Nhất mai khởi thỉnh văn (一枚起請文 , Ichimai-kishōmon, The One Sheet Document, Bản di huấn một trang)1, cũng gọi Nhất mai tiêu tức, Nhất mai thệ văn, là một bài văn do Pháp Nhiên Thượng nhân, người sáng lập Tịnh độ tông Nhật Bản, viết hai ngày trước khi thị tịch. Bài văn này nhằm tóm tắt giáo lý của Pháp Nhiên cho các thế hệ sau và được coi là di huấn sau cùng của ông. Bài văn được viết vào ngày 23 tháng Giêng âm lịch, năm thứ hai của niên hiệu Kiến Lịch (Kenryaku, 1212) và chỉ có hơn ba trăm từ. Cho đến ngày nay, bài văn này vẫn được các chùa thuộc Tịnh độ tông ở Nhật Bản đọc tụng trong hai thời công phu.
Bài văn khẳng định niềm tin của Pháp Nhiên Thượng nhân rằng, chúng sanh đều mê muội và vô minh, nhưng bằng cách phó thác bản thân cho Đức Phật A Di Đà và thông qua việc niệm Phật (xưng niệm Nam mô A Di Đà Phật) một cách chân thành, thực hành duy nhất cần thiết, thích ứng với mọi căn cơ, để được vãng sanh Tịnh độ.
Bài văn này được xác thực bằng dấu vân tay của Pháp Nhiên để ngăn ngừa sự hiểu sai lệch. Nó đóng vai trò là một kinh điển quan trọng đối với Tịnh độ tông Nhật Bản, và ảnh hưởng đến Tịnh độ Chân tông của Thân Loan Thánh nhân, nhấn mạnh đức tin và tha lực hơn là các thực hành xen tạp.
Bài văn này có thể được chia thành bảy phần: 1. Xem xét điều sai;
2. Chỉ ra điều đúng; 3. Giải nghi; 4. Tuyên thệ; 5. Khuyên răn; 5. Ấn chứng; 6. Phó chúc.
Tác giả và ngày tháng: Ngày 23 tháng 1 năm 1212, Pháp Nhiên Thượng nhân đã đọc cho đệ tử Nguyên Trí (源智 , Genchi1183–1238) ghi lại Nhất mai khởi thỉnh văn, một bản ghi chép những giáo lý cốt lõi của ngài, và hai ngày sau đó, vào ngày 25, ngài viên tịch ở tuổi 80.
Mục đích: Bài văn này chỉ gồm chưa đến 300 từ, tóm tắt những điểm cốt lõi mà Pháp Nhiên Thượng nhân đã giảng dạy suốt cuộc đời, và ngăn ngừa sự sai lệch về giáo lý ở tương lai.
Giáo lý cốt lõi: Niệm Phật (xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật) là đủ để được sanh vào Tịnh độ, không cần thiết phải suy ngẫm hoặc nghiên cứu phức tạp.
Tính bình đẳng: Nhấn mạnh rằng ngay cả một người ngu dốt không biết chữ cũng có thể đạt được sự cứu độ thông qua việc niệm Phật chân thành, trái ngược với các thực hành tu viện dành cho giới thượng lưu.
Tính xác thực: Được niêm phong bằng dấu vân tay màu đỏ son của Pháp Nhiên, đóng vai trò như một bằng chứng vật chất.
Ý nghĩa: Trở thành một văn bản kinh điển, khẳng định con đường độc nhất của Lời nguyện thứ 18 của Đức Phật A Di Đà và tạo thành nền tảng cho Tịnh độ tông và Tịnh độ Chân tông.
Thông điệp cốt lõi: Pháp Nhiên tuyên bố rằng ông không dạy bất kỳ con đường nào khác, và ngay cả việc nghiên cứu sâu rộng các giáo lý Phật giáo khác cũng không cần thiết; chỉ cần phó thác bản thân cho Đức Phật A Di Đà và chân thành tha thiết niệm Phật, hiểu rằng đức tin đảm bảo sự vãng sanh, trong khi thực hành kiên trì sẽ củng cố đức tin đó.
Nguyên văn tiếng Nhật như sau:
唐土我朝に、もろもろの智者達の、沙汰し申さるる観念の念にもあらず。また学問をして、念のこころを悟りて申す念仏にもあらず。ただ往生極楽のためには南無阿弥陀仏と申して、うたがいなく往生するぞと思い取りて申す外には別の仔細候わず。ただし三心四修と申すことの候うは、皆決定して南無阿弥陀仏にて往生するぞと思ううちにこもり候うなり。この外に奥ふかき事を存ぜば、二尊のあわれみにはずれ、本願にもれ候うべし。念仏を信ぜん人は、たとい一代の法をよくよく学すとも、一文不知の愚鈍の身になして、尼入道の無知のともがらに同じうして、知者のふるまいをせずしてただ一向に念仏すべし。証のために両手印をもってす。浄土宗の安心起行この一紙に至極せり。源空が所存、この外に全く別義を存ぜず、滅後の邪義をふせがんがために所存をしるし畢んぬ。建暦二年正月二十三日大師在御判
Dịch Việt:
(1) Không phải là niệm Phật theo lối ‘quán niệm’2 mà nhiều bậc trí giả ở Trung Quốc và Nhật Bản đã tuyên dương; cũng không phải là niệm Phật được thực hành sau khi học hỏi kinh điển và tỏ ngộ tâm tánh3.
(2) Không có con đường nào khác để vãng sanh Cực Lạc ngoài việc xưng niệm ‘Nam mô A Di Đà Phật’ và tin tưởng không chút nghi ngờ rằng mình sẽ được vãng sanh.4
(3) Cái gọi là ‘ba tâm’5 và ‘bốn tu’6 đều bao hàm trong niềm tin rằng, ‘Xưng niệm Nam mô A Di Đà Phật chắc chắn sẽ được vãng sanh’.
(4) Nếu tôi biết điều gì sâu xa hơn đạo lý này7, thì tôi sẽ đánh mất lòng từ bi của Hai đấng tôn kính8 và bỏ lỡ sự cứu độ của Bản nguyện9.
(5) Một người tin vào sự niệm Phật, dù có thể thông suốt giáo pháp một đời của Đức Phật, vẫn nên tự coi mình là kẻ ngu dốt không biết một chữ, đồng hàng với người mới nhập đạo thiếu hiểu biết, đừng tỏ ra là bậc trí giả, chỉ nên nhất hướng niệm Phật.
(6) Tôi ấn hai dấu tay để xác chứng. (7) Sự ‘an tâm khởi hành’10 của Tịnh độ tông được tryền đạt trọn vẹn ở mảnh giấy này. Nguyên Không không có giáo lý nào khác ngoài điều này. Để tránh hiểu sai sau khi tôi qua đời, tôi lập di huấn sau cùng này.
Ngày 23 tháng 1, năm thứ hai của niên hiệu Kiến Lịch (1212) Đại Sư đã đóng dấu
1 Khởi thỉnh văn (起請文 , kishōmon) là một loại văn bản trong đó người viết thề trước các vị thần và Đức Phật rằng những lời tuyên bố của họ là sự thật và không hề sai trái. Vào thời Edo (1603-1868), ngay cả những người dân thường cũng thường viết kishōmon.
2 Quán niệm: Quán tưởng Đức Phật A Di Đà và Tịnh độ Cực Lạc.
3 Tịnh độ Cực Lạc không ở đâu xa xôi, mà ngay trong tâm thanh tịnh của mỗi người. Trong Cư Trần Lạc Đạo phú, Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông viết: “Tịnh độ là lòng trong sạch, đâu còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”. Trong Di Đà Yếu Giải, Đại sư Ngẫu Ích gọi sự niệm Phật đó là “niệm tự Phật”.
4 Pháp Nhiên Thượng nhân đã đọc rất nhiều sách từ các trường phái kinh điển và luận thuyết khác nhau, nhưng ông vẫn không thể nắm bắt được ý nghĩa cốt yếu của sự giải thoát. Sau 25 năm dài đằng đẵng và đầy tuyệt vọng tìm kiếm sự giải thoát, ở tuổi 43, Pháp Nhiên Thượng nhân đã bị thu hút bởi đoạn văn sau đây trong Quán Kinh Sớ (觀經疏 ) của Đại sư Thiện Đạo: “Người nào nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Di Đà, khi đi đứng nằm ngồi chẳng kể thời tiết xa gần, niệm niệm không buông, đây gọi là chánh định nghiệp, bởi lẽ thuận theo bản nguyện của Đức Phật kia.” (No.1753, tr.272b06) Pháp Nhiên Thượng nhân đột nhiên giác ngộ ý nghĩa cốt lõi của lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, tâm trí mở rộng, ông thốt lên: "Ngay cả một phàm phu chất chứa nhiều tội lỗi và vọng tưởng, cũng chắc chắn đạt được sự vãng sanh vào Báo độ nhờ cường duyên của bản nguyện lực của Đức Phật A Di Đà." Pháp Nhiên cảm thấy như mình đã tìm thấy một ngọn đèn trong đêm tối. Từ đó trở đi, ông từ bỏ tất cả các pháp tu khác mà ông đã tu tập trong nhiều năm và chỉ tập trung vào việc niệm Phật.
5 Ba tâm theo Đại Kinh là ba tâm của nguyện thứ 18: chí tâm, tín lạc tâm và dục sanh tâm. Còn ba tâm nói trong Quán Kinh là: (1) Chí thành tâm; (2) Thâm tâm; (3) Hồi hướng phát nguyện tâm.
6 Tịnh độ tông đề cập đến bốn hạnh tu của hành giả niệm Phật. Theo giải thích của Vãng Sanh Lễ Tán, bốn tu là: (1) Cung kính tu: là cung kính lễ lạy Đức Phật A Di Đà và tất cả Thánh chúng. (2) Vô dư tu: là chuyên xưng danh hiệu Đức Phật A Di Đà, và chuyên niệm chuyên tưởng đến tất cả Thánh chúng, không xen lẫn các thực hành khác. (3) Vô gián tu: là cung kính lễ lạy, xưng danh tán thán, ức niệm quán sát, hồi hướng phát nguyện bằng tâm tâm tương tục, không bị gián đoạn bởi các thực hành khác hoặc bởi những phiền não như tham lam và giận dữ. (4) Trường thời tu: là ba sự thực hành trên phải được tiếp tục cho đến trọn đời, với ý định không bao giờ ngừng lại.
7 Một số người nghe có lẽ đã nói: "Pháp Nhiên Thượng nhân nói rằng đối với những người ngu muội như chúng ta, chỉ cần niệm Nam mô A Di Đà Phật là đủ, nhưng chắc chắn Pháp Nhiên Thượng nhân, người có trí tuệ siêu việt, phải biết điều gì đó sâu xa hơn và chỉ là không muốn dạy cho những người ngu muội như chúng ta." Vì vậy, Pháp Nhiên Thượng nhân đã thề rằng: "Không, điều đó không đúng. Nếu tôi biết điều gì đó sâu xa hơn thế này mà lại không chia sẻ với mọi người, thì tôi sẽ không ngại bị Đức Phật A Di Đà và Đức Phật Thích Ca từ bỏ!" Đây là lý do tại sao Nhất mai khởi thỉnh văn lại là một bản tuyên thệ. Nhất mai khởi thỉnh văn là một văn bản mà Pháp Nhiên Thượng nhân đã thề với Đức Phật A Di Đà và Đức Phật Thích Ca, tuyên bố đạo lý rằng: "Thật sự chỉ cần xưng niệm Nam mô A Di Đà Phật là đủ để đạt được sự vãng sanh."
8 Nhị tôn: Đức Phật A Di Đà và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
9 Bản nguyện là 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nhưng quan trọng nhất là Nguyện thứ 18.
10 An tâm khởi hành tác nghiệp (安心起行作業 ): Nói tắt là Tâm hành nghiệp. Là tiếng dùng trong môn Tịnh độ, bao quát tâm, hành và tu tướng. Có xuất xứ từ Vãng Sanh Lễ Tán (Đại 47, 438 hạ) của ngài Thiện Đạo: Nay muốn khuyên người ta vãng sanh, thì nên biết, nếu làm được an tâm, khởi hành, tác nghiệp thì nhất định sẽ được vãng sinh sang nước ấy. (1) An tâm: chỉ chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, hoặc chỉ chí tâm, tín lạc, dục sinh, ba tâm nói trong kinh Vô Lượng Thọ, hoặc chỉ nhất tâm trong kinh A Di Đà. (2) Khởi hành: tức do đã an tâm mà phát khởi tu hành ba nghiệp thân, khẩu, ý, như tu năm niệm môn là lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát, hồi hướng, và tu năm chánh hành là tụng đọc, quán sát, lễ bái, xưng danh và tán thán cúng dường. (3) Tác nghiệp: là nghĩa tạo tác, chỉ việc xúc tiến tu hành các pháp môn ba tâm, năm niệm, cũng tức là siêng năng chăm chỉ làm bốn pháp tu, là cung kính tu, vô dư tu, vô gián tu và trường thời tu. Bởi vì an tâm là chánh nhân của sự vãng sanh Tịnh độ, nên đã do an tâm mà khởi hành rồi, lại thêm trường thời vô gián (tức tu liên tục, tu lâu dài, không ngừng nghỉ, không gián đoạn) nữa, thì chắc chắn sẽ được vãng sanh thế giới Cực Lạc.
Bản PDF: Nhất Mai Khởi Thỉnh Văn