Câu Chuyện Mahà Mahinda, Sanghamittà, Sri Mahà-BodhiĐối với người
Phật tử Sri Lanka (
Tích Lan) mỗi ngày trăng tròn trong năm đều có một
ý nghĩa rõ ràng. Trong tất cả những ngày ấy,
ý nghĩa và
thiêng liêng nhất là ngày trăng tròn tháng Vesak, bởi vì có
liên quan đến ba diễn biến
trong đời sống
Đức Phật -- đản sanh,
thành đạo và
nhập Niết Bàn. Như vậy, Vesak (thường gọi là
lễ Phật Đản) là lễ Tam hợp,
thiêng liêng nhất đối với người
Phật tử trên khắp
thế giới.
Tuy nhiên, những ngày rằm tháng Poson (tháng 6 D.L.) và Unduvap (tháng 12 D.L.) chỉ có
ý nghĩa đặc biệt đối với người
Phật tử Sri Lanka. Tại sao? Họ biết rất rõ, và
vì lẽ ấy họ
hết lòng nhiệt thành
cử hành hai ngày lễ ấy.
Trăng tròn tháng Unduvap là ngày lễ
thiêng liêng không thể quên, để tưởng niệm
ân đức của
công chúa con gái một
hoàng đế, một
thiếu nữ cao cả có
lòng hy sinh lớn lao và
tâm đạo nhiệt thành sâu sắc, đến
hải đảo này và hiến trọn cuộc sống để tạo
an lành và
hạnh phúc cho dân chúng,
đặc biệt là
hạnh phúc của người
phụ nữ Sri Lanka. Bà không phải ai khác hơn là Đức
Trưởng Lão Ni A La Hán Sanghamittà, con gái của Đại Đế Asoka của xứ
Ấn Độ, và là em gái của Đức
Trưởng Lão A La Hán Mahà Mahinda, người đã đưa
Phật Giáo đến Sri Lanka vào thế kỷ thứ III, trước D.L. trong ngày trăng tròn của tháng Poson (nhằm tháng 6 D.L.). Trước khi học hiểu thêm về hai nhân vật
thánh thiện này, hãy nhìn vào
trở lại lịch sử của
hải đảo, và xem
tình trạng tôn giáo của xứ này trước ngày Mahà Mahinda và Sanghamittà đến.
Sri Lanka Trước Ngày Mahinda Đến
Mặc dầu lịch sử được
ghi nhận của người Sinhala (
Tích Lan) bắt đầu kể từ ngày Vijaya đặt chân lên xứ Sri Lanka vào năm 543 trước D.L.,
lịch sử Phật Giáo của Sri Lanka khởi đầu từ ngày đến của vị
A La Hán Thera Mahinda, con Đại Đế Asoka.
Tuy nhiên, một cách
chánh đáng, ta không thể
kết luận rằng trước đó trên
hải đảo này không ai biết gì về
Đức Phật và
giáo huấn của Ngài. Ba tờ niên sử ở Sri Lanka: Mahàvamsa, Dìpavamsa, và tờ Samantapàsàdikà,
Chú Giải Tạng Luật,
mô tả rất
sống động ba cuộc viếng thăm đảo của
Đức Phật Gotama, vào tháng thứ năm, năm thứ năm và năm thứ tám sau ngày
Thành Đạo.
Khi Mahà Mahinda đến đây vào
triều đại Vua Devànampiya Tissa, 236 năm sau Vijaya, và
thuyết giảng Giáo Pháp cho dân chúng, họ có thể
lãnh hội nhanh chóng bức
thông điệp của
Đức Bổn Sư.
Giáo Pháp lan truyền cùng khắp
hải đảo nhanh chóng một cách bất ngờ. Điều này cho thấy rằng hột giống của Ngài Mahà Mahinda được gieo trồng trên một thửa đất đã được chuẩn bị sẵn, nhờ trước đó có
tiếp xúc với Magadha, nơi mà
Phật Giáo dồi dào phồn thịnh. Ta biết rằng theo lời
yêu cầu của các
quan đại thần của Vijaya, Vua Pandya xứ Madhura gã con gái mình đưa sang làm hoàng hậu Vijaya. Cùng đi với
công chúa có nhiều
thiếu nữ từ vương quốc Padyan, nhiều thủ công khéo léo và hằng ngàn
gia đình của mười tám nghiệp đoàn. Những người Pandyan này vốn dòng Kshatriya (chiến sĩ)
quý phái từ Madhya-desa, nơi mà
Đức Phật trải qua phần lớn
cuộc đời hoằng Pháp dài dẳng của Ngài.
Chúng ta cũng được biết rằng Panduvàsudeva, cháu và là người nối ngôi Vijaya, cưới Bhaddhakaccàna, người con gái
xinh đẹp của Vua Pandu, anh em chú bác với chính
Đức Phật. Hơn nữa, như được biết qua niên sử Mahàvamsa, những
giáo phái không-phải-Phật
Giáo như Nigantha và Paribbàjaka đã sẵn có tại Sri Lanka. Ta cũng phải
kết luận rằng những người
đồng thời với, và
đồng hương của, Niganthas đã sẵn có mặt ở đây.
Sri Lanka là một
hải đảo kế cận với lục địa
Ấn Độ, ắt dân chúng của hai nước phải có
giao thiệp thường xuyên. Cũng có nhiều thương thuyền từ
Ấn Độ sang Sri Lanka, và ta có thể chắc rằng những người lái buôn
Phật tử này
thỉnh thoảng nói về
Đức Phật và
Phật Pháp với những người mà họ gặp.
Theo
lịch sử thời Devànampiya Tissa ta có thể
suy diễn rằng những
cơ quan Magadha rất thạnh hành tại trung phần
Ấn Độ cũng
chiếm ưu thế tại Sri Lanka. Những
sự kiện này
chứng tỏ hiển nhiên rằng
Đức Phật và
Giáo Pháp của Ngài đã được người dân của
hải đảo biết, trước
thời gian mà bậc thánh vĩ đại Mahà Mahinda và người em gái,
Trưởng Lão Ni Sanghamittà, đặt chân đến xứ này.
Câu chuyện kỳ diệu của hai anh em này đã được ghi chép trong niên sử và trong nhiều bài viết đề cập đến
tiểu sử và những
công trình của Đại Đế Asoka xứ
Ấn Độ.
Sự Ra Đời Của Mahinda Và Sangamittà
Vào năm 326 trước D.L.
Hoàng Đế Alexander the Great của xứ Macedonia xâm chiếm miền Bắc
Ấn Độ và biến Takshasilà (người Hy Lạp gọi là Taxila) thành một thị trấn to lớn và
phồn thịnh, thủ đô của vương quốc.
Tuy nhiên vương quốc này
không tồn tại lâu dài vì Alexander băng hà vào năm 32 tuổi tại Babylon, vào năm 323 trước D.L. Sau cái chết của Alexander, Candragupta, mà người Hy Lạp gọi là Sandrocatus, nổi dậy tấn công quân trú phòng các thành trì mà Alexander để lại, chiến thắng Vua Nanda, và
vào khoảng năm 323 trước D.L.
trở thành quốc vương xứ Magadha lấy Pàtaliputa (Patna) làm thủ đô, và
sáng lập Đế Quốc Mauryan. Như Vincent A. Smith
ghi nhận trong quyển Oxford History of India, ông là nhân vật đầu tiên
chính xác được ghi
trong lịch sử, có thể được
mô tả là
Quốc Vương xứ
Ấn Độ.
Bindusàra, con của Candragupta, nối ngôi cha và trị vì vương quốc đến năm 273 trước D.L. Asokavardhana, mà thường được gọi là Asoka (A Dục), một trong những người con của Bindusàra,
kế vị cha. Vào thời vua cha còn tại vị thì Asoka là Phó Vương của Taxila và Ujjain. Được biết rằng
một lần nọ, trên đường đi đến Ujjain, Asoka lưu lại một
thời gian tại Vedisa, ngày nay là Besnagar, hay Vessanagara như được đề cập đến trong Visuddhimagga (
Thanh Tịnh Đạo), và nơi đây đem lòng thương Devi, con gái của
trưởng giả Deva, và sau khi được
cha mẹ ưng thuận, cưới nàng và đưa về Ujjain. Nơi đây bà hạ sanh hai con. Chính hai người con này về sau
trở thành hai thành viên của
Giáo Hội, hai vị
A La Hán nổi tiếng Mahinda và Sanghamittà. Cả hai vị đều
gia công thiết lập cơ
bản Phật Giáo (Buddha-Sàsana) trên lãnh thổ Sri Lanka.
Khi Vua Bindusàra băng hà, Asoka được triệu về Patna nối ngôi cha,
trở thành vì vua thứ ba của Đế Quốc Mauryan. Devi,
mặc dầu vẫn
cư ngụ tại
quê nhà Vedisa, gởi hai con về thủ đô sống với cha.
Asoka là một
hoàng đế hăng say chiến tranh như ông nội, không
mãn nguyện với vương quốc mà người cha, Candragupta Maurya, để lại, và luôn luôn nghĩ đến việc mở mang bờ cõi. Vào năm thứ tám sau khi
lên ngôi, ông gởi quân xâm lăng và chiến thắng Kàlinga. Đây là một trận chiến tàn khốc trong đó 100,000 người bị tàn sát, 150,000
bị bắt làm tù binh và số người chết vì liên lụy đông gấp nhiều lần như vậy. Khi
nghe được tình trạng tổn hại nặng nề mà đạo binh của mình đã gây nên tại Kàlinga, Asoka lo ngại
sâu xa.
Ăn năn hối hận, ông bày tỏ những
cảm xúc ấy trong sắc lịnh dài nhất của ông, được ghi tạc trong đá (Rock Edict No XIII).
Ta có thể nói rằng trận chiến Kàlinga chẳng những là ngã rẽ quan trọng
trong đời binh nghiệp của Asoka, mà cũng
trở thành một trong những diễn biến
quyết định đối với
lịch sử thế giới. Ông
nhận thức tánh cách
điên cuồng của sự giết chóc và
từ bỏ gươm đao. Ông là vị đế
vương duy nhất được
ghi nhận là sau khi chiến thắng
vẻ vang,
từ bỏ những cuộc xâm lăng bằng chiến tranh (dig-vijaya), và đề khởi những cuộc xâm lăng bằng
thiện pháp (dharma-vijaya). Ông thọc gươm vào vỏ, không bao giờ rút ra
trở lại, và không còn bao giờ muốn làm
tổn thương chúng sanh nào.
Theo niên sử của Sri Lanka, chính một vị
A La Hán trẻ tuổi, Sàmanera Nigrodha (Sadi Nigrodha), con của Hoàng Tử Sumana, một người anh của Asoka, đã
cảm hóa và hướng dẫn Asoka vào
đạo Phật bằng một bài giảng rất ngắn nhưng
vô cùng sáng tỏ, với
chủ đề là
tình trạng giác tỉnh chú niệm (appamàda). Kể từ lúc có những diễn biến ấy về sau người mà trước kia được gọi là Asoka hung ác bạo tàn (Chandàsoka), giờ đây có tiếng là Asoka,
con người hiền lương đạo đức (Dhammàsoka). Ông
trở thành người
ủng hộ chư Tăng rất
quảng đại rộng rãi, và là vị
đại thí chủ trong các
Phật sự (Buddha-Sàsana). Cuộc hoằng dương
Giáo Huấn từ bi của
Đức Phật cùng khắp
thế giới Tây phương phần lớn là do
công trình và
sự cố gắng không biết mệt của ông, và
Phật Giáo trở thành ảnh hưởng sâu rộng nhất, làm khuôn mẫu cho nền
văn hóa Á Châu.
Những nguyên tắc và
lý tưởng Phật Giáo nhượm màu lối suy tư và những xúc cảm của Asoka đến độ ông
trở thành con người hoàn toàn khác biệt, và đã đem lại nhiều đổi mới trong
hệ thống hành chánh để trị nước an dân. Ông
cố gắng giảng dạy và
phổ cập giáo huấn của
Đức Phật trong dân gian, nhất là trên bình diện
luân lý. Ông cho ghi chạm trên đá những lời dạy
đạo lý vàng ngọc của
Đức Bổn Sư,
biến thành những bài giảng trên đá, không phải bóng gió
tượng trưng, mà thật sự điển hình. Asoka
thấm nhuần tinh thần khoan dung đại độ mà
Đức Phật giáo truyền, và trong
triều đại của ông tất cả mọi
tôn giáo trong nước đều được hưởng
tự do tuyệt đối.
Nhiệt tâm của ông đối với
Phật Giáo mạnh mẽ đến độ ông
cho phép hai người con
thân yêu xuất gia. Vào
lúc ấy người con trai được hai mươi tuổi,
xuất gia và
thọ giới tỳ khưu (Upasampadà,
cụ túc giới)
cùng ngày. Cô gái mười tám tuổi.
Nhiệt Tâm
Hoằng Pháp Của Asoka
Nhận thức lợi ích lớn lao mà
nhân loại có thể hưởng trong một
giáo lý từ bi và
trí tuệ như của
Đức Phật, Asoka tận lực
gia công hoằng dương những lời dạy của
Đức Bổn Sư ra ngoài xứ
Ấn Độ.
Cuộc
Kết Tập Tam Tạng (Dhammasangàyana) lần thứ ba đã
chấm dứt. Cuộc họp lần đầu tiên được
triệu tập ba tháng sau khi
Đức Phật nhập diệt, dưới
triều đại Ajàtasatu (
A Xà Thế), và lần thứ nhì một trăm năm về sau, vào thời của Kàlàsoka. Theo lời
cố vấn và dưới sự hướng dẫn của vị
A La Hán Moggaliputta Tissa, Asoka gởi các nhà
truyền giáo ra xứ ngoài. Sách ghi rằng mỗi
phái đoàn gồm năm vị Thera (
Đại Đức) để có thể
cử hành những
Phật sự như lễ
thọ Cụ Túc Giới, Upasampadà, ở các nơi xa xôi. Những
khám phá của ngành khảo cổ tại Sanchi và Gwalior v.v...
rõ ràng chứng minh rằng các
phái đoàn truyền giáo là
sự kiện thật sự có.
Vào những ngày xa xôi ấy có nhiều
đệ tử của
Đức Phật đã hành theo lời kêu gọi của
Đức Bổn Sư: "Giờ đây hãy ra đi đó đây vì sự
an lành và
hạnh phúc của
chư thiên và
nhân loại ... Hãy
công bố Giáo Pháp ... Hãy
công bố đời sống trong sạch." Những nhà
truyền giáo ấy sẵn sàng nhận lãnh bất luận
nhiệm vụ truyền giáo nào ở xứ ngoài,
mặc dầu vào thủa ấy
tình trạng truyền thông và mọi
vấn đề đi lại rất khó khăn và cuộc
hành trình đầy nguy hiểm. Do nhờ
tâm đạo nhiệt thành và lòng
kiên trì cố gắng,
ý chí sắt đá và
dũng khí bất khuất của những vị
truyền giáo (Dharmadùtas)
thời xưa ấy,
Phật Giáo được hoằng khai vào nhiều
quốc gia. Sách về Asoka có đề cập đến các
phái đoàn truyền giáo được gởi đến những vương quốc Á Đông theo
văn hóa Hy Lạp, Phi Châu và Âu Châu -- đến Bactria và
Trung Bộ Á Châu.
Theo niên sử, Vua Asoka và Vua Devànampiya Tissa của Sri Lanka,
mặc dầu không bao giờ
gặp nhau, là hai người bạn rất thân từ trước khi Mahà Mahinda đến xứ này. Sách chép rằng Vua xứ Sri Lanka gởi
sứ giả với nhiều tặng phẩm quý giá đến bạn mình, Vua Dhammasoka, và vị này gởi
trở lại một
phái đoàn ngoại giao gồm những vị đại
thần quan trọng
mang theo bức
thông điệp như sau:
"Tôi đã
quy y với
Đức Phật, với
Pháp Bảo,
Giáo Pháp của Ngài, và với
Tăng Bảo,
chư tăng trong
Giáo Hội. Chính tôi đã
tuyên bố rằng mình là một
thiện tín cư sĩ trong
tôn giáo của Đức
Thích Ca; giờ đây
Đại Vương, ôi!
con người tốt nhất trong đám người, hãy lấy
niềm tin mà
cải hóa tâm của mình, hãy
quy y với
bảo vật quý giá nhất trong các
bảo vật."
Như vậy đất lành đã được chuẩn bị để
đón rước đoàn
truyền giáo của
Đại Đức Mahà Mahinda tại Sri Lanka.
Khi Đức Thera Mahà Mahinda được
vị bổn sư Moggaliputta Tissa Mahà Thera và
Tăng Già yêu cầu sang Sri Lanka để
thành lập cơ
bản Phật Giáo (Sàsana) tại đó, thì Ngài rời
tự viện Asokàràmà tại Patna, đi Vedisagiri thăm và từ giả bà mẹ
yêu dấu.
Cùng đi với Ngài có chư vị tỳ khưu
A La Hán Ittiya, Uttiya, Sambala và Bhaddasàla, vị sa-di
A La Hán Sumana có nhiều
biệt tài, và vị
thiện tín cư sĩ A Na Hàm Bhanduka, một người cháu của Vedisa Devi.
Khi đoàn
chư tăng đến Vedisagiri, bà mẹ rất
hoan hỷ đón mừng con và
phái đoàn, hướng dẫn vào thăm ngôi chùa Vedisagiri Mahà Vihàra rất
xinh đẹp mà bà đã tạo dựng, và chăm lo dâng cúng đến các Ngài trọn tháng.
Mahinda Đến Sri Lanka
Lúc bấy giờ ở Sri Lanka, Vua Mutasiva đã băng hà và Devànampiya Tissa được cử
lên ngôi,
kế vị cha. Sau khi
trải qua một tháng tại Vedisagiri, vào ngày trăng tròn tháng Jetta, năm 236 Phật Lịch (tức 308 trước D.L., nhằm năm thứ mười tám
triều đại Asoka), vị
A La Hán Mahà Mahinda cùng với
sáu vị kia, dùng
thần thông bay bổng lên không trung và, rời Vedisagiri, các Ngài nhẹ nhàng đáp xuống tại đỉnh đồi Missaka, ngọn đồi cao nhất trong vùng Mihintale hiện nay, nằm phía Đông Anuradhapura cách tám dặm Anh, một ngọn núi sừng sựng nổi lên giữa cánh đồng
mênh mông bằng phẳng, từ trên đó nhìn xuống thị trấn Anuradhapura.
Hôm ấy nhằm một ngày quốc lễ. Vua đang săn bắn
vui chơi,
thình lình gặp Ngài
A La Hán Mahinda.
Vua nhìn thấy người lạ thì
giựt mình -- lần đầu tiên thấy một
nhà sư đắp y vàng nghệ -- nhưng vị
A La Hán sớm trấn an vua với những lời như sau:
"Samanà mayam mahàràjaDhammaràjassa sàvakàTaveva anukampàyaJambudìpà idhàgatà."
"Tâu Đại Vương, chúng tôi là những nhà sưĐệ tử của vì vua Chân Lý.Vì lòng từ bi đối với Đại Vương Từ xứ Jambudìpa chúng tôi đến đây."Câu chuyện về cuộc
truyền giáo vĩ
đại từ Ấn Độ đến, về cuộc gặp gỡ giữa những
nhà sư với Vua Tissa của
hải đảo, và việc bao trùm
trọn vẹn tất cả bốn mươi ngàn
tín đồ vào một
niềm tin mới mẻ như thế nào, đã được
mô tả rành mạch trong các niên sử
thời xưa. Kinh Cùla Hatthi-padopama Sutta (Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, 27) là bài Pháp mà Ngài Mahà Mahinda
thuyết giảng cho vua. Một
cách sống động, bài này
mô tả Tam Bảo (tri-ratana,
Phật Bảo,
Pháp Bảo và
Tăng Bảo), cuộc sống ở
tự viện của một
nhà sư lý tưởng, và
nhấn mạnh đến
giá trị của lối phân biện
quan sát sự vật và
sáng suốt tìm hiểu.
Tin tức về
phái đoàn vừa đến và nhà vua cùng đông đảo quần thần đã
quy y Tam Bảo được loan truyền nhanh chóng, và dân chúng kéo đến đứng chật ních trước cổng cung điện. Nhà vua có
tâm đạo nhiệt thành, sắp xếp cho
mọi người thiện tín đều có thể nghe
giáo huấn. Bài
thuyết giảng Giáo Pháp của Đức Mahà Mahinda cảm kích mạnh mẽ tất cả
thính giả và
mọi người đều có thể
lãnh hội những lời dạy của
Đức Phật. Không bao lâu, bức
thông điệp của
Đức Bổn Sư nhanh chóng hoằng khai cùng khắp, theo chiều ngang và chiều dọc
hải đảo.
Vào ngày trăng tròn tháng 6 (Poson), 236 năm sau khi Vijaya đặt chân lên đảo,
Phật Giáo chánh thức được
công nhận. Về sau Đức Mahà Mahinda và các vị
Trưởng Lão A La Hán sáng lập Giáo Hội Tăng Già, và cơ
bản Phật Giáo (Sàsana) được
thiết lập trong xứ, lúc bấy giờ là
trung tâm điểm của
niềm tin trên
thế giới.
Xá Lợi Đức Phật, cung thỉnh của
Hoàng Đế Asoka, được tôn trí tại
bảo tháp Thùpàràma Dàgaba, lần đầu tiên loại này, được
xây dựng trong thành phố
thiêng liêng Anuradhapura, nơi mà hằng ngàn khách
hành hương và
thiện tín nhiệt thành
cử hành cuộc lễ Poson để tưởng niệm Đức Mahà Mahinda, Ánh Sáng của Lanka (dipapasàdaka). Nhiều tháp, nhiều đền thờ và chùa được tạo dựng trong thành phố Anuradhapura và nhiều
thánh địa khác.
Sự kiện nhà vua dâng cúng công viên Mahà Meghavana Park đến
Tăng Già là một diễn biến quan trọng, bởi vì chính tại nơi đây mà ngôi chùa chánh Mahà Vihàra và
trung tâm văn hóa Phật Giáo được
thành lập.
Với
thời gian, cơ sở học tập này
trở thành nổi tiếng và
đào tạo nhiều
học giả uyên thâm lỗi lạc từ những lãnh thổ khác nhau. Được biết nhiều nhất là Ngài Buddhaghosa, đến từ
Ấn Độ, nhà
chú giải đã viết ra những bộ
chú giải quý giá về
giáo lý Phật Giáo, trong khi lưu ngụ tại ngôi chùa Mahà Vihàra.
Cũng từ
trung tâm học tập
Phật Giáo này, nhiều nhà
truyền giáo, Dhammadùta, nam và nữ, được gởi đến nhiều nơi ở Á Châu để hoằng dương
Giáo Pháp. Chí đến ngày nay dân chúng ở Miến Điện, Thái Lan, Kampuchia và Lào, những nơi mà
Phật Giáo Nguyên Thủy đang phồn thạnh, và đến tận Trung Hoa,
Triều Tiên và
Đài Loan,
mọi nơi đều có
tiếp nhận những
công trình phục vụ của các nhà
truyền giáo Lanka (
Tích Lan).
Khi Đức Mahà Mahinda đã châm sâu gốc rễ của
niềm tin trong xứ này và
thiết lập nền tảng cơ bản cho
Giáo Hội chư Tỳ Khưu thì phía
nữ giới cũng thấy
cần phải có một
Giáo Hội chư Tỳ Khưu Ni, Bhikkhuni Sàsana.
Câu chuyện về lòng ước muốn mạnh mẽ này được tường thuật trong các niên sử và Bản
Chú Giải Tạng Luật, Samantapàsàdika.
Mahà Mahinda là vị
Pháp sư có tài trình bày
Giáo Pháp một cách
sáng tỏ và
rõ ràng. Ngài đã
thuyết giảng nhiều thời Pháp rất gợi cảm. Ngài dạy,
soi sáng, và tạo niềm vui cho vua và cho người dân thường. Đông đảo dân chúng xin
quy y Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Những người trong
hoàng tộc cũng lấy làm
thích thú lắng nghe những lời giảng
sáng tỏ của Ngài mà
đến nay họ chưa từng biết, bởi vì họ
chưa bao giờ được nghe
giáo huấn của
Đức Phật.
Hoàng Hậu Anulà, thứ phi của một vị phó vương tên Mahànàga, cùng với 500 thị nữ đến
nghe Pháp,
thành đạt tiến bộ tinh thần và xin Ngài
A La Hán Mahinda cho
xuất gia.
Tuy nhiên vào lúc bấy giờ ở Lanka chưa có
Giáo Hội Tỳ Khưu Ni và theo
giới luật (vinaya), Ngài Mahinda không có quyền chủ trì
lễ xuất gia cho người nữ. Chỉ có một vị Phật hay những hội viên của
Giáo Hội Tỳ Khưu Ni mới có quyền. Do đó Đức Mahinda gợi ý Vua Tissa cung thỉnh Sanghamittà, em Ngài,
lúc ấy là một tỳ khưu ni tại Ấn, để làm
lễ xuất gia cho hàng
phụ nữ, và do đó
Giáo Hội Tỳ Khưu Ni được
thành lập trên đảo.
Sanghamittà đến Sri Lanka
Vua Devànampiya Tissa lấy làm
hoan hỷ, sắp xếp
mọi việc và gởi đến
Hoàng Đế Asoka một
phái đoàn do vị đại thần Arittha hướng dẫn, để bày tỏ lòng
mong mỏi của Đức Mahà Mahinda và của chính mình. Sách ghi rằng khi
phái đoàn Arittha trình bức
thông điệp lên thì
Hoàng Đế Asoka
vô cùng sầu muộn, vì người con trai đã ra đi, xa Ngài và xa quê hương xứ sở, giờ đây lại đến lượt sắp mất con gái. Asoka không phải là
A La Hán, đấng Trọn Lành, nên chưa tận diệt
luyến ái, và theo
bản chất thường tình của
con người ông cố khuyên can con gái đừng rời xa.
Tuy nhiên Sangha-mittà tìm
lời an ủi cha,
giải thích rằng đây là
thỉnh cầu của người anh cao quý và cũng là cơ hội tốt hiếm có để
thành lập Giáo Hội Tỳ Khưu Ni tại Sri Lanka, và như vậy giúp tổ chức cơ
bản Phật Giáo (Sàsana) và
nâng đỡ dân chúng xứ Lanka,
đặc biệt là phái nữ.
Cuối cùng hoàng đế đồng ý, và như lời
yêu cầu của Mahà Mahinda, bà Sanghamittà sẽ
mang theo một cây con chiết từ cội
Bồ Đề Sri Mahà Bodhi đã
che mưa đỡ nắng cho
Bồ Tát Gotama trong khi Ngài chiến đấu để trở nên
toàn giác. Một cây nhỏ được chiết từ một nhánh hướng về phía Nam của cội
Bồ Đề, và Asoka
sắp đặt hoàn bị để Đức Sanghamittà
đem theo sang Sri Lanka, cùng với mười một vị Tỳ Khưu Ni
A La Hán. Những
hoàng thân của dòng Kshatriya (chiến sĩ), những vị
bà la môn, các
quan đại thần và những người dòng
quý phái trong triều Vua Asoka cũng tháp tùng theo, cung nghinh
cây Bồ Đề. Như sử sách ghi chép,
buổi lễ đã được
cử hành rất
trọng thể để đưa Đức Sanghamittà ra đi từ hải cảng có tên là Tàmralipti (Tamluk). Sách ghi rằng
Hoàng Đế Asoka đưa con ra đến tận bến tàu và,
vô cùng xúc động, đứng nhìn đoàn thuyền xa dần
cho đến khi khuất dạng.
Sau bảy ngày vượt biển, thuyền đến hải cảng Jambukola, miền Bắc xứ Lanka. Lòng đầy
tâm đạo nhiệt thành, Vua Devànampiya Tissa nhận lãnh
cây Bồ Đề con trong một
buổi lễ vô cùng trọng thể và đặt cái cây trong một gian rạp dựng sẵn trên bãi biển. Nhiều
buổi lễ được
cử hành rất
long trọng trọn mười ngày. Vào ngày thứ mười cây được
trang nghiêm đặt trên một chiếc xe rồi
linh đình cung nghinh đến thủ đô Anuradhapura. Nơi đây cây được hạ thổ trong một
buổi lễ vô cùng long trọng trong khu vườn Megha Garden, và chí
đến nay vẫn còn sum sê tươi tốt,
tiếp nhận lòng kỉnh mộ
sùng bái của hằng triệu khách nhiệt thành đến
hành hương. Đây cũng là cội
cổ thụ được
ghi nhận, lớn tuổi nhất trên
thế giới. Từ cội này nhiều cây con đã được chiết và trồng lại ở nhiều nơi trên đảo. Ta cũng
thích thú ghi nhận rằng có những cây đã được trồng trong các
quốc gia xa xôi khác.
Về điểm này, cũng nên nhớ rằng dầu cội cây có được
sùng bái với lòng nhiệt thành như thế nào, trong khi người
thiện tín đứng dưới tàng bóng rộng lớn của cội
Bồ Đề,
lễ lạy, tỏ
lòng thành kính
tri ân, không phải một cái cây
vô tri vô giác, mà những gì cội cây
tiêu biểu, tức
Đức Phật tối thượng, đã
liễu ngộ dưới cội
Bồ Đề. Cội cây
tượng trưng sự
giác ngộ một cách rất
sống động.
Tiếng Pali gọi cây này là assatha, một loại cây da
thiêng liêng ở
Ấn Độ, tên khoa học là ficus religiosa. Bởi vì
Đức Phật chứng ngộ toàn giác dưới cội cây
đặc biệt này nên nó được biết nhiều dưới cái tên Bodhi (tiếng Sinhala là Bo), có nghĩa
giác ngộ. Như vậy theo nghĩa trắng, cây Bodhi là "Cây Giác Ngộ", hay "Cây Trí Tuệ".
Chúng ta phiên âm là
cây Bồ Đề.
Chính
Đức Phật nhắc đến cội cây tại Gayà này như sau: "Giờ đây, này chư tỳ khưu,
Như Lai là
A La Hán (Araham, đấng Trọn Lành), bậc
Toàn Giác Tối Thượng (Sammà-Sambuddho,
Chánh Đẳng Chánh Giác).
Như Lai chứng ngộ dưới cội cây assattha (assatthassa mùle abhisam- buddho)." (Mahàpadana Sutta, Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm).
Lịch sử truyền giáo của Đức
A La Hán Mahinda đã được
xác nhận trong một bức họa trên trần ở Ajanta.
Câu chuyện Trưởng Lão Ni A La Hán Sanghamittà cung nghinh
cây Bồ Đề sang Sri Lanka, được
mô tả trong một bức hoạ chạm nổi trên đá ở Sanchi,
Ấn Độ.
Cội
Bồ Đề Sri Mahà Bodhi
Diễn biến
Phật Giáo đến Sri Lanka, và việc trồng xuống, tại Anuradhapura,
cây Bồ Đề con chiết từ một nhánh hướng về phía Nam của cội
Bồ Đề chính, là những giai đoạn
vô cùng thiêng liêng trong lịch sử người Sinhala (
Tích Lan), và các bản tường thuật đọc rất
cảm động.
Những nhà viết sách và các sử gia (mà phần lớn là người ngoại quốc) không bao giờ quên đề cập đến hai diễn biến này, và những bài tường thuật của họ rất
sống động và
thích thú, tưởng cũng nên
trích đăng nơi đây: Dr. Paul E. Peiris (người Sri Lanka) viết: "Thật không chắc có diễn biến
đơn độc nào
trong lịch sử dài dẳng của dân tộc Sinhala mà đã
ảnh hưởng mạnh mẻ đến trí tưởng tượng của họ bền dai như việc trồng xuống cái cây mà ngày nay là một cội
cổ thụ.
"Cũng như rễ cây
mềm dẻo của nó cố tìm nguồn sống trên mặt đá khô khan và
len lỏi ăn sâu vào lòng đất cứng còng,
ảnh hưởng của những gì mà cội cây
tiêu biểu thấm sâu vào
nội tâm của dân chúng đến độ hầu như cội cây đã
trở thành một nhân vật, một
con người, và chí
đến nay, vào đêm khuya lặng gió nhất, những chiếc lá hình trái tim trên những cành cây mỏng manh không ngừng
xao xuyến và
thở dài, cũng như đã chuyển động và rền rỉ
thở dài từ hai mươi ba thế kỷ nay."
H.G. Wells
ghi nhận: "Tại Ceylon (
Tích Lan) có một cội cây
lịch sử cổ xưa nhất trên
thế giới, mà
chúng ta biết
chắc chắn là được chiết từ cội
Bồ Đề (tại Gayà) và trồng vào năm 245 trước D.L. Cây vẫn còn sống, vẫn luôn luôn được chăm sóc và tưới nước từ thủa ấy
đến nay. Những cành lớn của nó, người ta dùng cột trụ để chống ... Nó giúp
nhận định rằng
đời sống của
lịch sử nhân loại quả thật ngắn ngủi, khi ta nhìn bao nhiêu
thế hệ con người đã
trải qua trong
thời gian mà chỉ một cội cây,
bền gan chịu đựng sương gió của tháng ngày. (The Outline of History, Cassel, 1934, trang 392).
Fa Hien (
Pháp Hiển),
nhà sư Trung Hoa, có sang viếng thăm xứ Lanka vào thế kỷ thứ năm và lưu ngụ tại chùa Mahà Vihàra, Anuradhapura, có thấy
cây Bồ Đề sum sê tươi tốt và có đề cập đến trong những bài tường thuật về cuộc
hành trình của Ngài.
Đề cập đến cuộc
truyền giáo của Asoka, Dr. Rhys Davids viết:
"Diễn biến nòng cốt là sự trồng lại tại Ceylon (
Tích Lan) một nhánh
cây Bồ Đề chiết từ Bodh Gayà mà
dưới gốc cây ấy
Đức Phật thành tựu trạng thái toàn giác."
"Diễn biến này được
mô tả trong hai bức họa lạ lùng được chạm trổ trên đá ở Cổng Phía Đông của đền Sanchi, vốn cũng xưa cũ như
câu chuyện. Vào phần giữa của bức họa, phía dưới là
cây Bồ Đề, vì
câu chuyện xảy diễn tại Gayà, với đền thờ mà Asoka cho
xây dựng ở khoảng giữa đường lên tới cây. Hai bên là những nhạc sĩ đang diễn hành. Bên mặt, một người có vẻ là vương giả, có thể là Asoka, đang nhờ một cận vệ lùn đỡ xuống ngựa. Phần trên bức họa là một
cây Bồ Đề nhỏ trong chậu, và
một lần nữa, cuộc diễn hành vĩ đại. Bên trái là một thành phố, có thể là Anura- dhapura, cũng có thể là Tamralipti, nơi mà người ta đưa
cây Bồ Đề con đến, trước khi vượt biển sang Ceylon. Được dùng làm phần trang trí ở cả hai bên phía dưới bức họa là chim công,
tượng trưng cho
gia đình Asoka, dòng Moriyas (công), và
sư tử,
tượng trưng cho dòng vua (Sinhala,
hải đảo sư tử) ...
"Đây là một diễn biến quan trọng, một quốc lễ và một điểm cùng tột,
xứng với cố gắng truyền giáo của
triều đại Asoka, vốn tạo nhiều
thành quả." (Buddhist India, 1950, Indian Edition, trang 198).
Ta cũng
thích thú ghi nhận những gì Emerson Tennent nói về
phương diện lịch sử của cội cây:
"Người ta tin rằng những cây thủy tùng (yew) tại Fountain Abbey đã sống sum sê ở đó từ một ngàn hai trăm năm nay; những cây ô liu (olive) trong vườn Gethsamane đã lớn lên tươi tốt từ khi người Saracen bị trục xuất ra khỏi Jerusalem, và những cây trắc bá (cypress) của Soma, tại Lombardy đã có từ thời Julius Caesar;
vậy mà cội
Bồ Đề còn già hơn các cây ấy cả
một thế kỷ, và hình như đúng
lời tiên tri khi cây được hạ thổ, cây sẽ
mãi mãi sum sê và tươi tốt."
Hơn nữa, Tennent nói:
"Mặc dầu người ta nói cây "baobab" ở Senegal, cây "eucalyptus" ở Tasmania, cây "dragon tree" ở Oratava, cây "Wellingtonia" ở California, và cây "chesnut" ở Mount Etna, có thể sống từ một đến năm ngàn năm, tất cả những
ước lượng ấy là
vấn đề phỏng đoán, và những trù liệu như vậy dầu có kỹ xảo đến đâu,
hoàn toàn chỉ là
suy luận.
Trong lúc ấy thì tuổi thọ của cội
Bồ Đề là
vấn đề lý lịch, bao nhiêu
triều đại nối tiếp nhau
cẩn trọng chăm lo
săn sóc để
bảo tồn, và
lịch sử của bao nhiêu
thăng trầm mà cội cây
trải qua đã được
liên tục ghi chép trong các niên sử chánh thức và chắc thật nhất mà
nhân loại lưu truyền" (Ceylon).
Bà Sanghamittà lưu ngụ tại chùa Upasikà-Vihàra, một nữ
tự viện trong thành phố. Sau khi
cây Bồ Đề con đã được trồng xuống và các cuộc lễ
liên quan đến việc hạ thổ cái cây đã được
cử hành, thì Anulà và đoàn
tùy tùng của bà
xuất gia, và
Giáo Hội Tỳ Khưu Ni được
thành lập dưới sự hướng dẫn của
Trưởng Lão Ni A La Hán Sanghamittà. Như thế ấy
Giáo Hội Tỳ Khưu Ni bắt đầu và
phồn thịnh tại xứ này trong nhiều thế kỷ.
Lịch sử ghi rằng các vị tỳ khưu ni Sinhala (
Tích Lan) đi bằng đường biển sang tận Trung
Hoa thành lập Giáo Hội Tỳ Khưu Ni tại đây vào thời Yuan Chia (429 D.L.).
Đức Bà Sanghamittà chẳng những chủ trì
lễ xuất gia cho
Công Chúa Anulà, các vị
hoàng thân quốc thích và các bậc cao cấp trong
xã hội, mà cho tất cả, bất luận ở tầng lớp nào. Người
phụ nữ từ mọi giới đều có thể
gia nhập vào
Giáo Hội.
Bước
theo dấu chân của
Đức Phật, kính nhường, đối xử
thanh nhã với
nữ giới, và
soi sáng cho họ
con đường đến
thanh bình an lạc,
trong sạch và
thánh thiện, Đức Bà Sanghamittà tận lực
nâng cao nữ giới từ thấp lên những tầng lớp cao của
đời sống.
Đối với
giáo lý nhà Phật không có sự
phân biệt giữa nam và nữ. Tất cả đều cùng theo một
giáo lý và
giới luật mà
Đức Phật ban hành. Tất cả, không
phân biệt nam nữ,
giai cấp hay màu da, đều có thể
thành đạt mức độ cao thượng nhất,
miễn là theo đúng
con đường mà
Đức Bổn Sư chỉ vạch, tức
Bát Chánh Đạo, vốn là
pháp hành trong
Phật Giáo.
Cái Chết Của Mahinda và Sanghamittà
Do bẩm tánh
thánh thiện và phẩm hạnh cao cả, do đức
từ bi và
ý chí tận tâm phục vụ đạo pháp,
Trưởng Lão Ni Sanghamittà được dân chúng trong xứ rất
yêu thương mến chuộng. Cũng như anh, Mahà Mahinda, bà là một nhân vật sáng chói và
lỗi lạc.
Trong lịch sử, không bao giờ có
trường hợp hai anh em nhiệt thành với
nhiệm vụ hoằng dương
đạo pháp ở xứ ngoài và tạo được
thành quả thâm sâu, rộng lớn và
lâu dài như Mahà Mahinda và Sanghamittà.
Cả hai anh em, Mahà Mahinda và Sanghamittà, đều sống lâu hơn Devànampiya Tissa, vua trị vì xứ Lanka trong bốn mươi năm.
Đại Đức Mahà Mahinda, vị Dipappasàdaka, người làm cho hòn đảo
chói sáng -- Ánh Sáng của Lanka -- đã hiến
trọn đời sống mình để tạo
an lành và
phúc lợi cho dân chúng của
hải đảo tốt đẹp này,
viên tịch lúc tám mươi tuổi, trong khi
nhập Hạ (vassàna) tại Núi Tháp (Cetiya Mountain) vào năm thứ tám
triều đại Vua Uttiya, em và là người
kế vị Vua Devànampiya Tissa. Vua Uttiya
cử hành vô cùng trọng thể cuộc lễ
hỏa táng. Một số
bảo tháp đã được tạo dựng để tôn thờ
xá lợi của Ngài sau khi nhục thể được
hỏa táng. Một trong các tháp ấy được
xây dựng tại Mihintale, nơi mà Ngài Mahinda lưu trú nhiều nhất.
Đức Bà Theri Sanghamittà
viên tịch một năm sau, hưởng thọ bảy mươi chín tuổi, trong khi lưu ngụ tại
ni viện Hatthàlhaka rất
an lạc. Lễ
hỏa táng của bà cũng được Vua Uttiya
long trọng cử hành tại một địa điểm kế cận cội
Bồ Đề. Tại nơi đây, một ngôi đền được
xây dựng để tôn thờ bà. Các vị
A La Hán vĩ đại ấy đã không còn. Nhưng cả hai vẫn còn
ngỏ lời với
chúng ta,
xuyên qua những
công trình của các Ngài.
Danh thơm tiếng tốt của các Ngài vẫn
mãi mãi tươi sáng trong
trí nhớ của
chúng ta. Dân chúng xứ Lanka vẫn
mãi mãi tri ân, và chí
đến nay hằng ngàn khách
hành hương cố gắng trèo 1840 nấc thang đá để đến địa điểm
thiêng liêng, Mihintale, nơi mà hai anh em vĩ đại sống,
truyền bá Giáo Pháp, và nêu gương
đạo đức trong sạch cho dân tộc xứ này.