NIỀM TIN VÀO GIÁO LÝ TỊNH ĐỘ
PHÁT SINH NHƯ THẾ NÀO?
Nguyên tác: How Does Faith in the Pure Land Teachings Arise?
Tác giả: Alan Kwan
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
Niềm tin vào giáo lý Tịnh Độ phát sinh từ danh hiệu A Di Đà
Đại Trí Độ Luận nói: “Giáo pháp của Đức Phật bao la như đại dương, nên chỉ có thể tiếp cận thông qua niềm tin.” Niềm tin đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành Phật pháp.
Kinh Hoa Nghiêm tuyên bố: “Niềm tin là nguồn gốc và căn nguyên của mọi công đức và thiện hạnh, như một bào thai từ đó mọc lên mọi căn lành khác nhau.”
Trong Phật giáo Tịnh Độ, niềm tin đặc biệt quan trọng, vì nó là yếu tố đầu tiên trong Ba Tài Lực (Sambhara-tư lương): niềm tin, nguyện vọng và hành trì (tín-nguyện-hành). Ba yếu tố này thường được biết đến như là những điều kiện cần thiết để tái sinh về Cực Lạc. Rõ ràng, niềm tin chính là bước đầu tiên để bước vào cửa ngôi Cực Lạc.
Niềm tin vào giáo pháp Phật—tin vào Đạo lý Nhân Quả, tái sinh trong Lục đạo, tiêu diệt Tam độc thông qua việc tu tập Ba học (giới,định,tuệ), Bồ-đề tâm và Sáu Ba-la-mật, cùng những yếu tố khác—không thể mang lợi ích cho người tu nếu niềm tin đó chỉ dừng lại ở mức tín ngưỡng lý trí mà không đi đôi với hành trì chuyên cần.
Chẳng hạn, ngay cả khi một người tin vào khái niệm tái sinh, họ cũng không thể thoát khỏi luân hồi nếu không siêng năng thực hành giáo pháp Phật để xóa bỏ hai chướng ngại: chướng ngại kiến giải và chướng ngại phiền não, cũng như tiêu trừ Tam độc: tham, sân và si.
Tuy nhiên, trong đoạn về việc thực hiện lời nguyện thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, có viết:
“Khi nghe danh hiệu Ngài, người ta vui mừng mà tin theo [danh hiệu ấy].”
Tại sao một người lại vui mừng khi nghe danh hiệu A Di Đà? Bởi vì người ấy hưởng lợi ích từ việc niệm danh hiệu A Di Đà và từ niềm tin vào danh hiệu Ngài nảy sinh ngay khi nghe nó. Danh hiệu linh thiêng này mang hình thức ánh sáng bao bọc, và giúp người ấy chắc chắn tái sinh về Cực Lạc.
Điều này có nghĩa là niềm tin của chúng ta vào giáo lý Tịnh Độ phát sinh từ danh hiệu A Di Đà, không phải từ những cảm xúc mơ hồ cá nhân, tâm thức mê lầm, hay nghiệp chướng ô nhiễm của chính mình.
Ý nghĩa của chấp trì hay “nắm giữ danh hiệu” trong Kinh A Di Đà
A Di Đà vô hình và vượt ngoài khả năng nhận thức của con người. Mắt chúng ta không thấy Ngài, tai chúng ta không nghe Ngài, tay chúng ta không chạm được Ngài — nhưng chúng ta có thể tin vào Ngài, tiếp nhận danh hiệu Ngài và chấp nhận sự cứu độ của Ngài trong tâm.
Vì vậy, ý nghĩa thật sự của “chắc giữ danh hiệu khi nghe về Phật A Di Đà”, như được ghi trong Kinh A Di Đà, là tin tưởng và tiếp nhận sự cứu độ của A Di Đà.
Phật A Di Đà đã lập nguyện trong địa thứ nhân duyên (các giai đoạn Bồ-tát trước khi thành Phật) để cứu độ chúng sinh khắp Mười Phương.
Lòng từ bi chủ động, bình đẳng và không phân biệt của Ngài chạm đến sâu thẳm trái tim chúng ta. Nhờ vào việc thực hiện các Nguyện của Ngài, những nghi ngờ của chúng ta biến thành niềm tin vào sự cứu độ thông qua danh hiệu, và chúng ta tiếp nhận lòng từ bi của A Di Đà.
Đây chính là ý nghĩa của việc “chấp trì danh hiệu”.
Phật giáo Tịnh Độ là một giáo pháp tha lực cứu độ, chứ không phải là giáo pháp tự lực tu tập.
Trong bài viết trước, tôi đã viết:
*“Việc tái sinh chỉ đạt được nhờ chỉ thực hành niệm danh hiệu A Di Đà từ phía chúng ta, vì điều đó *hoàn toàn dựa vào hoạt động độc lập của danh hiệu A Di Đà — Namo Amitabha — từ phía A Di Đà!”
Tôi cũng viết:
“Theo Nguyện Cơ Bản của A Di Đà, tất cả những người nguyện sinh đều chỉ cần niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất, và toàn bộ vấn đề tái sinh sẽ được Phật A Di Đà lo liệu. Sự cứu độ của A Di Đà, dựa trên Nguyện Cơ Bản của Ngài, là bình đẳng, vô điều kiện và chủ động.”
Những điểm này là cốt yếu để hiểu lý lẽ của Phật giáo Tịnh Độ.
Niềm tin cá nhân của chúng ta vào giáo lý Tịnh Độ không phải là nguyên nhân dẫn đến tái sinh
Nhiều người tu Tịnh Độ có thể còn nghi ngờ về giáo pháp này và cho rằng Ba Tài Lực — niềm tin, nguyện vọng và hành trì — đều là những điều kiện cần thiết để tái sinh về Cực Lạc. Vì vậy, không thích hợp khi nói rằng sự cứu độ thông qua Nguyện Cơ Bản của A Di Đà là “vô điều kiện”.
Họ cũng có thể lập luận rằng một người phải chủ động tin tưởng (niềm tin) và khát nguyện được tái sinh (nguyện vọng) thì mới có thể tái sinh, nên sự cứu độ của A Di Đà không hoàn toàn chủ động 100%. Hơn nữa, họ cho rằng ngoài việc niệm danh hiệu A Di Đà, niềm tin của người tu cần sâu sắc và nguyện vọng cần tha thiết để có thể chắc chắn tái sinh. Vì vậy, mối quan hệ này có phần tương hỗ chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào A Di Đà.
Một số người thậm chí còn cho rằng chỉ một niệm tin tưởng là nguyên nhân chính dẫn đến tái sinh, và danh hiệu A Di Đà chỉ là điều kiện bổ trợ. Điều này có vẻ hợp lý đối với nhiều người tu Phật, nhưng sự thật sâu xa và thâm diệu hơn bất cứ lập luận nào trong số này.
Một lần nữa, điểm này cần được nhấn mạnh: trong Phật giáo Tịnh Độ nguyên thủy, việc tái sinh chỉ đạt được nhờ danh hiệu A Di Đà. Như chúng ta đã tìm hiểu trong bài viết trước, niệm danh hiệu A Di Đà là một hành động độc lập của danh hiệu A Di Đà — Namo Amitabha!
Nếu chúng ta luôn niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất khi đi, đứng, ngồi và nằm, không bỏ danh hiệu ấy, chúng ta đã được bao bọc trong Nguyện thứ 18, bất kể thời gian hành trì là bao lâu.
Niệm danh hiệu A Di Đà là nghiệp (hành động) quyết định để chắc chắn tái sinh, như Thiện Đạo đại sư đã ghi nhận, nên tái sinh là kết quả của công đức và thiện hạnh của danh hiệu A Di Đà.
Đối với người niệm danh hiệu, bất kể người ấy hiểu hay không, tin hay không, khát nguyện hay không, kết quả chức năng của tái sinh vốn đã nằm sẵn trong danh hiệu A Di Đà. Mặc dù người ấy không biết và không thấy, vẫn hưởng được kết quả tương tự như người biết và thấy.
Đây chính là kết quả chức năng của việc niệm danh hiệu; đây cũng là tự tánh của danh hiệu.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, độ sâu của niềm tin vào sự cứu độ của A Di Đà được đo bằng sự chuyên nhất trong việc niệm danh hiệu A Di Đà.
Việc tái sinh của tất cả những người nguyện sinh sẽ được đảm bảo miễn là họ niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất cho đến cuối đời. Họ sẽ không bị quấy nhiễu hay gián đoạn bởi bất cứ điều gì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vì họ luôn được A Di Đà bao bọc và bảo vệ.
Thiện Đạo đại sư viết trong Ca ngợi nghi lễ tái sinh:
“Đức A Di Đà cao quý đã lập một nguyện vô cùng trang nghiêm. Ngài giảng dạy và cứu độ chúng sinh khắp Mười Phương qua Danh hiệu Ngài dưới hình thức ánh sáng của Ngài. Điều này giúp họ có niềm tin, nguyện vọng và hành trì trong việc niệm danh hiệu A Di Đà. Ai niệm đến cuối đời, hay chỉ mười lần, hoặc chỉ một lần, cũng có thể dễ dàng tái sinh nhờ sức mạnh của Nguyện Cơ Bản của Ngài.”
Trong tuyên bố trên, điều thú vị là danh hiệu A Di Đà giúp chúng sinh có niềm tin vào sự cứu độ của Ngài và khát nguyện tái sinh về Cực Lạc.
Điều này ngụ ý rằng chính Phật A Di Đà, chứ không phải người tu Tịnh Độ, giữ vai trò chủ động và khởi xướng, thông qua Danh hiệu Ngài dưới hình thức ánh sáng, để cung cấp tất cả Ba Tài Lực cần thiết cho việc tái sinh.
Điều này một lần nữa khẳng định rằng niềm tin của chúng ta vào sự cứu độ của A Di Đà phát sinh từ danh hiệu Ngài, chứ không phải từ tâm mê lầm của chính chúng ta.
Bản Anh ngữ:
Faith in the Pure Land teachings arises from Amitabha’s name
The Treatise of Great Wisdom says: “The Buddhist teachings are as vast as the great sea, so they can be accessed only through faith.” Faith plays an important role in practicing Buddhism. The Avatamsaka Sutra declares: “Faith is the source and origin of all merits and virtues, like an embryo from which all the various roots of virtues grow.”
In Pure Land Buddhism, faith is of particular importance, as it is the first of the Three Sambharas—faith, aspiration, and practice. These are commonly known to be the necessary conditions for rebirth in the Land of Bliss. Obviously, faith is the first step to enter the gates of the Pure Land.
Faith in the Buddhist teachings—belief in the Law of Causal Condition, rebirth within the Six Realms, extinction of the Three Poisons through the cultivation of the Three Learnings, the Bodhi Mind, and the Six Paramitas, among others—cannot benefit the devotee if they are restricted to intellectual belief without diligent practice. For instance, even if one believes in the concept of rebirth, one cannot escape rebirth if one does not diligently practice the Buddhist teachings in order to clear the Two Obstructions of View and Afflictions, and to eradicate the Three Poisons—greed, hatred, and delusion.
However, in the paragraph of the fulfilment of the 18th Vow in the Infinite Life Sutra, it is written, “Upon hearing his name, one is joyful to believe in [his name].” Why is a person joyful upon hearing Amitabha’s name? It is because she enjoys the benefits of practicing Amitabha-recitation and the faith in Amitabha’s name that arises upon hearing it. The holy name takes the form of embracing light, and enables her to attain assured rebirth in the Land of Bliss. This means that our faith in the Pure Land teachings comes from Amitabha’s name, not from vague personal feelings, our deluded minds, or our impure karmic actions.
The meaning of “holding fast the name” in the Amitabha Sutra
Amitabha is formless and beyond the reach of our human senses. Our eyes can’t see him, our ears can’t hear him, and our hands can’t touch him—but we can believe in him, receive his name, and accept his deliverance in our hearts. So the true significance of “holding fast to the name upon hearing of Amitabha Buddha,” as written in the Amitabha Sutra, is to believe in and accept Amitabha’s deliverance.
Amitabha Buddha made vows in his causal ground (the bodhisattva stages preceding Buddhahood) to deliver sentient beings of the Ten Directions. His pro-active, equal, and non-discriminative compassion deeply touches our hearts. Because of the fulfillment of his Vows, our doubts transform into faith in deliverance through the name and we accept Amitabha’s compassion. This is what is meant by “holding fast the name.”
Pure Land Buddhism is a teaching of deliverance, not a teaching of cultivation. In my last article, I wrote: “rebirth is achieved solely by the exclusive practice of Amitabha-recitation from our side, because it relies solely on the independent action of Amitabha’s name—Namo Amitabha—from Amitabha’s side!” I also wrote: “In accordance with Amitabha’s Fundamental Vow, all aspirants need to do for rebirth is to exclusively recite Amitabha’s name, and the entire matter of rebirth will be taken care of by Amitabha Buddha. Amitabha’s deliverance, based on his Fundamental Vow, is equal, unconditional and pro-active.” These points are vital to understanding the rationale of Pure Land Buddhism.
Our personal belief in Pure Land teaching is not the cause of rebirth
Many Pure Land practitioners may harbor doubts about this teaching and argue that the Three Sambharas—faith, aspiration, and practice—are all necessary conditions for rebirth in the Land of Bliss. Thus, it is not appropriate to say that deliverance through Amitabha’s Fundamental Vow is “unconditional.”
They may also argue that one has to take the initiative of believing (faith) and desiring rebirth (aspiration) in order to be reborn, so Amitabha’s deliverance is not 100 per cent proactive. Moreover, they think that in addition to Amitabha-recitation, the devotee’s own faith should be deep and his aspiration should be earnest to be assured of rebirth. The relationship is therefore somewhat mutually complementary rather than completely dependent on Amitabha.
Some may go even further and argue that a single thought of faith is the main cause of rebirth, and Amitabha’s name is merely the supportive condition. This may sounds logical to many Buddhist practitioners, but the facts of the matter are deeper and more profound than any of these arguments allow.
Again, this point bears repeating: in pristine Pure Land Buddhism, rebirth is achieved solely through Amitabha’s name. As we explored in my previous article, Amitabha-recitation is an independent action of Amitabha’s name—Namo Amitabha! If we always exclusively recite Amitabha’s name while walking, standing, sitting, and lying down, without forsaking it, we are already embraced within the 18th Vow regardless of the length of time we have practiced.
Amitabha-recitation is the definitive karma (action) of assured rebirth, as noted by Master Shandao, so rebirth is the result of the merits and virtues of Amitabha’s name. For a person who recites the name, no matter whether he understands or not, believes or not, aspires or not, the functional outcome of rebirth is naturally contained within Amitabha’s name. Though one does not know and cannot see, he enjoys the same results as one who knows and sees. This is the functional outcome of reciting the name; this is the self-nature of the name.
Last but not least, the depth of faith in Amitabha’s deliverance is gauged by the exclusivity of the practice of Amitabha-recitation. The rebirth of all aspirants is assured as long as they exclusively recite Amitabha’s name until the end of their lives. They will not be disturbed or interrupted by anything under any circumstance because they are always embraced and protected by Amitabha.
Master Shandao states in the Praise of Rites of Rebirth: “The honorable Amitabha set forth an extremely solemn vow. He teaches and delivers sentient beings of the Ten Directions through his Name in the form of his light. It enables them to have faith, aspiration and practice in Amitabha-recitation. Whoever recites until the end of his life, or even ten times, or even just once, can easily be reborn by the power of his Fundamental Vow.”
In the above statement, it is interesting to note that Amitabha’s name enables sentient beings to have faith in Amitabha’s deliverance and aspiration to rebirth in the Land of Bliss. It implies that Amitabha Buddha, rather than a Pure Land practitioner, takes an initiating and active role, through his Name in the form of his light, to provide all the Three Sambharas necessary for his rebirth. It re-affirms that our faith in Amitabha’s deliverance arises from Amitabha’s name, rather from our own deluded minds.