Tam Tạng Kinh (Tipitaka),
kinh điển Phật Giáo bằng tiếng Pali, thường nhắc đến những
yếu tố của sự
giác ngộ mà
Đức Phật nhiều lần
giảng giải, trong nhiều
trường hợp khác nhau. Trong bộ Samyutta Nikàya (
Tạp A Hàm), phẩm Mahà Vaggà có một phần riêng biệt đề tựa là Bojjhanga Samyutta trong đó
Đức Phật giảng giải những
yếu tố của sự
giác ngộ (bojjhanga,
giác chi) bằng nhiều lối khác nhau.
Phần này có ba
bài kinh mà từ thời
Đức Phật, người
Phật tử thường
đọc tụng như một loại kinh để
bảo vệ (paritta hay pirit)
chống lại đau nhức, bịnh hoạn và những
bất hạnh trong đời v.v...
Danh từ
"bojjhanga" gồm hai phần:
bodhi + anga. "Bodhi" hàm ý
chứng ngộ,
hay nói một cách
chính xác,
tuệ minh sát
hiểu biết sâu sắc
liên quan đến Tứ Diệu Đế, tức:
Diệu Đế về sự Khổ;
Diệu Đế về Nguồn Gốc của sự Khổ;
Diệu Đế về sự
Diệt khổ và
Diệu Đế về
Con Đường dẫn đến
Diệt khổ. "Anga" có nghĩa là
yếu tố hay tay chân. Do đó
Bodhi + anga (bojjhanga) là những
yếu tố của sự
giác ngộ, hay những
yếu tố của
tuệ minh sát,
trí tuệ. Ta thường gọi là
thất giác chi, hay bảy
bồ đề phần.
"Bojjhanga! Bojjhanga! là thành ngữ, Bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài từ bi chỉ dạy, thành ngữ này có thể được áp dụng đến mức nào?" Một vị tỳ khưu bạch hỏi
Đức Phật như vậy.
"Bodhàya samvattantìti kho bhikhhu tasmà Bhojjhangà ti vuccati." "Nó dẫn đến giác ngộ, này tỳ khưu, vì lẽ ấy được gọi như thế," là lời
giải đáp vắn tắt của
Đức Bổn Sư. [1]
Ở một đoạn khác
Đức Phật dạy, "Này chư tỳ khưu, cùng trong một ngôi nhà nóc nhọn, tất cả cây kèo đều đâm vào gốc nhọn, đều nghiêng về gốc nhọn, đều châu đầu vào gốc nhọn, và trong
toàn thể sườn nhà cái gốc nhọn được xem là điểm chánh. Cùng thế ấy, này chư tỳ khưu, vị tỳ khưu trau giồi và
chuyên cần phát triển bảy
yếu tố của
trí tuệ cũng thiên về
Niết Bàn, nghiêng về
Niết Bàn, hướng về
Niết Bàn như vậy." [2]
Bảy
yếu tố ấy là:
1. Niệm (sati)
2.
Trạch pháp (dhammavicaya) [3]
3. Tấn (viriya)
4. Phỉ (pìti)
5. An (passaddhi)
6. Định (samàdhi) và
7. Xả (upekkhà).
Một trong những
bài kinh về bojjhanga,
thất giác chi, có thể được nhắc lại ở đây: "Ta có nghe
như vầy. Vào một thủa nọ
Đức Thế Tôn ngự trong thành Ràjagaha (
Vương Xá), tại Veluvana (
Trúc Lâm), chỗ nuôi sóc.
Đại Đức Mahà Kassapa (
Ma Ha Ca Diếp), sống trong động Pipphali,
lúc ấy lâm bịnh. Ngài mắc phải một chứng bịnh
trầm trọng.
Vào buổi chiều
Đức Phật xuất ra khỏi
trạng thái vắng lặng, đến thăm
Đại Đức Mahà Kassapa, ngồi lại, và
ngỏ lời với vị
đại đức: "Này Kassapa, hôm nay con đau thế nào? Con có nghe
đau đớn quá lắm không; con có chịu nổi không? Cơn đau có
thuyên giảm không, hay vẫn còn tăng trưởng? Có dấu hiệu nào cho thấy cơn đau
giảm bớt không hay vẫn tăng thêm?"
"Bạch hóa
Đức Thế Tôn, con rất
đau đớn. Con không thể chịu nổi. Thật là
đau đớn vô cùng. Không có dấu hiệu nào
thuyên giảm mà càng lúc càng tăng."
"Này Kassapa, bảy
yếu tố của sự
giác ngộ ấy mà
Như Lai đã
giảng giải tận tường,
Như Lai đã trau giồi và phát triển đầy đủ,
bảy giác chi này đưa đến
chứng ngộ trọn vẹn,
trí tuệ tuyệt hảo, đến
Niết Bàn.
Bảy giác chi ấy là gì?
"Niệm
giác chi, này Kassapa, pháp này
Như Lai đã
giảng giải tận tường, đã trau giồi và phát triển đầy đủ, và khi mà được trau giồi và phát triển đầy đủ,
giác chi này đưa đến
chứng ngộ trọn vẹn,
trí tuệ tuyệt hảo, đến
Niết Bàn.
Trạch pháp giác chi ...
Tinh tấn giác chi ... Phỉ
giác chi ... An
giác chi ...
Định giác chi ...
Xả giác chi." "Thất
giác chi này,
quả thật vậy, này Kassapa,
Như Lai đã
giảng giải tận tường,
Như Lai đã trau giồi và phát triển đầy đủ, và khi mà được trau giồi và phát triển đầy đủ
thất giác chi này đưa đến
chứng ngộ trọn vẹn,
trí tuệ tuyệt hảo, đến
Niết Bàn."
"Quả thật vậy, bạch hoá
Đức Thế Tôn, đó là bảy
yếu tố đưa đến giác ngộ! Đúng thật vậy, bạch hóa
Đức Thế Tôn, đó là thất giác chi!"
Đại Đức Kassapa nói. Đó là những lời của
Đức Phật, và
tiếp theo là lời của
Đại Đức Kassapa, đón mừng
tiếp nhận những lời vàng ngọc của
Đức Thế Tôn. Liền sau đó
Đại Đức Kassapa hết bịnh. Lúc bấy giờ bịnh tình của
Đại Đức Kassapa liền tan biến. [4]
Bài kinh khác, Mahà Cunda Bojjhanga Sutta, một trong ba
bài kinh được nhắc đến ở phần trên, ghi rằng lần nọ chính
Đức Thế Tôn lâm bịnh,
Đại Đức Mahà Cunda
đọc tụng bojjhangas,
thất giác chi, và sau đó bịnh tình
trầm trọng của
Đức Phật liền tan biến. [5]
Tâm của
con người ảnh hưởng đến thân một cách rất
sâu xa và
vô cùng kỳ diệu. Nếu ta
để tâm buông lung,
tự do trôi chảy và duyên theo những
tư tưởng ô nhiễm và
tồi tệ, thì nó có thể gây
tai hại không thể lường được, đến độ có thể giết chết một
chúng sanh.
Tuy nhiên, tâm cũng có thể chữa khỏi một chứng bịnh của thân. Nếu ta gom tâm mạnh mẽ vào những
tư tưởng chân chánh, với sự
hiểu biết chân chánh, thì
thành quả mà tâm có
thể đạt đến thật
vô cùng rộng lớn và
sâu xa.
"Tâm không những gây bịnh mà còn có thể chữa bịnh. Một bịnh nhân
lạc quan có nhiều
hy vọng được chữa trị dễ dàng hơn người luôn luôn
lo âu và
sầu muộn. Trong những
trường hợp đã được
ghi nhận, có nơi cho thấy
đức tin cũng chữa được hầu như tức khắc những chứng bịnh thuộc cơ hữu." [6]
Phật Giáo (Buddhadhamma) là
giáo huấn dẫn đến
giác ngộ. Những ai có nguyện vọng
thành đạt giác ngộ,
trước tiên nên
thông hiểu rõ ràng những trở ngại chặn ngang trên
con đường đưa đến
giác ngộ.
Theo sự
hiểu biết chân chánh của một vị Phật,
đời sống là khổ và
tình trạng khổ này nằm trên nền tảng
vô minh hay avijjà.
Vô minh là không
nhận thức bản chất giả hợp của
năm uẩn (khandànam ràsattham); không
nhận thức lục căn và
lục trần đúng theo
bản chất khách quan của nó (àyatanànam àyatanattham); không
nhận thức tánh cách rỗng không hay
tương đối của các
nguyên tố, những
thành phần của
vật chất (dhàtùnam sunnattham); không
nhận thức bản chất cốt yếu của
ngũ căn (indriyànam adhipatittham); không thể
nhận thức tánh cách
thực tiễn -- tánh cách không thể
sai lầm của
Tứ Diệu Đế (saccànam tathattham). Và năm pháp
triền cái (panca nìvaranàni,
năm chướng ngại tinh thần) là chất dinh dưỡng
bồi bổ cho (hay tạo duyên cho)
vô minh ấy. Được gọi là
triền cái vì năm pháp này
hoàn toàn đóng chặt, cắt lìa và chặn ngang, gây trở ngại cho sự
hiểu biết con đường giải thoát ra khỏi
đau khổ.
Năm chướng ngại tinh thần này là:
tham dục (kàmacchanda); oán ghét (vyàpada);
dã dượi và
hôn trầm (thìna-middha);
phóng dật và
lo âu (uddhacca-kukkuca) và
hoài nghi (vicikicchà).
Và cái gì
nuôi dưỡng năm
triền cái này? Ba lối hành động
bất thiện (tìni duccaritàni): thân, khẩu và ý
bất thiện nghiệp. Ba
bất thiện nghiệp này đến lượt nó được
nuôi dưỡng bằng
lục căn không thu thúc (indriya asamvaro). Bản
chú giải giải thích rằng không thu thúc
lục căn là thâu nhận
tham ái và
sân hận vào tâm
xuyên qua sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (cakkàdìnam channam indriyànam ràgapatighap- pavesanam).
Dinh dưỡng không thu thúc
lục căn được
chú giải là vì thiếu niệm và hay biết
rõ ràng (asati asampajanna), thiếu
giác tỉnh. Trong đoạn
kinh đề cập đến dinh dưỡng, để
trần cảnh lôi cuốn đi mất, để sự
hiểu biết về ba đặc tướng của kiếp
sinh tồn,
vô thường, khổ và
vô ngã (anicca, dukkha và anattà) thoát ra khỏi tâm, lãng quên
thực chất của
vạn pháp là những
lý do làm cho ta không thu thúc
lục căn. Chính trong những lúc không
nhận thức bản chất vô thường, khổ,
vô ngã của mọi sự vật ta tự buông lơi cho đủ loại
tự do, thả lỏng cho thân và khẩu mặc tình tạo
bất thiện nghiệp và trí tưởng tượng mặc tình
trôi chảy theo dòng
tư tưởng bất thiện. Thiếu hay biết
rõ ràng là thiếu bốn điều: thiếu hay biết
rõ ràng về
mục tiêu (sàttha sampajanna); về tánh cách
thích nghi (sappàya sampajanna); về
phương sách (gocara sampajanna); về tánh cách không
si mê (asammoha sampajanna). Khi ta làm việc gì mà không có
mục tiêu chánh đáng, khi ta nhìn sự vật hoặc làm việc gì mà không giúp
tăng trưởng thiện pháp, khi ta làm điều gì không đúng theo chiều hướng
thuận lợi để
cải thiện, khi ta lãng quên
Giáo Pháp, vốn là
phương sách thật sự mà ta
gia công, khi ta
si mê bám níu vào sự vật, lầm tưởng là nó đáng được
ưa thích,
đẹp đẽ,
trường tồn và có
thực chất, khi có
thái độ như vậy là
nuôi dưỡng trạng thái không thu thúc
lục căn.
Và nằm phía dưới lớp tâm mà thiếu chú niệm và hay biết
rõ ràng có sự suy tư không chân chánh (ayoniso manasikàra). Suy tư không chân chánh hay
chú tâm không đúng, là đi lệch ra ngoài
con đường chân chánh, có nghĩa là xem
vô thường là thường còn, khổ là
hạnh phúc,
vô ngã là
linh hồn trường cữu,
bất thiện xem là thiện hoặc cái đáng nhờm chán là
đẹp đẽ tốt xinh. Cuộc lăn trôi lặn hụp
mãi mãi triền miên trong vòng luân hồi (samsàra) bắt nguồn từ suy tư không chân chánh. Khi suy tư không chân chánh
tăng trưởng, nó đưa đến hai điều:
trạng thái không
hiểu biết, và lòng tham bám chặt vào kiếp
sinh tồn.
Vô minh đã
hiện hữu, nguồn gốc của toàn khối
đau khổ do đó cũng
hiện hữu. Vậy, người suy tư nông cạn cũng tựa hồ như chiếc thuyền trôi giạt theo chiều gió, như đàn cừu bị
lôi cuốn trong dòng nước lũ, như bò mang ách,
mãi mãi xuôi ngược
trong vòng luân hồi (samsàra).
Kinh sách cũng dạy rằng một
niềm tin không
trọn vẹn (assaddiyam) nơi Phật, Pháp, Tăng là
điều kiện làm phát triển lối suy tư không chân chánh, và không có
niềm tin trọn vẹn nơi
Tam Bảo là vì không nghe
Giáo Pháp, Dhamma (asaddhammasavanam).
Cuối cùng, không nghe
Giáo Pháp vì không
đến gần bậc
thiện trí, không thân cận với hạng người tốt (asappurisasamsevo). Như vậy, thiếu bạn lành (kalyàna mittatà) là
lý do làm khởi sanh những tệ hại trên
thế gian. Ngược lại, nền tảng và chất dinh dưỡng
bồi bổ thiện pháp là tình bằng hữu
trong sạch, thân cận với người bạn lành, người cho ta
thức ăn làm bằng chất liệu của
Giáo Pháp cao thượng, những gì tạo cho ta
niềm tin trọn vẹn nơi
Tam Bảo -- Phật, Pháp, Tăng. Khi có
niềm tin vững chắc nơi
Tam Bảo ta sẽ có suy tư
thâm sâu và chân chánh, có chú niệm và hay biết
rõ ràng, có thu thúc
lục căn, có
thiện nghiệp ở thân, khẩu, ý, có
tứ niệm xứ, có
thất giác chi, và có
trí tuệ đưa đến
giải thoát,
tuần tự, điều này
kế tiếp điều kia. [7]
I- Niệm
Giờ đây ta hãy đề cập đến từng
yếu tố một của
thất giác chi.
Yếu tố đầu tiên là niệm (sati). Đây là
phương tiện hữu hiệu nhất để tự làm chủ lấy mình, và bất luận ai
hành pháp này là đã
tìm ra con đường đưa đến
giải thoát. Niệm có bốn là:
niệm thân (kàyànupassanà); niệm thọ (vedanà- nupassanà); niệm tâm (cittànupassanà); và niệm pháp (dhammànupassanà). [8]
Người mà thiếu
công trình vô cùng quan trọng này không thể
thành tựu việc gì
đáng kể. Lời di chúc
tối hậu của
Đức Phật ngay vào lúc
Nhập Niết Bàn là:
"Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy kiên trì chú niệm để thành đạt giải thoát" (vayadhammà sankhàrà appamàdena sampà-detha). [9] "Hãy
kiên trì chú niệm. Đây là
lời khuyên dạy của ta"
(sampàdetha appamàdena esà me anusàsanà) là những lời
cuối cùng của Đức
A La Hán Sàriputta (
Xá Lợi Phất), vị
đại đệ tử đứng hàng đầu của
Đức Phật. Ngài
nhập diệt trước
Đức Bổn Sư. Trong cả hai
trường hợp,
Đức Phật và Đức Sàriputta đều dùng một danh từ đầy
ý nghĩa và tối quan trọng là
"appamàda", có nghĩa là
chuyên cần chú niệm, giác tỉnh hay biết, cẩn thận chú tâm. Con người không thể
chuyên cần chú niệm
nếu không hoàn toàn hay biết những hành động bằng thân, khẩu, hay ý của mình trong lúc thức. Chỉ khi nào
giác tỉnh chú niệm và hay biết đầy đủ những hành động của mình
con người mới có thể
phân biệt điều nào tốt điều nào xấu, đâu là chánh và đâu là tà. Chính trong ánh sáng của chú niệm
con người sẽ nhìn thấy hành động của mình là đẹp hay xấu, đúng hay sai.
Trong suốt Tam Tạng kinh điển danh từ "appamàda" luôn luôn được dùng để hàm xúc
ý nghĩa "sati", chú niệm. "Pamàda" được định nghĩa là tâm
buông lung, không chú niệm (sati vossagga). Trong bộ Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm,
Đức Phật dạy:
"Này chư tỳ khưu, Như Lai không thấy có một pháp nào có nhiền năng lực như sự chuyên cần chú niệm, để làm phát sanh những tư tưởng thiện chưa phát sanh, và làm tan biến những tư tưởng bất thiện đã phát sanh. Với người hằng có chánh niệm, những tư tưởng thiện, nếu chưa phát sanh sẽ phát sanh, và những tư tưởng bất thiện, nếu đã phát sanh sẽ tan biến."Trạng thái tâm
thường xuyên giác tỉnh và
kiên trì tinh tấn là
điều kiện thiết yếu để tránh những hành động
bất thiện và để
thực hiện những
thiện nghiệp.
Con người luôn luôn chú niệm, luôn luôn
thận trọng tự bao trùm quanh mình với
tâm giác tỉnh (satimà),
con người dũng cảm và
quyết tâm trì chí,
con người ấy sẽ chạy vượt lên trước như một tuấn mã chạy vượt lên, bỏ lại phía sau đàn ngựa tầm thường, già yếu ốm đau. Tầm quan trọng của chú niệm (sati) trong tất cả mọi hành động của ta được
diễn tả một cách
rõ ràng và mạnh mẽ trong những lời dạy sau đây của
Đức Thế Tôn:
"Niệm, này chư tỳ khưu,
Như Lai tuyên bố, niệm là
yếu tố tối
cần thiết trong
mọi việc, bất luận nơi nào. Nó giống như muối trong cà ry" "Satim ca kho aham bhikkhave sabbatthikam vadàmi. Sabba byanjanepi lonadù- panam viya icchitabbà." [10]
Đời sống của
Đức Phật là
hình ảnh cụ thể của chú niệm. Ngài là Sadà sato, luôn luôn
giác tỉnh, luôn luôn giữ
chánh niệm. Không bao giờ có một
trường hợp nào cho thấy
Đức Phật tỏ ra dấu hiệu
dã dượi tinh thần,
uể oải tâm trí hay
tâm bất tại. Ta hãy bước
theo dấu chân của Ngài và hãy
giác tỉnh chú niệm.
Chúng ta hãy loại trừ tâm và những
tâm sở chai đá
dửng dưng và
nhận thấy rằng
dã dượi và
hôn trầm không cầm giữ, cản ngăn ta
thực hiện những
sinh hoạt thiện; bởi vì đây là
con đường vững chắc đưa đến
trạng thái bất diệt,
hạnh phúc và
giải thoát.
Nói theo một lối,
chánh niệm quý hơn
kiến thức, bởi vì trong khi
tâm không chú niệm, ắt không thể xử dụng hữu hiệu
kiến thức của mình. Dầu có
hiểu biết mà
không chú tâm vào
việc làm thì
kiến thức cũng không giúp được gì. Một
tâm trí thông minh sáng suốt mà không chú niệm thường dẫn dắt
con người đi sai đường lạc nẻo và
quyến rũ con người bước ra khỏi
con đường chân chánh. Chí đến những người đầy đủ
kiến thức và
trí não minh mẫn cũng không thấy được sự vật một cách chân chánh trong giây phút dể duôi
để tâm buông lung, trong khoảnh khắc không nắm vững
công hạnh vô cùng quan trọng của chú niệm. Có nhiều người
quyền quý cao sang phải bị
chỉ trích nghiêm khắc mà không thể chối cãi được chỉ vì hành động
vô ý thức, hay có những
lời nói bất cẩn trong lúc
không chú tâm đến
hậu quả của nó. Chú niệm là đặc tánh chánh yếu của tất cả những hành động thiện có chiều hướng đem lại
lợi ích to lớn cho ta và cho kẻ khác. "Appamàdo mahato atthàya samvattati" "Chú niệm dẫn đến
lợi ích to lớn" [11], tức là phát triển tâm đến mức cao nhất, và đó là
con đường mà ta phải
trải qua để thoát ra khỏi mọi
đau khổ của vòng
luân hồi." "Người
thích thú trong hạnh
chuyên cần giữ
chánh niệm và nhìn
phóng dật với tâm sợ hải không còn phải rơi trở xuống. Vị ấy đã
đối diện với
Niết Bàn." [12]
II-
Trạch phápYếu tố thứ nhì của
thất giác chi là dhammavicaya,
trạch pháp, hay nhiệt thành khảo sát
Giáo Pháp.
Trạch pháp là
kiến thức sâu sắc và có tánh cách
phân tách đến
chi tiết để thấu đạt
trọn vẹn thực chất của tất cả các
pháp hữu vi,
vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri, người hay
chư thiên. Đó là thấy đúng
thực tướng của sự vật, thấy sự vật đúng trong bối cảnh của nó.
Trạch pháp là
phân tách tất cả các
pháp hữu vi một cách
rốt ráo, đến những
nguyên tố căn bản,
phân tách chí đến cùng tột. Do nhờ nhiệt thành khảo sát như
vậy mà ta có thể
nhận thức rằng tất cả các
pháp hữu vi đều phải
trải qua những giai đoạn sanh, trụ, diệt (uppàda, thiti và bhanga) một cách
vô cùng nhanh chóng, đến độ khó thể
quan niệm được. Đây là những giai đoạn khởi sanh, phát triển đến tột độ, rồi
chấm dứt, cũng như nước trong một dòng sông, lên cao đến tột độ rồi ròng trở xuống.
Toàn thể vũ trụ đều
liên tục biến đổi, không thể
tồn tại giống hệt trong hai khoảnh khắc
kế tiếp.
Trong
thực tế, mọi sự vật đều phải có duyên, nhân và quả (paccaya, hetu và phala). Khi
chánh niệm, suy tư
chánh đáng (yoniso manasikàra)
tự nhiên đến và
thúc đẩy hành giả phân biện,
lý luận và khảo sát. Suy tư nông cạn,
tư tưởng không
chánh đáng (ayoniso-manasikàra) làm cho
tâm trí nhơ đụt và do đó, không thể khảo sát
bản chất của sự vật. Người như vậy không thể thấy nhân và quả, hột và trái,
trạng thái phát sanh và
hoại diệt của các
pháp hữu vi.
Đức Phật dạy:
Pannavantassàyam dhammo nàyam dhammo dup-pannassa. "Giáo Pháp này để cho bậc cao minh chớ không phải để cho người thiển trí." [13]
Trong
Phật Giáo không có sự
áp bức hay cưỡng chế.
Phật Giáo không đòi hỏi
tín đồ một
đức tin mù quáng. Ngay từ
lúc đầu, người có tâm
hoài nghi lấy làm
thỏa thích mà
nghe lời kêu gọi nên khảo sát,
suy xét tận tường trước khi
chấp nhận.
Toàn thể giáo lý của
Đức Phật, từ đầu đến cuối, được trình bày cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có
tâm trí muốn thấu hiểu.
Đức Phật dẫn dắt chư
môn đệ theo
phương pháp phân biện và
sáng suốt khảo sát. Đối với người Kàlàmas muốn
tìm hiểu,
Đức Phật dạy: "Hoài nghi là đúng, nêu lên những câu hỏi về những gì còn
hoài nghi và những gì ta chưa
hiểu rõ là hữu lý. Về một
vấn đề, khi còn
hoài nghi ắt có sự phân vân phát sanh" (xem Chương 5,
Tự do khảo sát)
Người tìm
chân lý không
thỏa mãn với một
kiến thức nông cạn chỉ thấy trên bề mặt. Người ấy lặn sâu và nhìn những gì ở phía dưới. Đó là loại
tìm hiểu mà
Phật Giáo khuyến khích. Loại
hiểu biết đưa đến
chánh kiến.
Người trau giồi
trạch pháp, dhammavicaya, tập trung chú niệm vào
ngũ uẩn thủ (pancakkhandha) và
gia công nhận thức trạng thái sanh diệt (udayabbaya) của sự cấu hợp những
năng lực này (suddha sankhàra punja) -- luồng
trôi chảy của danh và sắc này (nàma-rùpa). Chí đến khi
nhận thức đầy đủ
bản chất vô thường của danh và sắc của chính mình người ấy mới
chứng nghiệm được
hạnh phúc, phỉ lạc. Do đó có câu:
Yato yato sammasati - khandhànam udayabbayamLabhati pìti pàmojjam - amatam tam vijànatam.
"Mỗi khi suy niệm về sự sanh-diệt của các uẩn, người kia có phỉ lạc. Đối với người thấu hiểu, (suy niệm ấy) là bất tử, Niết Bàn." [14]
Những gì
vô thường, bất ổn định, người ấy thấy là khổ. Những gì
vô thường và khổ, người ấy
nhận thức là
vô ngã, không có một
linh hồn trường tồn bất biến, không có một tự ngã, một
thực thể vĩnh cửu gọi là "ta". Chính sự nắm vững, sự thấu đạt
trọn vẹn, sự
chứng ngộ ba đặc tướng:
Vô thường, khổ,
vô ngã (anicca, dukkha và anattà) ấy được gọi là
tuệ minh sát (vipassanà nàna). Và sự chứng đạt này dường như lưỡi dao cạo, cạo sạch tất cả những khuynh hướng
tâm tánh ngủ ngầm (anusaya) và
cùng lúc, cạo sạch những mầm mống tạo khổ. Người ấy đã lên đến
tuyệt đỉnh cao của sự
chứng ngộ, người ấy là một vị
A La Hán, đấng Trọn Lành, người đã có cái nhìn
rõ ràng, có
trí tuệ sâu sắc, có sự
hiểu biết thấm sâu vào các thâm cung
bí hiểm của
đời sống, và
nhận thức trọn vẹn bản chất thật sự của
vạn pháp, vốn bị vùi lấp dưới lớp mặt
bề ngoài. Người ấy đúng thật là
triết gia, là khoa học gia thật sự, đã nắm vững
ý nghĩa của
đời sống một cách đầy đủ. Người ấy đã đứng vững trên hai chân mình và không còn bị
lạc thú phù du làm
mê hoặc. Người ấy không còn bị những lớp mặt
bề ngoài làm bận lòng. Người ấy không còn có thể ôm ấp một
quan điểm mù mờ về các
hiện tượng; bởi vì đã vượt lên khỏi mọi
lầm lạc do nhờ
tuệ minh sát sâu sắc, và chỉ
tuệ minh sát (vipassanà-nàna) sâu sắc mới có thể đem lại quan kiến toàn hảo, không thể
lầm lạc.
III-
Tinh tấnYếu tố thứ ba của sự
giác ngộ là
tinh tấn (viriya).
Tinh tấn là một
tâm sở (cetasika) mà cũng là chi thứ sáu của
Bát Chánh Đạo, được gọi là
chánh tinh tấn (sammà-vàyàma).
Phật Giáo để cho người
thành thật nhiệt tâm, người
dũng mãnh,
quyết tâm thành đạt mục tiêu chớ không phải để cho người
dã dượi lười biếng
(àraddhaviriyassàyam dhammo nàyam dhammo kusìtassa) [15].
Đức Phật không tự xưng là một đấng
cứu thế có khả năng và sẵn sàng lãnh
chịu tội lỗi của
nhân loại.
Trái lại, Ngài dạy rằng mỗi người phải mang lấy
gánh nặng những hành động
bất thiện của mình. Theo đúng lời của chính
Đức Phật, mỗi
cá nhân phải tự mình
cố gắng, tự mình
chuyên cần tinh tấn đầy đủ mức độ
cần thiết, và tự mình thăng tiến trên đường
giải thoát.
Đức Phật chỉ là người "Vạch Ra Con Đường". Một cách
gián tiếp người khác có thể hướng đến ta một cánh tay hỗ trợ, nhưng muốn thoát ra khỏi mọi khổ đau của
đời sống mỗi người phải tự đặt mình lên hòn đe rồi tự đập, vỗ,
uốn nắn mình bằng hành động của chính mình.
"Hãy tự lấy con làm hải đảo cho con, hãy lấy con làm nương tựa cho con." [16] Như thế ấy,
Đức Bổn Sư kêu gọi hàng
tín đồ không nên
ỷ lại nơi ai khác ngoài mình. Bất luận ở vào
trường hợp nào, người bước
theo dấu chân của
Đức Thế Tôn không nên mất niềm
hy vọng và ngừng
cố gắng;
Đức Phật không bao giờ
thối chí, Ngài luôn luôn
dũng mãnh và
tinh tấn, chẳng những trong kiếp sống
cuối cùng mà trong nhiều kiếp, từ thời còn là
Bồ Tát. Vào lúc còn là người có nguyện vọng
trở thành Phật,
phương châm của ngài là: mà nivattha, abhikkhama, "không chùng bước, luôn luôn thẳng tiến". Người có
chánh niệm và có trau giồi
trạch pháp nên tiến thêm một bước,
tinh tấn chuyên cần,
nỗ lực đúng mức
cần thiết để vượt lên, chiến đấu mở lối thoát.
Nhiệm vụ của
tinh tấn có bốn là:
1.
Tinh tấn tận diệt những
bất thiện pháp đã phát sanh trong tâm;
2.
Tinh tấn đè nén,
ngăn ngừa không để cho
bất thiện pháp phát sanh;
3.
Tinh tấn trau giồi những
thiện pháp đã phát sanh;
4.
Tinh tấn duy trì và làm cho các
thiện pháp đã phát sanh càng thêm
dồi dào phát triển. (samvara, pahàna, bhàvana, anurakkhana.) [17].
Kinh Vitakka Santhàna Sutta của bộ Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm có ghi:
"Cũng như người thợ mộc chuyên nghiệp hay người tập sự dùng một cái chốt nhỏ để lói ra một cái chốt lớn hơn, cùng thế ấy, khi có một
ý nghĩ phát sanh đến thầy tỳ khưu mà có tánh cách
bất thiện, xấu, nghĩa là liên hợp với tham, sân, si, thầy phải tạo trong tâm một
ý nghĩ liên hợp với
thiện pháp. Do đó những
bất thiện pháp sẽ biến tan và cùng với sự tan biến của
bất thiện pháp, tâm của thầy tỳ khưu trở nên ổn cố,
trong sạch, an trụ và định." [18]
Như vậy người lười biếng ắt không thể đi trên
con đường trong sạch (
Thanh Tịnh Đạo). Người có nguyện vọng
thành đạt giác ngộ (bodhi) phải tự
un đúc cho mình một
ý chí dũng mãnh cùng với hạnh
tinh tấn không thối chuyển.
Giác ngộ và
giải thoát nằm
trọn vẹn và
tuyệt đối trong tay của chính ta. "Chính
con người phải tự mình
quyết định kiên trì nỗ lực, vươn lên và mở đường đến tận cánh cổng đưa vào
tự do. Và bất luận lúc nào,
con người luôn luôn có
đủ khả năng để làm việc ấy. Cánh cổng không bao giờ khóa chắc lại, chìa khóa cũng không nằm trong tay ai khác mà ta phải van vái nguyện cầu để được ban bố. Cánh
cửa không bao giờ gài, đóng, hay khóa,
trừ phi chính
con người đã gài, đóng và khóa nó lại."
Bằng những lời vàng ngọc và bằng gương lành
trong sáng,
Đức Phật đã biểu hiện
một đời sống
chuyên cần tinh tấn tột độ. Hãy lắng
nghe lời dạy của Ngài:
"Người sống tiêu cực, uể oải dã dượi, không tinh tấn chuyên cần, dầu còn trẻ tuổi và khoẻ mạnh vẫn lười biếng và suy nhược, thiếu quyết tâm, con người lười biếng ấy không tìm ra được con đường dẫn đến trí tuệ, đường đến giác ngộ." [19]
Bước
theo dấu chân của
Đức Phật, người
Phật tử tự nghĩ: "Dầu chỉ còn da, gân và xương, máu và thịt đã khô dần và tàn héo, ta sẽ không bỏ dỡ cuộc chiến và bước lệch ra ngoài
con đường trực tiến, thẳng đến
giác ngộ." (xem Chương 4,
Chánh Tinh Tấn)
IV- Phỉ
Yếu tố giác ngộ thứ tư là phỉ (pìti). Đây cũng vậy, là một
tâm sở (cetasika), và cũng là một đức tánh có
ảnh hưởng sâu rộng bao gồm cả tâm lẫn thân. Người thiếu đức tánh này không thể đi dài theo
con đường dẫn đến
giác ngộ. Một
nỗi buồn mang máng, một
trạng thái lãnh đạm lạnh lùng trước
thiện pháp, một
tình trạng bất mãn đối với
thiền tập, một sự
biểu lộ bất
toại nguyện, sẽ phát sanh đến người thiếu
tâm phỉ (pìti). Như vậy,
tâm phỉ quả thật là thiết yếu cho người có nguyện vọng và
cố gắng thành đạt giác ngộ và
giải thoát cuối cùng ra khỏi những
ràng buộc của cuộc đi
bất định trong vòng luân hồi (samsàra). Người ấy
cần phải cố gắng trau giồi
giác chi "phỉ"
vô cùng quan trọng này. Không ai có thể
ban tặng hạnh phúc cho người khác. Mỗi người phải tự
xây dựng hạnh phúc cho riêng mình, bằng
nỗ lực của chính mình, bằng chú niệm và bằng những
sinh hoạt tích cực để làm cho
tâm an trụ. Phỉ là một
tâm sở, nghĩa là một phần của tâm.
Vì lẽ ấy không nên tìm
hạnh phúc ở bên ngoài,
mặc dầu ở mức độ nhỏ bé nào,
cảnh vật bên ngoài cũng
ảnh hưởng đến tâm.
Tri túc là
đặc điểm của
hạnh phúc cá nhân. Người thường trong dân gian hình như có
ý nghĩ rằng rất khó trau giồi và phát triển hạnh
tri túc.
Tuy nhiên, nếu ta
kiên trì dũng mãnh,
quyết tâm trì chí chú niệm và suy tư chân chánh về những gì mà
chúng ta thường gặp
hằng ngày, nếu ta
kiểm soát những khuynh hướng
bất thiện và kềm hảm
năng lực lôi cuốn của nhục dục
ngũ trần, nếu đè nén những
quyến rũ vật chất bất thiện mà
thế thường ta riu ríu phục tùng -- vâng lịnh một cách
hồn nhiên không
suy nghĩ -- ắt có thể giữ tâm khỏi bị
ô nhiễm, và chừng ấy
chúng ta có thể
cảm giác hạnh phúc của hạnh
tri túc. Trong tâm của
con người thường xảy diễn những
xung đột đủ loại và nếu các cuộc
xung đột này phải được
kiểm soát, trong khi ta chưa
đủ khả năng để loại trừ,
con người chớ nên buông lơi để cho những khuynh hướng
xấu xa và
dục vọng lôi cuốn, nói cách khác phải trau giồi hạnh
tri túc.
Quả thật là khó mà
từ bỏ những gì lừa phỉnh và bắt giữ ta làm
nô lệ, và
quả thật khó
xua đuổi loại
tà ma đang
chế ngự tâm hồn ta dưới
hình thức những
tư tưởng xấu xa,
bất thiện. Những loại
ma quỉ đó là sự biểu hiện của lòng tham, sân, si --
lobha, dosa, moha. Cho đến khi
thành đạt trạng thái trong sạch và
an tĩnh tuyệt đỉnh bằng cách
trường kỳ rèn luyện tâm trí,
chúng ta không thể
hoàn toàn và
trọn vẹn chiến thắng những vị khách
xấu xa và khó tánh ấy, những người khách đang
chế ngự tâm ta.
Từ bỏ suông những gì ở bên ngoài như nhịn đói, tắm trong các dòng sông và các suối nước nóng v.v... không thể thanh lọc
con người, không thể đem
hạnh phúc đến
con người, không thể làm cho
con người trở thành bậc
thánh nhân. Do đó, nhu cầu phát triển và trau giồi
con đường trong sạch của
Đức Phật: giới, định, tuệ -- sìla, samàdhi, pannà.
Trong
tinh thần sambojjhanga,
thất giác chi, khi đề cập đến
hạnh phúc, ta nên
ghi nhận sự khác biệt lớn lao giữa
thỏa thích và
hạnh phúc.
Thỏa thích --
cảm giác thích thú -- là cái gì tạm bợ
nhất thời, chỉ thoáng qua rồi mất. Có
sai lầm chăng, khi ta nói rằng
cảm giác thích thú chỉ là dấu hiệu
báo trước rằng
đau khổ sắp đến? Những gì mà trong khoảnh khắc này người ta ôm ấp và tâng tiu như một
bảo vật có thể là nguồn
đau khổ trong khoảnh khắc
kế tiếp. "Vật mà ta mong muốn không còn đó nữa khi ta vói tay nắm lấy nó, hoặc lúc ta vừa nắm được thì nó tan biến như
một nắm tuyết." Theo lời của Robert Burns:
"Lạc thú trên đời không khác nào những cái bông toét nở,
Anh vừa nắm lấy nó thì những tai hoa tả tơi rơi rụng;
Hay cũng như tuyết đổ trên dòng sông,
Vừa thấy trắng sáng bỗng chốc đã
mãi mãi tan trong nước."
-- (Tam O'Shanter)
Khi thấy một
hình sắc, nghe một
âm thanh, hưởi một mùi, nếm một vị,
nhận thức một
ý nghĩ, thì người ta bị các đối tượng ấy của
giác quan và tâm (
trần cảnh)
kích thích, và cảm nghe ít nhiều
thỏa thích. Nhưng tất cả đều là những
hiện tượng phù du tạm bợ, vừa phát sanh đã
hoại diệt. Loài thú chỉ nhắm vào
mục tiêu duy nhất là tìm
thỏa thích ở bất luận đâu, với bất cứ giá nào.
Con người trái lại, phải
cố gắng thành đạt tâm phỉ (pìti), hay
hạnh phúc của tâm
thanh bình an lạc.
Hạnh phúc thật sự không thể đến bằng cách bám níu hay nắm chắc lấy những vật
vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri, mà chỉ có
thể đạt đến bằng hạnh
buông bỏ (nekkhamma). Chính
thái độ từ khước những gì thuộc về
thế gian mới đem lại
hạnh phúc thật sự.
Kinh Niệm Xứ, Satipatthàna Sutta, có đề cập đến hai
trạng thái,
thỏa thích của
thế gian (sàmisa sukha) và
thỏa thích siêu thế gian (niràmisa sukha). Niràmisa cao quý hơn sàmisa sukha nhiều.
Một lần nọ
Đức Phật vào thôn xóm trì bình mà không có chút gì để độ ngọ và một người
tọc mạch để ý rằng
Đức Bổn Sư có vẽ bị đói. Nhân đó
Đức Thế Tôn giải thích thái độ tinh thần của người đã thoát ra khỏi mọi
chướng ngại như sau:
"Hạnh phúc thay Như Lai sống Không bị chướng ngại, Dưỡng nuôi phỉ lạc, Như Lai lúc nàoCũng như các vị Trời ở cảnh Quang Âm Thiên." [20]
Hạnh phúc sẽ đến với người suy tư như sau: "Có kẻ gây
tổn thương cho người khác, ta sẽ không làm
tổn hại bất cứ ai. Kẻ khác có thể giết hại
sanh linh nhưng ta không
sát hại chúng sanh nào. Kẻ khác có thể hành động
tà dâm, nhưng ta sẽ luôn luôn
trong trắng. Kẻ khác có thể
gian dối, nhưng ta luôn luôn
chân thật. Kẻ khác có thể
nói lời đâm thọc,
thô lỗ, hay
nhảm nhí, nhưng ta chỉ nói những lời đem lại
hòa hợp, những lời
thanh lịch, êm tai, đầy
tình thương, những lời làm cho
tâm trí mát mẻ an lành, những lời đáng nói,
đúng lúc, đúng nơi,
thích nghi với
hoàn cảnh. Kẻ khác có
thể tham lam, nhưng ta sẽ không tham. Ta sẽ
tinh tấn, khiêm tốn, luôn luôn
chân thật và liêm chánh,
an tĩnh,
tri túc,
rộng lượng và
thành thật trong mọi
trường hợp." Như thế ấy,
giác chi phỉ,
yếu tố thứ tư của
thất giác chi, sẽ dẫn đến
giác ngộ trọn vẹn,
trí tuệ toàn hảo,
Niết Bàn.
V-
An tĩnhPassaddhi, an, hay
vắng lặng,
an tĩnh, là
giác chi thứ năm. Passaddhi có hai:
1. Kàya passaddhi là
Thân an. Kàya ở đây có nghĩa là
toàn thể các
tâm sở chớ không phải là cơ thể
vật chất. Nói cách khác, là
trạng thái an tĩnh,
vắng lặng của
thọ uẩn (vedanàkkhandha),
tưởng uẩn (sannàkkhandha), và
hành uẩn (sankhàrakkhandha).
2. Citta-passadhi,
Tâm an, là
trạng thái an tĩnh của
thức uẩn (vinnànakkhandha).
Passaddhi, an, có thể
ví như cảm giác an tĩnh vắng lặng của người đi đường
mệt mỏi, lúc ngồi lại dưới tàng bóng
mát mẻ của một cội cây, hay có thể
ví như trạng thái thoải mái dễ chịu của người đang ở chỗ nóng nực được một cơn mưa
mát mẻ tưới xuống. Lắng tâm là việc khó
thực hiện. Tâm luôn luôn chao động và có khuynh hướng không bao giờ ở yên một chỗ. Rất khó cột tâm và rất khó kéo tâm
trở lại. Tâm ở trong
trạng thái giống như con cá mới
bị bắt ra khỏi nước và bị vứt lên trên đất khô. Nó phóng nhảy đầu này đầu kia
bất định [21]. Đó là
bản chất của cái tâm
vô cùng tế nhị. Chính sự
chú tâm suy tư chân chánh (yoniso manasikàra) giúp cho người có nguyện vọng
thành đạt giác ngộ kềm lại, làm cho cái tâm chao động trở nên yên tĩnh. Chỉ khi nào có trau giồi tâm "an"
vắng lặng mới có thể
thành công định tâm. Một cái tâm
an tĩnh giữ cho
tâm không có những
tư tưởng nông cạn và
vô ích.
Nhiều người ngày nay nghĩ rằng
tự do là sống
buông lung không bị
hạn chế, còn tự
rèn luyện, tự khép mình vào khuôn khổ
kỷ cương, tự
uốn nắn lấy mình là
cản trở sự phát triển
cá nhân.
Giáo lý của
Đức Phật dạy khác hẳn. Cái tự ngã phải được khắc phục và
thuần hóa theo đúng chiều hướng để trở nên thật sự
tốt đẹp.
Đức Phật, bậc Đã Được
Thuần Hóa, truyền dạy
Giáo Pháp với
chủ đích thuần hóa tâm của
con người (danto so Bhagavà dama-tàya dhammam deseti) [22].
Chỉ khi nào được
an tĩnh vắng lặng và được hướng dẫn
trong vòng trật tự, theo chiều hướng
tiến bộ chân chánh, tâm mới có thể trở nên hữu dụng, cho mình và cho
xã hội. Tâm vô
trật tự là một hiểm họa cho tự
cá nhân mình và cho kẻ khác. Tất cả những hiểm họa tàn phá trên
thế gian đã được gây nên do những người không biết làm thế nào
để tâm được
an tĩnh,
quân bình, ổn định.
Bình tĩnh và
trầm lặng không phải là
yếu hèn.
Thái độ trầm tĩnh lúc nào cũng
biểu lộ một
con người có
văn hóa. Trong khi tất cả mọi sự vật quanh ta đều được an bài một cách
thuận lợi thì giữ mình
trầm tĩnh không phải là điều khó làm. Nhưng giữ
tâm bình thản giữa những
nghịch cảnh thì
quả thật là khó, và chính cái
đức độ khó có được ấy mới là điều đáng cho ta tận lực
cố gắng thành tựu, bởi vì nhờ
kiểm soát tâm như vậy ta
xây dựng cho chính mình một bẩm tánh
dũng mãnh và cương nghị. Điều đáng
thất vọng nhất trên
thế gian là tưởng tượng rằng chỉ có những người
ồn ào mới thật là
dũng mãnh, hay chỉ có những người
lăng xăng rối rít cả ngày mới thật sự có
quyền năng.
Người đã trau giồi tâm
vắng lặng không còn
phiền lụy,
bối rối hay cảm kích khi phải đương đầu với
tám pháp thăng trầm của
thế gian (atthaloka dhamma). Người ấy
cố gắng nhận thấy trạng thái phát sanh và
hoại diệt của những sự vật được
cấu tạo,
vạn pháp sanh rồi diệt như thế nào. Không còn
phiền muộn lo âu, người ấy sẽ thấy rõ tánh cách mỏng manh và
nhất thời trong những sự vật phù du tạm bợ, chỉ
tồn tại nhất thời.
Kinh điển có ghi lại
câu chuyện một bà mẹ, được hỏi sao không than khóc cái chết của người con yêu quý, bà
trả lời:
"Không ai mời mọc, nó đến. Cũng không ai mời mọc, nó đi. Đến như thế nào, nó ra đi cùng thế ấy. Vậy than khóc có ích gì? Rên rỉ ích gì?" [23]
Đó là
lợi ích của tâm
an tĩnh vắng lặng. Không chao động trong những
hoàn cảnh lợi lộc và lỗ lã,
danh thơm và
tiếng xấu, được
tán dương và bị khiển trách,
hạnh phúc và
đau khổ, và không
bàng hoàng hay
phiền muộn trước những
nghịch cảnh của kiếp
sinh tồn. Muốn có được
tâm bình thản như thế ấy phải nhìn
thế gian vô thường này đúng trong bối cảnh của nó. Vậy,
trạng thái an tĩnh (passaddhi) dẫn
con người đến
giác ngộ và
giải thoát con người ra khỏi mọi khổ đau của
đời sống.
VI- Định
Yếu tố thứ sáu của sự
giác ngộ là định (samàdhi). Chỉ có tâm
an tĩnh mới dễ dàng gom trụ vào
đề mục hành thiền. Tâm an và trụ thấy sự vật đúng theo
chân tướng của nó (samàhito yathà bhùtam pajànàti).
Tâm an trụ vào một điểm có khả năng
chế ngự năm chướng ngại tinh thần (panca nìvaranàni, năm pháp
triền cái).
Định là
trạng thái tâm ổn định
vững chắc, có thể
ví như ngọn đèn vững vàng đứng ngọn, không chao động, ở một nơi không gió. Chính
trạng thái định giữ vững tâm ngay thẳng và làm cho
tâm không lay chuyển, không vọng động. Khi
thực hành đúng, định giữ tâm và các
tâm sở trong
trạng thái quân bình, cũng như cán cân được giữ vững giữa hai bàn cân.
Chánh định tiêu trừ những khát vọng vốn làm cho tâm vọng động và
cùng lúc thanh lọc
ô nhiễm, làm cho tâm trở nên
tinh khiết.
Tâm định không bị nhục dục
ngũ trần làm chao động. Khi
tâm định được phát triển đến cao độ thì dầu ở
hoàn cảnh trái nghịch nào cũng không bị khuấy động.
Ngưòi
quyết tâm trau giồi định phải nghiêm
trì giới luật, sìla, bởi vì
giới đức nuôi dưỡng đời sống tâm linh và làm cho
tâm an trụ và
vắng lặng,
quân bình và
dồi dào phong phú. Tâm
buông lung tự làm cho mình rời rạc bằng những
sinh hoạt vô ích.
Người hành thiền, người có nguyện vọng
thành tựu giác ngộ, phải đương đầu với rất nhiều
chướng ngại. Nhưng
đặc biệt có năm pháp gây trở ngại mạnh mẽ cho
tâm định, samàdhi, và chận ngang
con đường giải thoát. Trong
giáo huấn của
Đức Phật năm pháp ấy được gọi là panca nìvarana, năm pháp
triền cái. Danh từ
Phạn ngữ nìvarana có nghĩa là cái gì gây trở ngại, hay cản ngăn
công trình phát triển
tinh thần (bhàvana). Được gọi là nìvarana,
triền cái, bởi vì nó khóa chắc lại, cắt đứt lìa và chận ngang. Nó đóng chắc lại cánh
cửa giải thoát.
Năm pháp
triền cái là:
1.
Tham dục (kàmacchanda),
2. Oán ghét (vyàpàda),
3. Tâm
dã dượi và
hôn trầm (thina-middha),
4.
Phóng dật và
lo âu (uddhacca-kukkucca), và
5.
Hoài nghi (vicikicchà).
Kàmacchandha hay
tham dục, hay
thèm khát mạnh mẻ các
sở hữu, hoặc muốn
thỏa mãn những
dục vọng thấp hèn, là
chướng ngại đầu tiên cột trói
chúng sanh trong cuộc đi
bất định trong vòng luân hồi (samsàra), và đóng chắc cánh
cửa giải thoát.
Dục vọng là gì?
Ái dục (tanhà) ấy
xuất xứ và khởi sanh từ đâu? Theo
kinh Niệm Xứ (Satipatthàna), "Nơi nào có
hoan hỷ và
thỏa thích thì
ái dục bắt nguồn và khởi sanh." Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là những nơi có tánh cách
hoan hỷ và
thỏa thích, nơi ấy
ái dục bắt nguồn và phát sanh. Khi
ái dục bị
ngăn cản thì
trở thành bất mãn và
phẩn nộ. Như
Kinh Pháp Cú, câu 216, dạy:
Tanhàya jàyati soko -- tanhàya jàyati bhayamTanhàya vippamuttassa -- natthi soko kuto bhayam.
"Ái dục sanh sầu muộn, ái dục sanh lo sợ,Người đã trọn vẹn dập tắt ái dục không còn sầu muộn, Càng ít lo sợ".Pháp
triền cái kế đó là
vyàpàda, oán ghét, ác ý, sân hận, hay
bực mình khó chịu. Một cách
tự nhiên,
con người nổi dậy chống đối những gì không
vừa lòng thích ý hay không làm cho mình
thỏa mãn và cũng chán nản vì những điều này.
Xa cách người thân kẻ yêu là
đau khổ, và
kết hợp với người mình không
ưa thích cũng
đau khổ dường ấy. Chí đến một món ăn không vừa miệng, một
thức uống không hợp ý thích, một
tư cách khó thương, và trăm ngàn
nghịch cảnh khác mà ta có thể gặp trên đường đời làm cho ta bất
toại nguyện. Chính vì suy tư
lầm lạc, chú ý không chân chánh (ayonisso manasikàra) mà ta tức giận. Đàng khác,
sân hận dưỡng nuôi
sân hận và làm
lu mờ trí óc,
bóp méo toàn thể cái tâm và những
tâm sở và do đó, gây trở ngại cho
trạng thái giác tỉnh, ngăn chận ánh sáng
chân lý và khóa chắc
con đường đưa đến
giải thoát. Tham và sân đặt nền tảng trên
si mê và nằm trong lớp mây mờ
vô minh, đỉnh cao điên rồ của
chúng ta (avijjà paramam malam). Tham, sân, si,
quả thật là căn nguyên của tất cả mọi
xung đột, mọi
tranh chấp và mọi chia rẽ giữa người và người,
quốc gia và
quốc gia.
Chướng ngại tinh thần thứ ba
bao gồm cặp tệ hại thìna và middha,
dã dượi và
hôn trầm.
Thìna là sự
mệt mỏi, hay
trạng thái dã dượi của
tâm vương và
middha,
hôn trầm, là
trạng thái dã dượi của
tâm sở. Thìna và middha,
dã dượi và
hôn trầm, không phải là
tình trạng nhuể nhoại
biếng nhác thuộc về cơ thể, như vài người có chiều hướng nghĩ như vậy, bởi vì chí đến chư vị
A La Hán, bậc Toàn Hảo, đã tận diệt cặp
triền cái này, vẫn còn thọ
cảm tình trạng
mệt mỏi của cơ thể.
Dã dượi hôn trầm làm chậm trể mọi
công trình phát triển
tâm linh. Do
ảnh hưởng của cặp
dã dượi và
hôn trầm tâm không thể
hoạt động hữu hiệu vì như cục bơ đặc quá, cứng, không thể trét lên bánh, hay như mạch nha dính trên muỗng.
Trạng thái hôn trầm là
kẻ thù nguy hại của
công trình phát triển
tâm linh.
Trạng thái hôn trầm dẫn đến
hôn trầm hơn và
cuối cùng, đến tâm trạng
dửng dưng chai đá. Bẩm tánh mềm yếu như vậy là một
chướng ngại nguy hại trên
con đường đưa đến chân chánh và
tự do. Nhờ
tinh tấn, viriya, hay
nỗ lực tinh thần, có thể khắc phục tệ hại trên.
Pháp
triền cái thứ tư
bao gồm cặp
uddhacca và kukkucca, phóng dật và lo âu. Thông thường tâm của người có lỗi không yên mà bồn chồn
lo lắng. Kẻ có tội và người thiếu
kiên nhẫn thường bị
chướng ngại này. Tâm
phóng dật và không ổn định giống như bầy ong vỡ ổ.
Tình trạng chao động
tinh thần như vậy gây trở ngại cho
công phu hành thiền và khóa kín
con đường hướng thượng.
Lo âu cũng
tai hại dường thế ấy. Người ta thường
ăn năn những
tội lỗi mà mình đã phạm.
Đức Phật không
tán dương thái độ hối tiếc ấy, bởi vì khi sữa đã rơi đổ xuống đất thì có than khóc mấy cũng không
lợi ích gì. Thay vì khóc than rên rỉ những
thiếu sót như vậy, ta nên
quyết tâm cố gắng không còn lặp lại hành động
bất thiện tương tợ trong tương lai. Có người băn khoăn
lo lắng vì đã chểnh mãng bỏ lỡ một cơ hội tạo
thiện nghiệp, hay đã lãng quên một phận sự. Điều này cũng vậy,
vô ích. Làm như thế không khác nào đứng trên một bờ sông rồi
bảo cái bờ bên kia xích lại gần để mình bước qua. Thay vì luống công
vô ích, như
lo âu về các hành động thiện mà ta bỏ lỡ không làm, hãy
cố gắng tích cực tạo
thiện nghiệp.
Trạng thái bất ổn định
tinh thần (kukkucca,
lo âu) cũng là một
chướng ngại cho
tiến bộ.
Triền cái thứ năm và
cuối cùng là
vicikicchà, hoài nghi. Danh từ vi + cikiccà, đúng theo nghĩa từng chữ, là không thuốc chữa. Người mang tật
hoài nghi quả thật đã mắc phải một chứng
bịnh nan y, và
cho đến chừng nào xa lìa hoài nghi ta vẫn còn phải chịu khổ đau vì bịnh này. Ngày nào mà còn
hoài nghi thì
con người còn
tiếp tục có một quan kiến
bất định về sự vật, và đó là một
thiệt hại vô cùng trọng đại cho
công trình phát triển
tâm linh. Các nhà
chú giải giải thích rằng
hoài nghi này là không thể
quyết định điều gì một cách
chắc chắn.
Hoài nghi ở đây cũng là không tin rằng người ta có thể đắc thiền (jhàna). Về điểm này ta có thể thêm rằng dầu là người không phải
Phật tử hay không biết gì đến
Tam Bảo cũng có thể khắc phục
triền cái hoài nghi (vicikicchà) và đắc thiền (jhàna).
Hành giả đã đắc thiền tạm thời
chế ngự năm chướng ngại bằng năm chi thiền (jhànanga). Chi thiền ekaggatà (trụ)
chế ngự triền cái kàmacchandha (
tham dục); pìti (phỉ)
chế ngự vyàpàda (oán ghét); vitakka (tầm)
chế ngự thìna-middha (
dã dượi và
hôn trầm); sukha (lạc)
chế ngự uddhacca-kukkucca (
phóng dật và
lo âu); và vicàra (sát)
chế ngự vicikicca (
hoài nghi).
Tuy nhiên, đắc thiền (jhàna) không phải là
mục tiêu cứu cánh mà
hành giả nhắm đến. Thiền phải dẫn đến
minh sát (vipassanà). Do nhờ
minh sát mới tận diệt những
ô nhiễm tiềm tàng ngủ ngầm (anussaya kilesa) và
thành tựu trạng thái hoàn toàn trong sạch.
Ngày nào các
ô nhiễm (kilesa) còn tiềm tàng
tồn tại trong tâm
con người, ngày ấy
ác pháp (pàpa) còn có thể
tiếp tục phát sanh. Người đã đắc thiền (jhàna) vẫn còn phải nhắm đến
mục tiêu cao hơn, là
minh sát. Người đắc thiền không tạo
nghiệp bất thiện vì đã
chế ngự năm pháp
triền cái,
tuy nhiên,
ô nhiễm vẫn còn tiềm tàng sâu kín bên trong và như vậy, chưa
đạt đến trạng thái tuyệt đối châu toàn.
Nhưng vị
A La Hán, bậc Toàn Hảo, đã gội rửa tất cả mọi
ô nhiễm đến tận cùng gốc rễ và đã
chấm dứt mọi cuộc đi
thênh thang bất định trong vòng luân hồi. Ngài là bậc đã
chắc chắn chấm dứt mọi cuộc sống, bởi vì đã làm cho kiếp sống cao quý của Ngài trở nên toàn hảo,
hoàn toàn trong sạch và đã
hoàn tất viên mãn những gì
cần phải làm. Đối với Ngài không còn kiếp sống nào khác [24].
Một sinh viên
chuyên cần, chăm chú
thâm sâu vào bài học, cắt đứt
liên lạc với mọi
yếu tố khuấy động bên ngoài, rút vào một nơi yên tĩnh và tự bao trùm quanh mình bầu không khí
thuận lợi cho việc học, và chỉ lo học. Sinh viên này sẽ
thành công, đến kỳ thi sẽ đậu. Cùng thế ấy, vị
hành giả rút vào
tịnh thất hay một nơi yên tĩnh khác, "tách rời xa những cuộc
tranh chấp thấp hèn của đám đông cuồng loạn",
chú tâm vào
đề mục hành thiền (kammatthàna) và chiến đấu, không ngừng
tinh tấn chế ngự năm
triền cái, thanh lọc mọi
ô nhiễm trong luồng tâm, và
dần dần đạt đến sơ thiền,
nhị thiền,
tam thiền,
tứ thiền, rồi từ đó, nhờ
năng lực của
tâm định (samàdhi) hướng
tâm quán chiếu sự vật để thấu đạt
thực tại, trong
ý nghĩa cao
siêu nhất. Đến giai đoạn này
hành giả trau giồi
thiền minh sát, vipassanà. Nhờ
minh sát ta mới thấu đạt
trọn vẹn bản chất thật sự của tất cả các
pháp hữu vi và các vật được
cấu tạo.
Thiền minh sát giúp ta thấy sự vật đúng
thực chất của sự vật,
thấy như thật sự, sự vật là như vậy, thấy
chân lý diện
đối diện và
nhận thức rằng tất cả những giọng điệu chỉ là những
âm thanh khác nhau phát xuất từ một cây đờn và ngân nga từ kiếp này sang kiếp khác. Sợi dây đờn được làm ra bằng chất liệu
vô thường, khổ,
vô ngã (anicca, dukkha, anattà).
Hành giả hướng
tuệ minh sát (vipassana nàna) vào
bản chất thật sự của
thế gian mà đã từ lâu mình vẫn chặt chẽ bám níu vào. Bây giờ
hành giả khảy mỏ, phá vỡ cái vỏ trứng của
vô minh để tưng bừng mở tung ra cánh cửa
siêu thế. Với sự thanh lọc
trọn vẹn cuối cùng này
hành giả đã
thành đạt mức độ
tiếp nhận ánh sáng của
Niết Bàn,
trạng thái vắng lặng mà không
ngôn ngữ tại thế nào có thể
diễn đạt,
sự giải thoát tâm không thối chuyển (akuppà ceto-vimutti) [25].
Kinh Pháp Cú dạy:
"Đối với vị tỳ khưu đã rút vào nơi ẩn dật, đã giữ tâm vắng lặng, và đã ngộ rõ Giáo Pháp, vị ấy chứng đạt phỉ lạc siêu trần." -- (Câu 373)
VII- Xả
Giác chi thứ bảy mà cũng là
yếu tố giác ngộ cuối cùng là upekkhà, xả. Theo
Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), upekkhà, cũng được gọi bằng một danh từ khác là tatra-majjhattatà, có
nghĩa trung lập, không thiên bên nào. Đó là
trạng thái tâm
quân bình chớ không phải tâm
lãnh đạm thờ ơ hay
thản nhiên dửng dưng.
Trạng thái tâm
quân bình hay xả, là kết quả của
tâm định an tĩnh vắng lặng.
Quả thật là khó
tránh khỏi bị chao động khi phải
va chạm thường xuyên với những
thăng trầm của cuộc sống, nhưng người có trau giồi đức tánh "xả" khó có được này không còn cảm nghe
phiền lụy bực mình. Giữa những cơn bão táp của
tám pháp thế gian (attha loka dhamma),
lợi lộc và lỗ lã,
danh thơm và
tiếng xấu,
tán dương và khiển trách,
hạnh phúc và
đau khổ, người có tâm xả không bao giờ lay động. Người ấy
vững chắc như tảng đá to.
Dĩ nhiên đó là
thái độ của một vị
A La Hán, bậc Toàn Hảo. Để
mô tả tâm trạng bình thản của Ngài có câu:
"Người tốt buông xả tất cả. Bậc thánh nhân không nghĩ đến ái dục. Dầu hạnh phúc hay đau khổ bậc thiện trí không bồng bột cũng không để tinh thần suy sụp." [26]
Kiêng cữ các chất say vốn có thể làm
lu mờ tâm trí và một cách
kiên trì,
kiên cố vững chắc trong hạnh
nhẫn nhục và
trong sạch, bậc
thiện trí rèn luyện tâm và nhờ đó
thành tựu trạng thái vắng lặng,
tự tại.
Kinh điển có ghi bốn
con đường sai lạc (cattàro agatti).
Con đường tham ái (chanda),
con đường sân hận (dosa),
con đường yếu hèn (bhaya), và
con đường si mê (moha). Người ta tạo
nghiệp bất thiện vì đi dài theo một hay nhiều
con đường sai lạc ấy, nhưng người
hoàn toàn bình thản nhờ đã trau giồi tâm xả thì luôn luôn xa lánh.
Trạng thái vô tư và
hoàn toàn tinh khiết của người có tâm xả làm cho người ấy nhìn sự vật và
chúng sanh một cách
bình đẳng, không
thiên vị, với tâm
thản nhiên.
Người thật sự muốn trau giồi tâm xả
cần phải hiểu biết về
sự báo ứng của nghiệp, nhân đã gieo sẽ trổ quả như thế nào. Trong ánh sáng của
định luật nghiệp báo ta sẽ có thể
chấp nhận một
thái độ buông xả đối với tất cả
chúng sanh, hơn nữa, đối với những vật
vô tri vô giác.
Nguyên nhân kế cận đưa đến tâm xả là sự
nhận thức rằng tất cả mọi
chúng sanh đều là
kết quả của nghiệp mình.
Trong Bodhicaryàvatàra, Shàntideva viết như sau:
"Có người không ưa ta. Như vậy
Tại sao ta
thỏa thích khi được ca tụng?
Có người
khen tặng ta. Như vậy
Tại sao ta than van trước những lời khiển trách?
"Người
tự chủ luôn luôn có nụ cười trên môi;
Người ấy đã
lìa bỏ gương mặt
cau có,
Sẵn sàng
tiếp đón người khác, và chia sớt
Tất cả gì mình có. Người bạn của
toàn thể thế gian,
Chân Lý sẽ tôn vương."
Đây là những nét
đại cương của
thất giác chi mà
Đức Thế Tôn đã
giảng giải hơn 2,500 năm về trước, nhằm đưa đến
chứng ngộ trọn vẹn,
trí tuệ toàn hảo,
Niết Bàn,
Vô Sanh Bất Diệt. Trau giồi phát triển hay
quên lãng bỏ lơ các
yếu tố này là phần việc của ta, của từng người trong
chúng ta. Nhờ sự hỗ trợ của
Giáo Pháp mỗi người
chúng ta có
đủ khả năng để
khám phá và
tiêu trừ nguồn gốc của
đau khổ. Từng
cá nhân một, mỗi người có thể vận dụng
nỗ lực cần thiết để
thành đạt giải thoát cho chính mình.
Đức Phật dạy ta làm thế nào để
am tường thực tướng của
đời sống và
chỉ dẫn hướng đi cho mỗi người
chúng ta. Vậy,
chúng ta chỉ
nương nhờ nơi chính ta để tự mình
tìm ra chân lý của
đời sống và hưởng dụng
kiến thức ấy một cách có
lợi ích. Ta không thể nói để chạy tội rằng
chúng ta không biết phải làm thế nào. Trong
giáo lý của
Đức Phật không có gì là mờ ám. Tất cả
chỉ dẫn cần thiết đã được trình bày
rõ ràng.
Giáo Pháp từ đầu đến cuối đã được
mở rộng cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có
tâm trí để
hiểu biết. Về phần
chúng ta, điều
cần thiết duy nhất phải làm để
chứng ngộ trọn vẹn chân lý là
quyết tâm trì chí,
gia công học và đem điều đã học ra
thực hành trong đời sống
hằng ngày, mỗi người cho chính mình, mỗi người
cố gắng hết sức của mình.
Giáo Pháp hãy còn vẩy tay chào đón khách
hành hương mệt mỏi để đưa vào một cảnh trời cao đẹp nào hay hơn nữa, đưa đến
trạng thái châu toàn và
thanh bình an lạc của
Niết Bàn.
Chúng ta hãy
tinh tấn lên, hãy trau giồi
thất giác chi với
tâm đạo nhiệt thành, với
ý chí dũng mãnh, và thẳng tiến.
"Hồi tưởng đến các bậc Thánh Nhân thời xa xưa,Và nhớ lại các Ngài đã sống như thế nào,Chí đến ngày nay, mặc dầu chỉ là đàn hậu tấn --Ta vẫn còn có thể thành tựu Con Đường Cao Thượng của Thanh Bình." [27]
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chú thích:
[1] Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, v, 72.
[2]
Tạp A Hàm, v, trang 63.
[3] "Dhamma" là một danh từ có nhiều
ý nghĩa. Nơi đây, nó có nghĩa là danh và sắc (nàma-rùpa); Dhammavicaya là phân biện hay
phân tách luồng
trôi chảy của tâm và thân, và của tất cả các
pháp hữu vi.
[4] Samyutta Nikàya, v, 81.
[5] Cùng
bài kinh trên.
[6] Aldous Huxley, Ends and Means (London, 1946), trang 259.
[7] Sammoha Vinodani.
[8] Satipatthàna Sutta, Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, 10, hoặc Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm. 22. Xem The Foundations of Mindfulness, do Nyanasatta dịch (Kandy: BPS) Wheel 19.
[9] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, 16/II. 156.
[10]
Chú Giải kinh Satipatthàna Sutta,
Tứ niệm xứ.
[11] Phẩm Sagàthaka Vagga, Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm.
[12] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 32.
[13] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, iv, 232
[14] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 374.
[15] Anguttara Nikàya,
Tăng nhứt A Hàm, iv, 232.
[16] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, 16/II. 100.
[17] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, ii, 14-15.
[18] Để có thêm
chi tiết xin đọc The Removal of Distracting Thoughts, do Soma Thera dịch (Kandy: BPS). Cũng xin xem Phụ bản VI, Chương 10
[19] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 280.
[20] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 200.
[21] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 33-36.
[22] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, 25/III. 541.
[23] Túc Sanh Truyện Uraga Jàtaka, 354.
[24] Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, 27.
[25] Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm 30/I. 205.
[26] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 83.
[27] Psalms of the Brethen (Theragàthà,
Trưởng Lão Tăng Kệ) v, 947.