trưởng thành được không (màtukucchimhi na okkamissatha), hay vào đến
bào thai rồi phải rời đi (okka-mitvà vokkamissatha). Ngài Ànanda bạch: "Bạch Hóa
Đức Thế Tôn, thai bào sẽ không đậu." Lời
giải đáp này được
Đức Phật chấp nhận.
Như kinh Mahàtanhàsankhaya Sutta của bộ
Trung A Hàm (Majjhima Nikàya) đã nói rõ, một
chúng sanh được thọ thai (gabbhassa avakkanti) khi có ba
yếu tố liên hợp. Nếu mẹ và cha
gặp nhau vào
thời kỳ sanh sản của mẹ, và có sự
hiện hữu (paccupatthito hoti) của một
chủng tử (gandhabba), chừng ấy mầm mống của
đời sống được gieo trồng (Xem phần trên, trang 204).
Yếu tố thứ ba, gandhaba, chỉ giản dị là một danh từ khác để chỉ vinnàna, thức, hay patisandhi-vinnàna, thức-nối-liền, hay samvattanika-vinnàna, thức-tái-sanh. Theo nhà
Chú Giải Àchariya Buddhaghosa, gandhabba có nghĩa là
chúng sanh sắp nhập vào
bào thai (paccupatthito hoti). Điều này được
giải thích là
chúng sanh (satta) mà sắp được sanh ra trong
hoàn cảnh mà sự vận chuyển của
nghiệp lực đưa vào. Nên biết rằng gandhabba này không phải là một "bán-thần linh chủ trì sự thọ thai" [15] cũng không phải một "vong hồn có hình một bộ xương" như danh từ gandharva trong kinh
Phệ Đà hàm xúc. Chính vinnàna, thức, do sankhàra, hành hay hành động tạo nghiệp, dẫn đến sự
tái sanh của một
cá nhân sau khi chết. (Xin xem phần trên).
Thức,
yếu tố tâm lý quyết định sự
tái sanh của một
cá nhân hay
chúng sanh, không phải là cái gì thường còn dưới
hình thức một tự ngã, hay
linh hồn, hay
thực thể tự ngã. Chính cái thức cũng phải được tạo duyên mới
hiện hữu, và thức luôn luôn
biến chuyển. Trong thời
Đức Phật có nhiều người nghĩ, và
đến nay vẫn còn nhiều người nghĩ đến thức như một cái gì thường còn, một tự ngã
bền vững hay
linh hồn trường cửu bên trong
con người,
tiếp tục di chuyển xuyên qua cuộc đời, và đến khi chết
chuyển sinh qua một kiếp sống khác, nối liền
đời sống. Vào thời
Đức Phật vài nhà
siêu hình học chủ trương rằng: " Bất luận gì mà ta gọi là citta hay mano hay vinnàna (tâm, ý hay thức), đó là
linh hồn, thường còn, bền bỉ,
vĩnh cửu, không đổi thay." [16]
Chúng ta cũng thấy một
thí dụ điển hình trong
bài kinh thứ ba mươi tám của bộ Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm. Một vị
đệ tử của chính
Đức Phật tên Sàti, chủ trương rằng: "Như tôi được hiểu
Giáo Pháp mà
Đức Phật dạy, chính cái thức, vinnàna, mà vởn vơ
tiếp tục lưu hành (sandhàvati samsarati), thức ấy
chuyển sinh và lang thang đi (
tái sanh)." Khi
Đại Đức Sàti
thổ lộ quan kiến của mình với
Đức Phật,
Đức Bổn Sư hỏi: "Này Sàti, thức là gì?" "Là cái gì
biểu lộ,
diễn đạt ra ngoài,
cảm thọ và
kinh nghiệm (vado vedeyyo) kết quả của những hành động thiện và
bất thiện lúc ở đây lúc ở kia."
Đức Phật giải tỏa lối
tin tưởng sai lầm của sư và giảng rằng ngoài
nhân duyên không có thức phát sanh, rằng thức phát sanh
tùy thuộc nơi
nhân duyên.
Đại Đức Sàti
sai lạc khi nói rằng cũng một cái thức ấy
tiếp tục biểu lộ và
kinh nghiệm, và như vậy xem thức là nguyên lý nằm phía sau tất cả những
sinh hoạt tâm linh. (Để có thêm
chi tiết xin đọc trang 247 ở phần trên.)
Bây giờ, thức mà được đề cập đến như luồng
trôi chảy của thức (vinnàna sota) [17], không phải là một
thực thể đơn thuần không
chuyển biến, và
tiếp tục còn nguyên vẹn trong một
trạng thái, không hư hoại
xuyên qua vòng
luân hồi. Thức cũng phải được tạo duyên mới
hiện hữu, và như vậy, không phải là thường còn. Không như
Đại Đức Sàti lầm nghĩ, thức không
chuyển sinh từ kiếp này qua kiếp khác.
Nhà tâm lý học trứ danh người Hoa Kỳ, William James, chỉ vang âm những lời của
Đức Phật khi ông viết về thức như sau: "Không có gì nối chấp. Nó chảy trôi. Một "ngọn sông" hay "một dòng suối" là
hình ảnh ví dụ mà người ta
tự nhiên thường dùng để
mô tả ... Hãy gọi nó là dòng
tư tưởng, luồng
tâm thức hay
đời sống chủ quan." [18]
Bhavànga,
Phạn ngữ mà thường được dịch là "
luồng hộ kiếp" hay sự "liên tục sinh tồn", là một sắc thái của
tâm lý học
Phật Giáo cần phải thông hiểu. Bhavànga-citta, chập tâm bhavànga, hay bhavànga-sota, luồng bhavànga, có
vai trò quan trọng
trong đời sống
tâm linh của một
chúng sanh.
Khoa
tâm lý học
hiện đại quy định ba tầng lớp tâm: thức,
tiềm thức,
vô thức. Thức là sự hay biết. Trong khi
tỉnh thức (tức không ngủ),
tâm thức sanh hoạt
xuyên qua năm đường lối giao thông được gọi là
ngũ quan. Tầng lớp
tiềm thức là nơi giữ lại
trí nhớ, và ta có thể hồi nhớ theo
ý muốn.
Tiềm thức, vốn được xem là tầng lớp
tâm linh nằm kế liền phía dưới thức, là chỗ chứa đựng những ký ức mà ta có thể
lấy ra, đem
trở lại thức theo
ý muốn. Còn tầng lớp
vô thức là một kho, chứa đựng tất cả những
kinh nghiệm quá khứ mà ta không thể nhớ lại
như ý muốn, nhưng
thỉnh thoảng tự nó biểu hiện
trở lại trong tầng lớp thức mà không cần có gì bên ngoài khơi động, hoặc bằng những
phương pháp đặc biệt như
thôi miên.
Sigmund Freud, mà niềm
quan tâm chánh là tâm
vô thức xem như kho chứa những
nguyên nhân tinh thần, trong quyển "Psychopathology of Everyday Life", có cho nhiều
thí dụ điển hình về
sinh hoạt vô ý thức.
Mặc dầu có vài
học giả đồng hóa bhavànga-citta (tâm hộ kiếp) với
tiềm thức hay
vô thức, nhưng không phải là đúng hẳn. Trong
tâm lý học
Phật Giáo không có những tầng lớp thức tương tợ. Abhidhamma,
Vi Diệu Pháp, nói đến hai loại tâm: vìthi-citta và bhavànga-citta. Vìthi-citta, (lộ trình tâm) là tiến trình
tư tưởng luôn luôn xảy diễn trên tầng lớp thức, tức là trong khi mình
tỉnh thức (không ngủ), nó
sinh hoạt xuyên qua năm
giác quan. Bhavànga-citta (tâm hộ kiếp hay
liên tục sinh tồn)
sinh hoạt trong lúc ta thức cũng như trong lúc ngủ mê mà không có
chiêm bao mộng mị, và như vậy có thể nói là nó
hoạt động phía dưới tầng lớp thức. Ta cũng có thể gọi đó là
tiềm thức hay tiến trình tâm
vô ý thức nhưng nó không hẳn đồng nghĩa, không bao hàm
toàn thể những
ý nghĩa chứa đựng trong hai danh từ
tiềm thức và
vô thức theo khái niệm của người
Tây Phương.
Danh từ bhavànga được cấu thành do "bhava" (
trở thành hay
sinh tồn) và "anga" (
nguyên nhân hay
phương tiện, chớ không phải là
yếu tố), là
điều kiện thiết yếu để
tiếp tục sinh tồn. "Liên tục sinh tồn" có lẽ là gần nhất với bhavànga, do có sự
hiện hữu của bhavànga-citta, luồng
tâm liên tục
trôi chảy không
gián đoạn.
Nếu sanh vào kiếp sống
hiện tiền ở đây là khởi điểm, và chết là mức tận cùng, ắt khó cho
chúng ta thấy chi
cần phải bận tâm đến, hay
cố gắng tìm hiểu quan điểm tâm lý của
vấn đề dukkha, bất
toại nguyện, đang
chứng nghiệm trong kiếp
sinh tồn. Một
trật tự luân lý trong
vũ trụ,
thực tại của những gì đúng hay sai, có
thể không có
ý nghĩa thực dụng nào đối với ta. Hưởng thọ
dục lạc và
thỏa mãn giác quan bằng bất cứ giá nào hình như là điều nên làm
trong khoảng thời gian ngắn ngủi của kiếp sống này.
Tuy nhiên quan kiến này
không giải thích được
tình trạng bất đồng của
nhân loại. Một tâm tư
tìm tòi lúc nào cũng tận lực
tìm hiểu nguyên nhân của những
hoàn cảnh chênh lệch ấy.
Đứng về mặt
tâm lý, có hai
giáo lý chánh trong
Phật Giáo cần phải được
nghiên cứu. Đó là
nghiệp báo và
tái sanh.
Nghiệp báo là
định luật nhân sanh quả
uốn nắn số phận của
chúng sanh và đưa đến
tái sanh. Trên
căn bản, đó là
tác ý (cetanà),
ý muốn làm, làm động cơ đưa đến hành động.
Đức Phật dạy:
"Này chư tỳ khưu, Như Lai tuyên ngôn, tác ý là nghiệp, đã có ý muốn con người có hành động, lời nói, suy tư." [19]
Tác ý,
ý muốn làm, là
yếu tố quyết định tất cả mọi
sinh hoạt của
chúng ta, thiện hay
bất thiện. Kamma, nghiệp, là hành động, như cái hột.
Phản ứng,
hậu quả, hay trái, được gọi là kamma-vipàka, quả.
Tác ý có thể tốt hay xấu, do đó hành động có thể thiện hay
bất thiện. Hành động và
phản ứng của hành động, nhân và quả, hột và trái,
triền miên tiếp nối, vận chuyển
vô cùng tận, và sự
trở thành này (bhava, hữu) -- tiến trình
liên tục chuyển biến những
hiện tượng tâm-vật-lý của
đời sống -- đã được
thảo luận trên đây.
Con người hành động bằng thân, khẩu, ý; hành động đưa đến
phản ứng của hành động.
Ái dục (tanhà), lòng khát khao của
chúng ta, vốn là một
yếu tố của tâm, đưa đến hành động, hành động tạo quả; rồi đến lượt nó, quả đưa đến những
ham muốn mới,
ái dục mới và khát khao mới. Tiến trình nhân và quả, hành động và
phản ứng của hành động, là
định luật thiên nhiên. Chính tự nó là một
định luật mà không
cần phải có người
ban hành. Một nguyên lý
ngoại lai thưởng và phạt những hành động thiện và
bất thiện của
con người không có chỗ đứng trong
Phật Giáo.
Con người luôn luôn thay đổi, trở nên
tốt hơn hoặc
xấu hơn.
Tình trạng chuyển biến này không thể tránh và
hoàn toàn tùy thuộc nơi
tác ý và hành động của chính ta. Đó chỉ là
định luật thiên nhiên của sự
bảo tồn năng lượng trong
vũ trụ,
mở rộng đến
phạm vi đạo đức.
Ta có thể
nhận thấy rằng, đứng về
phương diện tâm lý,
Phật Giáo không tán trợ
ý niệm ăn năn hối hận, bởi vì nó không làm được gì tốt cho ta hay cho kẻ khác [20]. Theo
Phật Giáo hành động sai quấy không phải là "tội", vì danh từ này
xa lạ đối với
giáo huấn của
Đức Phật. Không có gì tương tợ như "phá
giới cấm của Đức Phật", bởi vì Ngài không phải là người
ban hành giới luật, không phải là vị thẩm phán hay người có
thế lực, chuyên chế
hành phạt những hành động xấu và
ban thưởng những hành động tốt của
chúng sanh. Người hành động phải chịu
trách nhiệm về hành động của mình; chịu
đau khổ hay hưởng thọ những
hậu quả của hành động, và chính họ phải bận tâm
lo nghĩ hành thiện hoặc hành ác. Cũng nên nói rõ rằng tất cả những hành động, dầu thiện hay
bất thiện, không
nhất thiết tạo quả. Nghiệp tốt của ta có thể
gia giảm hậu quả của nghiệp xấu, và ngược lại.
Ta cũng nên
thông hiểu rằng
giáo lý nghiệp báo của
Phật Giáo không phải là
thuyết định mạng, không phải là giáo thuyết nhằm làm cho hành động của
con người mất
tự do,
nhất thiết phải được
quyết định do những động cơ được xem là những
quyền lực ngoại lai ảnh hưởng đến
tác ý, hoặc đã được
quyết định do một
Thần Linh.
Đức Phật không tán đồng
quan điểm cho rằng tất cả mọi sự vật đã được
quyết định một cách
chắc chắn, không thể đổi thay, và đó là thuyết
tiền định nghiêm khắc (niyati-vàda). Ngài cũng không theo giáo thuyết chủ trương rằng
hoàn toàn không có
tiền định (adicca-samuppanna).
Theo
Phật Giáo không có
đời sống nào
sau khi chết cũng không có cuộc sống nào trước khi được sanh ra mà không
tùy thuộc nơi nghiệp hay hành động có
tác ý.
Nghiệp báo là hệ luận của
tái sanh; đàng khác
tái sanh là hệ luận của
nghiệp báo. Sanh đến trước tử, và tử cũng đến trước sanh, và như vậy cặp
sanh tử liên tục nối tiếp nhau không
gián đoạn. Đối với nhà khoa học,
vật chất là
năng lực ở trong
trạng thái luôn luôn chuyển động,
biến đổi, không chứa đựng
thể chất thật sự. Đối với
nhà tâm lý học "tâm linh" không còn là một
thực thể cố định. Như vậy, kiếp sống một
cá nhân là chuỗi dài của sự
biến đổi liên tục tiếp nối, một cái gì phát sanh và
hoại diệt không còn
giống hệt như trước trong hai khoảnh khắc
kế tiếp. Sự
liên tục biến đổi này, tiến trình tâm-vật-lý này mà ta
nhận thức rõ ràng trong đời sống, không
chấm dứt lúc ta chết. Luồng
tâm linh trôi chảy không ngừng. Chính cái luồng-tâm luôn luôn chuyển động ấy được gọi là
nghiệp lực.
Năng lực hùng mạnh này,
ý chí muốn sống này, làm cho cuộc sống
liên tục xảy diễn. Như vậy
dòng tâm thức (vinnàna-sota)
triền miên trôi chảy không
chấm dứt ngày nào mà
ái dục (tanhà) cùng với
vô minh (avijjà),
tình trạng hư hỏng cùng tột của tất cả những khùng điên của
chúng ta, còn
tiếp tế nhiên liệu. Dưới
năng lực mãnh liệt của
ái dục,
chúng sanh khát khao được có hay được
thỏa mãn tham vọng, rồi tự trói chặt mình trong Bánh Xe của
Đời Sống, bị quấn cuốn và dày xé,
tuyệt vọng chịu
đau khổ trong những cây căm của bánh xe, và khóa chặt cánh
cửa giải thoát.
Kẻ thù của
toàn thể thế gian là lòng khát khao
ham muốn,
xuyên qua đó tất cả
bất thiện pháp đến với
chúng sanh. Đây không phải chỉ là
tham vọng và
luyến ái đắm say trong nhục dục
ngũ trần,
tài sản sự nghiệp, hay lòng mong muốn thắng người và xâm lăng
quốc gia, mà cũng là bám níu vào những
tư tưởng, quan kiến,
dư luận và
tín ngưỡng (dhamma-tanhà) mà thường dẫn đến
tai ương và
tiêu diệt, và đem lại khổ đau không kể xiết cho
toàn thể các
quốc gia, trong
thực tế là
toàn thể thế gian. Tanhà,
ái dục này có ba, tâm thúc giục
con người hành động dưới
ảnh hưởng của ba loại
ái dục. Mỗi khi
ái dục đeo níu theo một đối tượng
liên quan đến thích thú của những
giác quan thì được gọi là kàma-tanhà,
ái dục luyến ái theo
ngũ trần. Khi nó liên hợp với sự
tin tưởng rằng kiếp sống này là
vĩnh cửu trường tồn thì được gọi là bhava-tanhà,
ái dục luyến ái theo sự
sinh tồn, hay theo sự
trở thành. Đó là
lòng ham muốn được
tiếp tục sống
mãi mãi, tự
bảo tồn (jìvitu-kàma). Khi
ái dục liên hợp với
niềm tin trong sự tự-tuyệt-diệt thì được gọi là
ái dục luyến ái theo sự không-sinh-tồn, theo sự
tuyệt diệt (vibhava-tanhà).
Ái dục được chia làm ba phân hạng có thể ví với khái niệm của Freud về
eros, libido và thanatos.Theo
Phật Giáo, tâm có rất nhiều
ô nhiễm (kilesa, bợn nhơ
tinh thần), nhưng căn nguyên của tất cả các
ác pháp là: tham hay
ái dục; sân hay
ác ý; si hay
ảo tưởng (lobha, dosa, moha). Ba căn này là
động cơ thúc đẩy, khiến
con người hành động. Hành động được
thực hiện dưới
ảnh hưởng của các
ô nhiễm này đưa đến những kiếp sống lặp đi lặp lại, bởi vì "không
từ bỏ tham, sân và si, ta không thể
tránh khỏi sanh." [21] Người đã
hoàn toàn tận diệt cặp ba này, người ấy đã vượt thoát ra khỏi xiềng xích của vòng
luân hồi (samsàra), những kiếp sống
triền miên. Người ấy
tự do, trong
ý nghĩa đầy đủ của danh từ. Người ấy không còn có thể tạo nhân để
tái sanh như một
chúng sanh, bởi vì đã
chứng ngộ Niết Bàn,
hoàn toàn chấm dứt sự
trở thành (bhava nirodha); người ấy đã vượt lên trên mọi
hoạt động phàm tục, và đã tự nâng mình lên
trạng thái cao hơn
thế gian,
mặc dầu vẫn sống trong
thế gian; hành động của người ấy không tạo nghiệp bởi vì những hành động ấy không do bộ ba tham, sân, si
thúc đẩy, không chịu
ảnh hưởng của ba
năng lực ô nhiễm tinh thần. Tất cả những
ác pháp, tất cả những
ô nhiễm tinh thần, không còn khả năng làm bợn nhơ tâm người ấy. Bên trong người ấy không còn khuynh hướng ngủ ngầm (anusaya) làm
động cơ thúc đẩy đưa đến hành động; người ấy đã dứt bỏ cả hai, thiện và
bất thiện (punna pàpa pahìna) [22], người ấy không bận tâm lo sợ
quá khứ,
vị lai và chí đến
hiện tại. Người ấy không đeo níu vào bất luận gì trong
thế gian, và như thế không bị khuấy động. Những
thăng trầm của
đời sống không làm cho người ấy
rối loạn.
Tâm không lay chuyển trong
hoàn cảnh rủi may của
thế gian; người ấy không
âu sầu,
hoàn toàn thanh khiết và châu toàn (asokam, virajam, khemam) [23]. Như vậy
Niết Bàn có thể
chứng ngộ trong chính kiếp sống này (dittha-dhamma-nibbàna).
Con người suy tư,
tâm hồn tìm tòi, sẽ thấy "trạng thái" ấy không khó hiểu, nhưng chỉ có vị
A La Hán mới
chứng nghiệm,
ngoài ra không có bất luận ai khác trong
thế gian hoặc trong cảnh trời nào có thể
thọ hưởng.
Như
Đức Phật minh bạch chỉ dạy:
"Bất luận bất thiện pháp nào, bất luận gì liên quan đến, hay thuộc về bất thiện pháp, tất cả đều phát xuất từ tâm (theo đúng nguyên văn là, tâm dẫn đầu tất cả: mano-pubangamà)." "Bất luận thiện pháp nào, bất luận gì liên quan đến thiện pháp, tất cả phát xuất từ tâm." [24]
Do đó
con người cần phải khảo sát tỉ mỉ cái tâm của chính mình để
thông hiểu tâm
con người hoạt động như thế nào,
tư tưởng phát sanh và
hoại diệt ra sao. Như Sigmund Freud nói: "Những
biến đổi tâm linh chỉ xảy diễn rất
chậm chạp. Nếu nó xảy đến một cách mau chóng và bất ngờ thì đó là dấu hiệu không tốt."
Hiểu biết những
tư tưởng tốt là tốt, và những
tư tưởng xấu là xấu, ta nên
cố gắng ngăn ngừa những
tư tưởng xấu và
bất thiện chưa phát sanh; dứt bỏ những
tư tưởng xấu đã phát sanh; tạo nên và khai triển những
tư tưởng tốt chưa phát sanh;
gìn giữ và
bảo trì những
tư tưởng tốt đã phát sanh. Đó là
chức năng của
chánh tinh tấn (sammà-vàyàma),
một sinh hoạt trong tâm:
ngăn ngừa, dứt bỏ, khai triển và
bảo trì (samvara, pahàna, bhàvanà, anurakkhana) [25]. Như vậy trong
Phật Giáo, chí đến nền tảng
luân lý cũng được
nghiên cứu trên
phương diện tâm lý.
Sự kiện Đức Phật đặc biệt quan tâm đến
chánh tinh tấn, nói lên
rõ ràng với một
ngôn ngữ không thể nhằm lẫn, rằng
Phật Giáo không phải là một
triết học bi quan, một
giáo lý cho những
tâm hồn suy nhược chỉ nhìn sự vật trên
phương diện bất lợi nhất, nhưng đây thật sự là
tôn giáo của hạng chiến sĩ đầy
quả cảm.
Quả thật khó mà dứt bỏ những gì lừa phỉnh và giữ ta trong
hoàn cảnh nô lệ, khó mà trừ những
tà ma quỷ quái lúc nào cũng ve vãn trong tâm của
con người dưới
hình thức tư tưởng bất thiện. Những
ma quái ấy là biểu hiện của tham, sân, si, đã được
thảo luận ở phần trên.
Cho đến khi lên đến mức độ
tuyệt đỉnh trong sạch bằng cách không ngừng
rèn luyện tâm ta không thể
trọn vẹn chiến thắng những người khách hiểm nguy ấy trong tâm. Sự
từ bỏ suông những vật bên ngoài như nhịn đói v.v... không có chiều hướng làm cho
con người trong sạch; những điều ấy không làm cho
con người trở nên
thánh thiện và
vô hại.
ép xác khổ hạnh là một
cực đoan mà
Đức Phật bác bỏ trong
bài Pháp Đầu Tiên, xem đó là
sai lầm, và Ngài cũng
bác bỏ lối sống lợi dưỡng trong
dục lạc, gọi đó là
thô bỉ.
Lánh xa hai
cực đoan trên,
Đức Phật chỉ vạch cho
thế gian con đường ở giữa,
Trung Đạo,
Con Đường Cũ Xa Xưa mà khi đã được trau giồi đầy đủ sẽ nâng
con người từ thấp lên đến tầng cao vọi nhất của
đời sống tâm linh; dắt dẫn
con người từ tăm tối đến ánh sáng, từ đắm say
mê hoặc đến
buông xả; từ khuấy động đến
thanh bình tĩnh lặng; và
cuối cùng đến
hạnh phúc tối thượng của
Niết Bàn.
________________________________________
Chú thích:
[1] The Foundations of Mindfulness, bản dịch của Nyanasatta (Kandy: BPS), loại Wheel số 19; cũng xin đọc The Satipatthàna and Its Application to Modern Life, (Kandy: BPS), loại Wheel số 60, của
tác giả V.F. Gunaratna.
[2] Soma Thera, The Removal of Distracting Thoughts (Kandy: BPS), loại Wheel, số 21.
[3] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 276.
[4] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, ii, 177.
[5] Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, 22/I. 140.
[6] Vinaya Pitaka,
Tạng Luận, I, 16; Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, I, 380; Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, I, 110; Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, iv, 186.
[7] Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, iii, 158.
[8] Samyutta Nikàya, ii, 94.
[9] James Drever, A Dictionary of Psychology, (London: Penguin Books 1952)
[10] Dictionary of Phylosophy, Dagobert D. Runes, ed., (New Jersey: Littlefield, Adams & Co, USA, 1963).
[11] Majjhima Nikàya, I, 266.
[12] Milindapanha, Sách Minlinda
Vấn Đáp, P.T.S. trang 40.
[13] Xin xem
chú giải Vibhàvini Tikà.
[14] Samyutta-Nikàya,
Tạp A Hàm, ii, 104.
[15] Pali-English Dictionary, P.T.S., xem chữ Gandhabba.
[16] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, 1/I. 21.
[17] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, iii, 105; Sutta Nipàta, câu 1055. Cũng "stream of becoming" (bhava-sota); Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, iv, 291.
[18] Psychology Briefer Course, xem chương "The Stream of Consciousness".
[19] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, iii, 415.
[20] (Lời người dịch)
Ăn năn hối hận vì đã làm điều sai quấy hay vì bỏ lỡ điều tốt không làm. Chính sự
ăn năn hối hận ấy không đem
lợi ích thiết thực nào, mà làm cho ta bồn chồn, sốt ruột
lo âu. Theo
Vi Diệu Pháp,
buồn bực thuộc về loại tâm sân. Sự
ăn năn tốt nhất là nhìn nhận
thiếu sót của mình và
quyết tâm gìn giữ, từ đây không để
thiếu sót như vậy nữa.
[21] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, 144.
[22] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 39.
[23] Sutta Nipàta, câu 270.
[24] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, i, II.
[25] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, ii, 15-16.