Thư Viện Hoa Sen

Pháp Tánh: Một Là Tất Cả, Tất Cả Là Một.

PHÁP TÁNH: MỘT LÀ TẤT CẢ, TẤT CẢ LÀ MỘT.
Nguyễn Thế Đăng


chua bao quangPhẩm Bồ tát vấn minh
thứ 10, Kinh Hoa Nghiêm có nghĩa ‘hỏi để làm rõ nghĩa’. Câu hỏi thứ nhất của ngài Văn Thù với Bồ tát Giác Thủ là: “Tâm tánh (bản tánh của tâm) vốn là một, tại sao lại thấy có các thứ sai khác nhau?”

Tất cả mười câu hỏi và mười bài kệ trả lời để làm rõ nghĩa pháp tánh, bản tánh của mọi hiện hữu, của chúng sanh cho đến của các bậc giác ngộ.

1/ Quán nội thân vô tự tánh

Đây là câu hỏi thứ hai của ngài Văn Thù cho Bồ tát Tài Thủ, và bài kệ trả lời.

Lúc đó, Bồ tát Văn Thù hỏi Bồ tát Tài Thủ: Phật tử! Bởi vì tất cả chúng sanh chẳng phải chúng sanh, đức Phật tùy thời, tùy tuổi thọ, tùy thân thể, tùy hành động, tùy hiểu biết, tùy ngôn luận, tùy tâm ưa thích, tùy phương tiện, tùy tư duy, tùy quán sát của chúng sanh như thế nào, mà hiện thân giáo hóa điều phục các chúng sanh ấy?”

Cái nhìn trí huệ là “tất cả chúng sanh chẳng phải chúng sanh”, chúng sanh không có thực thể, vô tự tánh mới có thể biến đổi, bỏ xấu làm tốt, mới có thể “giáo hóa điều phục”. Chính vì chúng sanh không thậttự tánh, đức Phật mới tùy theo những cái tạm thời của chúng sanh để đưa họ đến trí huệ chân thật, đưa họ đến cái thấy chân thật (chánh kiến) về cuộc đời, về chúng sanh, về thế giới.

Bồ tát Tài Thủ nói kệ đáp rằng:

Đây là vui vắng lặng

Cảnh giới bậc Đa Văn

Tôi sẽ nói cho ngài

Xin hãy lắng nghe rõ.

Phân biệt quán nội thân

Trong đây gì là ta

Nếu hiểu được như thế

Thì biết không tự ngã.

Thân này là giả lập

Chỗ trụ không chỗ có

Người xét rõ thân này

Trong đây chẳng bám chấp.

Khéo quán sát cái thân

Tất cả đều thấy rõ

Biết pháp đều hư vọng

Chẳng khởi tâm phân biệt.

Mạng sống nhân gì khởi

Rồi do gì tan mất

Khác nào vòng lửa xoay

Đầu đuôi chẳng biết được.

Người trí hay quán sát

Mọi cái đều vô thường

Các pháp không, vô ngã

Lìa hẳn tất cả tướng.

Các báo tùy nghiệp sanh

Như mộng chẳng chân thật

Niệm niệm thường diệt hoại

Như trước, sau cũng thế.

Thấy các pháp thế gian

Chỉ do tâm làm chủ

Tùy hiểu chấp các tướng

Điên đảo chẳng chân thật.

Ngôn luận của thế gian

Đều do từ phân biệt

Chưa từng có pháp nào

Thật ở trong pháp tánh.

Sức năng duyên sở duyên

Sanh ra các thứ tướng

Chúng diệt chẳng tạm dừng

Niệm niệm đều như vậy.”

Khi quán sát thân này, thì thấy không có gì là ‘tôi’ và ‘của tôi’ cả. Trái tim này nó tự động đập, tôi không ra lệnh cho nó được. Muốn nó đập chậm lại, phải nhờ phổi thở chậm lại. Tim dựa vào phổi, phổi phải nhờ những thứ khác như: không khí, lỗ mũi,thận, bao tử, máu... Khi ngủ, cả tim và phổi tự động làm việc không có ý thức của tôi.

Mỗi bộ phận phải dựa vào nhau, thế nên nói “thân này là giả lập, chỗ trụ không chỗ có”.

Bằng một sự quan sát sâu hơn, cọng với kiến thức khoa học, chúng ta thấy thân này chỉ là một đám mây với vô số nguyên tử, vô số hạt xao động không ngừng... Cái gì là tôi, cái gì là của tôi?

Các tế bào trong thân thay đổi, nhanh thì vài ngày đến vài tuần: dạ dày, ruột, da, bạch cầu... Lâu nhất là mỡ, xương, mười năm thay đổi, sanh ra các tế bào mới. Tóm lại, trong bảy năm lại có một con người mới, với vô số tế bào mới.

Cảm thức về thân, về cái tôi chỉ là một công cụ thuộc chân lý quy ướctương đối (thế đế) có nhiệm vụ biết duy trì cái thân và mạng sống để hiện diện và làm việc trong thế giớixã hội. Nhưng nếu thấy nó là chân lý tối hậutuyệt đối, và xem nó là công cụ duy nhất, lấy nó để tìm hiểu thế giớicon người thì đây là một sai lầm chết người, như lấy một cái vỏ sò để múc nước biển tìm hiểu đại dương.

Chấp ngãchấp pháp làm che mờ thực tại vô ngã - vô pháp.

Ngày trước, vua Trần Thánh Tông (1240 - 1290), cha của vua Trần Nhân Tông, đã nói:

Sanh như mặc áo

Chết như cởi áo

Từ xưa đến nay

Không đường nào khác

Tám chữ mở toang giao tất cả

Chẳng còn gì nữa để trình ông.

Về thân thể, đây là một pháp, mà bài kệ có câu “chưa từng có pháp nào, thật ở trong pháp tánh”, nghĩa là trong thực tại pháp tánh, chưa từng có thân hay một pháp nào cả.

2/ Quán nghiệp vô tự tánh

Bấy giờ, Bồ tát Văn Thù hỏi Bồ tát Bửu Thủ:

Phật tử! Tất cả chúng sanh đồng có bốn đại không có tôi, không có cái của tôi, tại sao lại có những sự khác biệt, như khổ vui, tốt xấu, ưa trong chuộng ngoài, hưởng ít hưởng nhiều, hoặc thọ quả báo đời này hoặc thọ quả báo đời sau. Thế nhưng trong pháp giới vẫn không có tốt có xấu.

Bồ tát Bửu Thủ nói kệ đáp rằng:

Y theo nghiệp đã tạo

Sanh quả báo như vậy

Đều không có tác giả

Đây là lời chư Phật.

Như mặt gương sáng sạch

Tùy theo cái trước mặt

Hiện bóng sai khác nhau

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Cũng như ruộng gieo giống

Chúng đều chẳng biết nhau

Tự nhiên mọc lên cây

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Lại như nhà huyễn thuật

Ở tại ngã tư đường

Hiện ra những sắc tướng

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Như người gỗ bằng máy

Vang ra các thứ tiếng

Nó không ta, của ta

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Cũng như các giống chim

Đều từ trứng sanh ra

Tiếng hót đều khác nhau

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Ví như trong bào thai

Các căn đều thành tựu

Thể tướng không từ đâu

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Lại như ở địa ngục

Đủ thứ các sự khổ

Kia đều không từ đâu

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Ví như Chuyển luân vương

Có đủ bảy thứ báu

Chúng từ đâu mà đến

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Lại như các thế giới

Lúc kiếp hỏa thiêu đốt

Lửa ấy đến từ đâu

Tánh nghiệp cũng như vậy.

Trong pháp giới vốn không có những khác biệt tốt xấu, hay dở, đúng sai... Sở dĩ có những khác biệt thấy được là do nghiệp, những hành động thân khẩu ý của từng cá nhân. Nghiệp tốt, nghiệp xấu tạo ra những khác biệt trong cuộc sống.

Nghiệp là phản ứng của một hợp thể thân khẩu ý đối với một hoàn cảnh hay với một thân khẩu ý khác. Hoàn cảnh xuất hiện là do nhiều nhân duyên hợp lại, nó là duyên sanh nên vô tự tánh, thay đổi từng giây, từng phút một. Thân khẩu ý là một tập hợp nhiều nhân duyên, do duyên sanh nên vô tự tánh, “đều không có tác giả”. Cả hai, chủ thể và đối tượng đều vô tự tánh, nên sự tương tác giữa hai cái, tức là nghiệp, phải là vô tự tánh.

Quán sát sâu xaliên tục tính cách vô tự tánh tức tánh Không của chủ thể và đối tượng và của nghiệp sanh ra từ đó, người ta đi đến chỗ giải tan sự mê lầm cho là tất cả đều có tự tánh, do đó mà thoát khỏi mê lầm của kiếp người.

Quán vô tự tánh là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để giải trừ, làm tiêu nghiệp khiến thực tại vô ngã - vô pháp trở thành hiện thực, hiển lộ.

Để cho thấy tánh nghiệp là vô tự tánh, kinh cho nhiều thí dụ, như bóng trong gương, hạt giống trong ruộng, nhà huyễn thuật, người gỗ cử động bằng máy, hạt giống cha mẹ sanh ra con người... Tất cả đều là duyên sanh nên vô tự tánh. Duyên sanh vô tự tánh nên không đến từ đâu, không đi về đâu.

Như người gỗ hoạt động bằng máy, “không ta và của ta”, thì hoạt động ấy có sinh ra nghiệp không?

Quán “thân này là giả lập, chỗ trụ không chỗ có”, thì nghiệp dần dần nhẹ rồi bong ra khỏi thân. Còn nghiệp mới thì không thể bám dính, vì không có chỗ trụ nơi thân và tâm. Đây là cách giải tỏa nghiệp.

Ở đây chỉ lấy một thí dụ, “như mặt gương sáng sạch, tùy theo cái trước mặt, hiện bóng sai khác nhau, tánh nghiệp cũng như vậy”. Cuộc đời ta đang kinh nghiệm là những cái bóng hiện ra, như huyễn thuật, như ảo mộng. Những sự xuất hiện của những bóng trong gương phải nhờ có tấm gương. Tấm gương sáng sạch là nền tảng cho sự hiện bóng. Như “hoa đốm giữa hư không” phải nhờ có hư không làm nền tảng, môi trường để hiện ra.

Tấm gương sáng sạch là nền tảng cho mọi hiện bóng. Nền tảng ấy gọi là pháp tánh. Tấm gương sáng này là tánh Không - quang minh. Thế nên, ngay nơi sự hiện bóng chúng ta thấy ra tánh Không - quang minh ấy là nền tảng vô tận cho mọi hiện tượng.

3/ Quán pháp tánh chỉ là một

“Bấy giờ Bồ tát Văn Thù hỏi Bồ tát Đức Thủ:

Phật tử! Chỗ giác ngộ của Như Lai chỉ là một pháp, sao lại nói vô lượng các pháp, hiện vô lượng cõi nước, giáo hoá vô lượng chúng, diễn nói vô lượng âm thanh, thị hiện vô lượng thân, biết vô lượng tâm, hiện vô lượng thần thông, có thể chấn động khắp vô lượng thế giới, thị hiện vô lượng sự thù thắng trang nghiêm, hiển thị vô biên các thứ cảnh giới. Nhưng trong pháp tánh các tướng sai biệt này đều bất khả đắc.

Bồ tát Đức Thủ nói kệ đáp rằng:

Nghĩa của Phật tử hỏi

Rất sâu khó hiểu rõ

Bậc trí biết nghĩa ấy

Thường thích công đức Phật.

Như tánh đất chỉ một

Mọi loài ở riêng khác

Đất chẳng nghĩ một khác

Pháp chư Phật như vậy.

Như tánh lửa chỉ một

Hay thiêu tất cả vật

Các lửa chẳng phân biệt

Pháp chư Phật như vậy.

Như đại dương chỉ một

Ngàn vạn sóng khác biệt

Nước biển vẫn là một

Pháp chư Phật như vậy.

Như tánh gió chỉ một

Thổi động tất cả vật

Gió chẳng nghĩ một khác

Pháp chư Phật như vậy.

Cũng như mây sấm lớn

Mưa khắp hết mọi nơi

Nước mưa vẫn không khác

Pháp chư Phật như vậy.

Như tánh đất chỉ một

Hay sanh nhiều mầm cây

Đất vẫn chẳng gì khác

Pháp chư Phật như vậy.

Như mặt trời không mây

Chiếu sáng khắp mười phương

Quang minh không sai khác

Pháp chư Phật như vậy.

Như mặt trăng trên không

Thế gian thảy đều thấy

Mặt trăng chẳng đến đi

Pháp chư Phật như vậy.

Ví như đại Phạm thiên

Ứng hiện khắp vũ trụ

Mà thân chẳng khác biệt

Pháp chư Phật như vậy.”

Giác ngộ của Phật chỉ là một pháp, tại sao có nhiều sự thể hiện của giác ngộ ấy như vậy? Những ứng hiện của giác ngộ ấy có khác nhau không?

Giác ngộgiác ngộ pháp tánh, bản tánh của tất cả các pháp, của tất cả chúng sanhhiền thánh. Pháp tánh chỉ một, tại sao có các pháp tướng khác nhau?

Phẩm Vấn minh (hỏi rõ) này có mười bài kệ, đều để trả lời câu hỏi trên.

Công đức Phật là “hiện vô lượng cõi nước, giáo hoá vô lượng chúng, diễn nói vô lượng âm thanh, thị hiện vô lượng sự thù thắng trang nghiêm...”. Công đức Phật trùm khắp vũ trụ như vậy.

Nhưng, vô số công đức Phật được “hiện”, “hiển thị”, “thị hiện”, “diễn nói” ấy có khác với giác ngộ của Phật không?

Bồ tát Đức Thủ dùng những thí dụ để trả lời: tánh đất chỉ một, dù các loài ở riêng khác nhưng đều cùng là đất. Như đại dương chỉ một, vô số làn sóng khác biệt nhưng vẫn chỉ là nước của đại dương. Như mưa khắp mọi nơi, nhưng nơi nào cũng đều là nước mưa. Như mặt trời chiếu sáng khắp mười phương, nhưng nơi nào ánh sáng quang minh cũng không sai khác...

Những biểu lộ, thị hiện của Phật, công đức Phật là cùng “một vị” với giác ngộ của Phật.

Khi một Bồ tát chứng ngộ pháp tánh thì tất cả tướng của thế giới bắt đầu trở thành pháp tánh. Cho đến giác ngộ của Phật thì tất cả mọi hình tướng của vũ trụ đều trở thành pháp tánh. “Sắc (các tướng) tức là Không (pháp tánh); Không (pháp tánh) tức là sắc (các tướng)” được chứng ngộ hoàn toàn nơi một bậc giác ngộ. Khi kinh nói rằng “trong pháp tánh, các tướng sai biệt này đều bất khả đắc, điều đó có nghĩa là trong thực tại không có các tướng sai biệt. Tất cả các tướng đều là pháp tánh, chỉ “một vị” pháp tánh.

Qua bài kệ này ý tưởng “khác nhau” nhưng chỉ một, được lặp đi lặp lại qua nhiều thí dụ, để đưa đến một kết luận của Kinh Hoa Nghiêm: “Tất cả là Một, Một là tất cả”.