Ngự Văn Chương (御文章 , Gobunshō), một tuyển tập những bức thư của Liên Như (蓮如 , Rennyo, 1415–1499) gồm năm thiếp, còn gọi là Liên Như Thượng Nhân Ngự Văn (蓮如上人御文 ), được thu tàng trong Đại Chánh Tạng, tập 83, No. 2668. Phái Bản Nguyện Tự gọi là Ngự Văn Chương, trong khi phái Đại Cốc chỉ gọi là Ngự Văn hoặc Ngũ Thiếp Tiêu Tức (五帖消息 ). Đây là tuyển tập tám mươi bài pháp ngữ của Liên Như, người phục hưng Tịnh độ Chân tông Nhật Bản, thuyến pháp khai thị cho tăng ni và cư sĩ. Nửa đầu được viết khi ông đang trú tại Đạo tràng Cát Khi (Yoshizaki). Lời văn bình dị, tông nghĩa quảng bác, phù hợp cho các khóa tụng sớm chiều,
Liên Như đã sử dụng Ngự Văn Chương để hoằng dương Tịnh độ Chân tông, ví dụ, ngài sẽ viết một bức thư cho một đệ tử ở một vùng nào đó. Vì hầu hết người dân Nhật Bản thời đó đều mù chữ, nên một người biết chữ sẽ đọc to bức thư đó để mọi người có thể nghe hiểu giáo nghĩa của Tịnh độ Chân tông.
Trong Thiếp 5, Chương 10 Thánh Nhân Nhất Lưu: “Chỉ thú khuyến hóa của Thánh nhân là lấy tín tâm làm nền tảng. Vì vậy, từ bỏ mọi tạp hành và nhất tâm quy mạng A Di Đà Như Lai, sự vãng sanh Tịnh độ của chúng ta được Đức Phật quyết định ngang qua nguyện lực bất khả tư nghị.
Giai vị này được giải thích là ‘nhất niệm phát khởi’. Việc xưng danh niệm Phật sau đó nên được hiểu là niệm Phật như một cách đền đáp ân đức của Đức Phật, vì Ngài đã quyết định sự vãng sanh của chúng ta.
Khiêm tốn và tôn kính.”
Đây là bức thư ngắn nhất, nhưng rất quan trọng trong 80 bức thư của Ngự Văn Chương.
Bức thư nổi tiếng nhất là Bạch Cốt (Thiếp 5, Chương 16), phản ánh sự vô thường của cuộc sống và tầm quan trọng của việc nương tựa vào bản nguyện của Đức Phật A Di Đà. Bức thư này thường được đọc to trong các tang lễ của Tịnh độ Chân tông.
Thiếp 5, Chương 13, Danh Hiệu Sáu Chữ: “Danh hiệu ‘Nam mô A Di Đà Phật’ chỉ có sáu chữ, nên có vẻ không có công năng thù thắng nào, nhưng sáu chữ danh hiệu này chứa đựng lợi ích quảng đại, công đức vô thượng thậm thâm, không có cùng cực. Do đó, nên biết rằng, sự có được tín tâm cũng bao hàm trong sáu chữ này, và không có tín tâm nào ngoài sáu chữ này.” Vào thời điểm đó, có nhiều tông phái Phật giáo khác nhau ở Nhật Bản, bao gồm Chân Ngôn Tông, Nhật Liên Tông, Thiên Thai Tông, v.v. Chân Ngôn Tông niệm ‘Nam mô Đại Sư Biến Chiếu Kim Cương’, Nhật Liên Tông niệm ‘Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh’, và Thiền Tông niệm ‘Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật’ hay ‘Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát’. Có rất nhiều Phật danh và chú ngữ, nhưng danh hiệu sáu chữ ‘Nam mô A Di Đà Phật’ hoàn toàn khác biệt. Liên Như Thượng nhân muốn nói gì? Danh hiệu sáu chữ này hàm chứa công đức vô thượng và công đức vô lượng của Đức Phật A Di Đà, phàm phu chúng ta không thể tưởng tượng nổi, công đức lực ấy dung chứa trong danh hiệu sáu chữ này.
Khi nói về công đức và lợi ích, đây là con đường xuất ly sanh tử, đây là phương pháp giải thoát sanh tử: "Đừng lo, ta sẽ đến cứu độ con. Tất cả công đức của ta đều dành cho con. Hãy thọ dụng công đức để thành Phật.” Đây là sự kết tinh của tâm đại từ đại bi của A Di Đà Như Lai. Đoạn đầu của Chương 13 này bàn về công đức của danh hiệu sáu chữ. Trong đoạn thứ hai, Liên Như Thượng nhân trích dẫn lời giải thích của Đại sư Thiện Đạo về sáu chữ ‘Nam mô A Di Đà Phật’: “Nói Nam mô, tức là quy mạng, cũng có nghĩa là phát nguyện hồi hướng; nói A Di Đà
Phật, tức là hành của người ấy. Dựa vào nghĩa này mà khẳng định người ấy sẽ được vãng sanh.”
Đại sư Thiện Đạo đọc tụng ba bộ kinh Tịnh độ, và xác quyết rằng chỉ có ‘nhất hành niệm Phật’ mới là con đường giải thoát. Sau đó, ngài đã hoằng dương giáo pháp Tịnh độ ở Trường An. Đại sư Thiện Đạo chuyên tu niệm Phật, nhưng tại Trường An, kinh đô lúc bấy giờ, ngài đã bị các tông phái Phật giáo khác công kích. Thời đó, các tác phẩm của Bồ tát Vô Trước như Du Già Sư Địa Luận, Nhiếp Đại Thừa Luận, v.v. nói rằng chúng sanh phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp mới thành Phật. Các tông phái khác có niệm Phật, coi ‘Nam mô’ là ‘quy mạng’, nhưng cho rằng việc niệm Phật chỉ có nguyện, không có hành. Do đó, pháp môn niệm Phật bị công kích về điểm này.
Đại sư Thiện Đạo đã trả lời như thế nào? Ngài giải thích rằng, ‘Nam mô’ có nghĩa là ‘quy mạng’, là ‘phát nguyện’. Do đó, ‘Nam mô’ hàm ý cả ‘quy mạng’ và ‘phát nguyện’, trong khi ‘A Di Đà Phật’ có nghĩa là ‘tu hành’. Do đó, danh hiệu sáu chữ này kết hợp cả nguyện và hành. Sau khi Đại sư Thiện Đạo nói lời này, việc niệm Phật bắt đầu phát triển và thịnh vượng. Do đó, cách diễn giải sáu chữ này mang ý nghĩa sâu sắc.
Ngự Văn Chương của Liên Như thường được đọc cùng với Chánh Tín Niệm Phật Kệ của Thân Loan, không chỉ trong các thời khóa hàng ngày mà còn trong các buổi lễ của Tịnh độ Chân tông, để ca ngợi ân đức của Đức Phật A Di Đà, và do đó, hai kinh văn này được đặt trên hầu hết các bàn thờ gia đình của các tín đồ Chân tông.
Liên Như (蓮如 , Rennyo) sanh ngày 25 tháng 2 năm 1415 tại Kyoto, là con trai cả của Tồn Như, vị sư trụ trì thứ bảy của Bản Nguyện Tự (本願寺 , Hongwanji). 152 năm sau khi Thân Loan (1173-1263) viên tịch, trong giai đoạn
hỗn loạn của Nhật Bản dưới thời kỳ Muromachi (1336-1573), mặc dù Bản Nguyện Tự là tổ chức Phật giáo lớn nhất Nhật Bản, nhưng khi Liên Như ra đời, nó lại quá nhỏ để công chúng biết đến. Người ta nói rằng những năm tháng dưới thời bốn vị tiền bối của Liên Như: Thiện Như (善如 , Zennyo, 1333-1389), Xước Như (綽如 ,
Shakunyo, 1350-1393), Xảo Như (巧如 , Gyonyo, 1376-1440) và Tồn Như (存如 , Zonnyo, 1396-1457), là thời kỳ đen tối của Bản Nguyện Tự. Điều này có nghĩa là Bản Nguyện Tự ở trong tình trạng suy tàn đáng kể vào thời điểm Liên Như ra đời.
Không có thông tin đáng tin cậy nào về người phụ nữ đã sanh ra Liên Như. Mẹ ruột của Liên Như, người được cho là hầu gái của mẹ Tồn Như, đã rời khỏi Bản Nguyện Tự đến một nơi không xác định khi Liên Như mới sáu tuổi. Nguyên nhân là do Tồn Như, cha của Liên Như, đã chính thức kết hôn với một người phụ
nữ tên là Nyoen, khiến mẹ của Liên Như không thể tiếp tục ở lại Bản Nguyện Tự. Theo ghi chép về cuộc đời của Rennyo, được gọi là Liên Như Thượng Nhân Di Đức Ký (蓮如上人遺德記 , Rennyo Shonin Itokuki), người mẹ đã nói với đứa con sáu tuổi của mình, bộc lộ những điều trong lòng: “Mẹ mong muốn rằng trong suốt
cuộc đời của đứa trẻ này, nó sẽ khôi phục lại truyền thống của Đại sư Thân Loan.” Với những lời này, bà đã lên đường đến một nơi không xác định vào ngày 28 tháng 12 năm 1420. Rõ ràng, Liên Như đã coi mong muốn của mẹ mình là Chương tiêu cả đời để đạt được. Thật là một bi kịch lớn đối với Liên Như khi phải xa mẹ ruột ở giai đoạn đầu đời như vậy. Liên Như đã tiếp tục tìm kiếm mẹ mình trong suốt quãng đời còn lại, nhưng những nỗ lực tuyệt vọng này đã không thành công.
Hậu quả của sự kiện đau buồn này là Liên Như được mẹ kế Như Viên (如圓 , Nyoen) nuôi dưỡng và trải qua những năm tháng khó khăn khi bị mẹ kế ngược đãi, đặc biệt là sau khi bà sanh con trai riêng tên là Ứng Huyền (應玄 , Ogen, kém Liên Như 19 tuổi) và ba cô con gái. Như đã đề cập trong Ngự Nhất Đại Văn Thư (御一代聞書 , Goichidai Kikigaki), Liên Như nhớ lại tuổi thơ của mình và thú nhận rằng những năm đầu đời của ông đầy đau khổ và buồn phiền liên quan đến việc nhà.
Mặc dù gặp khó khăn do bị mẹ kế ngược đãi trong một môi trường sống cực kỳ nghèo nàn trong những năm đầu đời, Liên Như vẫn quyết tâm khôi phục lại giáo nghĩa của Thân Loan theo lời dặn dò cuối cùng của mẹ ruột khi ông 15 tuổi.
Liên Như được thế độ xuất gia tại Thanh Liên Viện (青蓮院 , Shōrenin), một ngôi chùa nhánh của phái Thiên Thai ở Kyoto, khi ông 17 tuổi (1431). Không có ghi chép nào cho thấy Liên Như đã từng học Phật pháp trên núi Tỷ Duệ như Thân Loan. Vì vậy, Liên Như hẳn đã tự mình nghiên cứu gần như toàn bộ kinh điển của Tịnh độ Chân tông bằng cách chép tay các tác phẩm của Thân Loan, chẳng hạn như Tịnh Độ Tam Kinh Vãng Sanh Văn Loại, Tam Thiếp Hòa Tán, Ngu Ngốc Sao, Mạt Đăng Sao và nhiều tác phẩm Tịnh độ Chân tông khác, bao gồm những tác phẩm do Giác Như (覚如 , Kakunyo, 1270-1351) và con trai ông là Tồn Giác (存覚 , Zonkaku, 1290-1373) biên soạn, dưới sự chỉ đạo của cha mình là Tồn Như, để hiểu giáo nghĩa của Tịnh độ Chân tông một cách chính xác và sâu sắc. Chính Liên Như là người đã nghiên cứu kỹ lưỡng Giáo Hành Tín Chứng (教行信證 , Kyōgyōshinshō, tên đầy đủ là Hiển Tịnh Độ Chân Thật Giáo Hành Chứng Văn Loại顕浄土真実教行証文類 ), một tác phẩm lớn của Thân Loan, khi ông đã chép lại tác phẩm đồ sộ này ít nhất sáu hoặc bảy lần trong đời. Ngoài ra, chính Liên Như là người đã khám phá ra Thán Dị Sao (歎異抄 , Tannishō, Lời than thở về dị thuyết).
Thời điểm chính xác kết hôn của Liên Như không được biết rõ. Vì con trai đầu lòng Thuận Như (順如 , Junnyo) của ông sinh năm 1442, Liên Như được cho là đã kết hôn với một người phụ nữ tên là Như Liễu (如了 , Nyoryo) khi ông 28 tuổi. Đây là một cuộc hôn nhân khá muộn vào thế kỷ 15 tại Nhật Bản. Con trai đầu lòng Thuận Như sanh cùng năm với cuộc hôn nhân đầu tiên của ông. Như Liễu qua đời, để lại bảy người con, khi Liên Như 41 tuổi.
Khi Tồn Như qua đời, Liên Như kế vị trụ trì Bản Nguyện Tự ở tuổi 43 vào năm 1457, dựa trên sự tiến cử mạnh mẽ của Như Tịnh (如淨 , Nyojo), em trai của Tồn Như. Đã có một cuộc tranh giành quyền kế vị trụ trì Bản Nguyện Tự sau Tồn Như, khi Ứng Huyền, con trai của mẹ kế Liên Như, được cho là sẽ đảm nhận vị trí trụ trì Bản Nguyện Tự. Quá phẫn nộ trước thất bại trong cuộc đấu tranh này, mẹ kế của Liên Như và con trai bà ta là Ứng Huyền đã lấy hết tài sản có thể bán được của Bản Nguyện Tự khi họ rời đi. Kết quả là, Liên Như phải bắt đầu lại từ đầu công việc của mình với tư cách là trụ trì thứ tám của Bản Nguyện Tự.
Với tư cách là trụ trì, Liên Như ngay lập tức mở rộng ảnh hưởng của Bản Nguyện Tự, nỗ lực truyền giáo đến các vùng đất bao quanh Kyoto [Đại hòa (Yamato), Sơn thành (Yamashiro), Nhiếp tân (Settsu), Hà nội (Kawachi), Hòa tuyền (Izumi)], điều này đã khiến Diên Lịch Tự (Enryaku-ji), ngôi chùa chính của phái Thiên Thai tọa lạc trên núi Tỷ Duệ, vô cùng bất bình. Tài chánh và sự bảo vệ chủ yếu được cung cấp bởi các tín đồ thuộc tầng lớp thợ thủ công từ các giáo đoàn ở tỉnh Cận Giang (Ōmi), một khu vực do các nhánh Phật Quang Tự (Bukkō-ji) và Cẩm Chức Tự (Kinshoku-ji) của Tịnh độ Chân tông thống trị. Liên Như đã từ chối đóng góp kinh phí bắt buộc cho Diên Lịch Tự, khoản kinh phí mà ông đáng lẽ phải đóng thay cho Thanh Liên Viện, vì khi đó Diên Lịch Tự là ngôi chùa chính của Thanh Liên Viện ở Kyoto. Trong thời gian đầu hoằng pháp, Liên Như thường phân phát kinh sách cho các giáo đoàn cũng như các bản khắc về Xưng niệm A Di Đà Phật, được gọi là Thập tự danh hiệu (Jūjimyōgō): “Quy Mạng Tận Thập Phương Vô Ngại Quang Như Lai” (Kimyō Jin Jippō Mugekō Nyorai: Con Quy Y Đức Như Lai Vô Ngại Quang Chiếu Khắp Mười Phương). Chẳng bao lâu sau, ảnh hưởng của Liên Như lan rộng đến tỉnh Tam Hà (Mikawa), một khu vực truyền thống do nhánh Chuyên Tu Tự của Tịnh độ Chân tông thống trị. Ông đã thực hiện điều này bằng cách xuất hiện nhiều lần tại các khu vực này và trình bày cho các nhóm người những bình luận và diễn giải riêng của mình về các tác phẩm của Thân Loan.
Các nhà sư của Diên Lịch Tự (Enryaku-ji, ngôi chùa chính của phái Thiên Thai tọa lạc trên núi Tỷ Duệ) đã nhận thấy những thành công của Liên Như ở các tỉnh xung quanh Kyoto. Vì vậy, các vấn đề bắt đầu tích tụ, và Liên Như hẳn đã biết rằng sự việc có thể sẽ kết thúc bằng bạo lực. Do đó, ông đã đến gặp thợ rèn bậc thầy Hạ Quang (Osafune Yoshimitsu) để rèn cho ông một thanh kiếm để tự vệ. Và hóa ra ông đã đúng: Vào tháng đầu tiên của Khoan Chánh thứ sáu (1465), tức là năm sau khi thanh kiếm được rèn, Diên Lịch Tự đã tuyên bố Liên Như là một ‘kẻ thù của Đức Phật’, và cử các nhà sư chiến binh đi phá hủy cơ sở của Liên Như khi đó, Đại Cốc Bản Nguyện Tự ở Kyoto. Động cơ thực sự của những cuộc tấn công này có thể là tài chính. Núi Tỷ Duệ có những lợi ích đáng kể ở Cận Giang, bao gồm bất động sản và doanh nghiệp, và cảm thấy họ cần phải ngăn chặn sự phát triển của Tịnh độ Chân tông trước khi họ cảm nhận được những tác động về kinh tế. Các nhà sư chiến binh lại được cử đi ba tháng sau đó và những người khác cũng làm theo và những ‘hoạt động’ này của Diên Lịch Tự đã đi vào lịch sử với tên gọi ‘Khoan Chánh Pháp Nạn’. Đôi khi Liên Như có thể hối lộ các nhà sư chiến binh nhờ sự giàu có của các giáo đoàn mà ông đã tiếp xúc trong khu vực, những lần khác, ông chỉ có thể chạy trốn vào phút cuối và nhờ sự hỗ trợ kịp thời của một người thợ đóng thùng đã nhìn thấy những kẻ tấn công, dẫn Liên Như ra phía sau chùa.
Sau các cuộc tấn công năm 1465, Liên Như đã cố gắng giành thêm sự ủng hộ từ các tín đồ địa phương có mối quan hệ với triều đình và Mạc phủ quá mạnh khi đó. Vào tháng 3 năm Ứng Nhân (1467), một hiệp định hòa bình đã được ký kết với Diên Lịch Tự, yêu cầu Liên Như phải từ chức trụ trì Bản Nguyện Tự. Ngoài ra, Nội chiến Ứng Nhân (Ōnin War) nổ ra vào tháng đó, làm suy yếu đáng kể Mạc phủ, và vì vậy Liên Như nhận ra rằng ông sẽ không có bất kỳ sự hỗ trợ nào của triều đình hoặc lực lượng bên ngoài để bảo vệ giáo đoàn của mình khỏi Diên Lịch Tự. Vì vậy, ông rời Kyoto và sống một cuộc sống du mục, cuối cùng xây dựng lại Bản Nguyện Tự ở phía bắc tỉnh Việt Tiền (Echizen), thu hút được rất nhiều tín đồ, và trở về Kyoto vào năm Văn Minh thứ bảy (1475) với một lượng tín đồ lớn đến nỗi Tỷ Duệ Sơn không còn là mối đe dọa đối với ông và Tịnh độ Chân tông.
Khi cân nhắc vị trí xây dựng lại Bản Nguyện Tự, Liên Như đã có một bước đi then chốt và quyết định xây dựng nó càng xa ảnh hưởng của núi Tỷ Duệ càng tốt, bằng cách xây dựng lại Bản Nguyện Tự ở Việt Tiền (nay là tỉnh Fukui), tại một ngôi làng tên là Cát Khi (吉崎 ,Yoshizaki) bắt đầu từ năm 1471. Đây là một khu
vực hẻo lánh, thuận tiện nằm gần tuyến đường ven biển, với một số phái Tịnh độ Chân tông đã có mặt từ trước. Ban đầu, Liên Như hoằng pháp cho các giáo đoàn này bằng hình thức thuyết giảng, nhưng cuối cùng chuyển sang hình thức thư tín (ngự văn御文 , ofumi) hay còn gọi là gobunsho (ngự văn thư御文書 ) một cách
chính thức hơn. Những bức thư này tỏ ra hiệu quả vì chúng được viết bằng tiếng Nhật rõ ràng, dễ hiểu, có thể đọc trước giáo đoàn và có hiệu quả trong việc làm sáng tỏ ý nghĩa của giáo nghĩa nguyên thủy của Thân Loan. Các thế hệ sau đã biên soạn các thư tín và do đó chúng đã trở thành một phần của nghi lễ Tịnh độ Chân tông kể từ đó. Khi Liên Như đến thăm các giáo đoàn, ông thường ngồi giữa giáo đoàn thay vì ngồi trên bục cao, điều này giúp ông được tôn trọng hơn.
Sau khi thành lập, Cát Khi, ngày nay được gọi là Cát Khi Ngự Phường (吉崎御坊 , Yoshizaki Gobō), đã phát triển mạnh mẽ và các tín đồ từ các tỉnh lân cận đã đến nghe Liên Như thuyết giảng. Giáo đoàn trở nên lớn mạnh đến mức trên đường đến Bản Nguyện Tự mới, có hàng trăm nhà trọ do các sư Chân tông dựng lên và điều hành để làm nơi trú ngụ cho khách hành hương.
Năm 1496, Liên Như tìm đến sự tĩnh lặng và lui về ẩn dật một vùng nông thôn ở cửa sông Điến Xuyên (Yodo), nơi ông xây dựng một tịnh thất nhỏ. Khu vực này nổi tiếng với "con dốc dài", hay "Ō-saka" (Đại Phản大阪 ) trong tiếng Nhật.
Tuy nhiên, sự cô lập của Liên Như không kéo dài lâu; tịnh thất của ông nhanh chóng phát triển thành một ngôi chùa và thị trấn chùa xung quanh khi các tín đồ tụ tập để tỏ lòng tôn kính và lắng nghe giáo lý của ông. Vào thời điểm Liên Như viên tịch ba năm sau đó (năm 1499), khu phức hợp này đã được biết đến với tên gọi Thạch Sơn Bản Nguyện Tự (Ishiyama Hongan-ji) và gần như đã hoàn thiện, trở thành ngôi tự viện kiên cố vĩ đại nhất trong lịch sử Nhật Bản.
Ngoài cảnh khốn đốn cùng cực mà Liên Như phải đối mặt khi kế vị trụ trì thứ tám của Bản Nguyện Tự, ông còn phải trải qua sự xa cách với những người thân yêu, tức là vợ con, tất cả đều lần lượt qua đời vì bệnh tật, trong suốt 85 năm cuộc đời. Kết quả là, Liên Như đã kết hôn với 5 người vợ, sanh được 13 người con trai và 14 người con gái cho đến cuối đời. Việc chúng ta thường thấy thuật ngữ Phật giáo ‘vô thường’ trong các tác phẩm của Liên Như là điều dễ hiểu vì một loạt những sự kiện đau buồn đã xảy ra trong cuộc đời ông.
Điều khiến Liên Như đau buồn nhất là cái chết của người con trai cả, Thuận Như, vì ông là người thông minh và được kỳ vọng sẽ kế vị Liên Như làm trụ trì thứ chín của Bản Nguyện Tự. Thuận Như qua đời ở tuổi 42 sau một thời gian dài lâm bệnh. Vì cái chết của người con trai cả, Liên Như đã yêu cầu người con trai thứ năm, Thật Như (實如 , Jitsunyo), kế vị mình làm trụ trì thứ chín của Bản Nguyện
Tự. Tuy nhiên, Thật Như đã miễn cưỡng tiếp quản trách nhiệm từ Liên Như vì thiếu tự tin. Liên Như đã mắng Thật Như thậm tệ và bảo Thật Như phải nghiên cứu kỹ lưỡng các bức thư của mình, nói rằng giáo nghĩa của Tịnh độ Chân tông không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác ngoài những bức thư mà ông đã viết.
Dù sao đi nữa, nửa đầu cuộc đời của Liên Như trước khi ông đảm nhận vị trí trụ trì thứ tám của Bản Nguyện Tự có thể được gọi là thời kỳ chuẩn bị cho việc viết những bức thư trong nửa đời sau của ông.
Thư từ được sử dụng như một phương tiện truyền bá trong nhiều tôn giáo. Ví dụ, trong Kitô giáo, nhiều bức thư do các tông đồ của Chúa Jesus Christ viết được ghi chép trong Tân Ước. Trong Phật giáo Nhật Bản, Nhật Liên (日蓮 ,
Nichiren, 1222-1282) đã viết nhiều thư cho các đệ tử của mình, và Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1263) cũng đã viết thư cho các tín đồ của mình trong những năm cuối đời (43 bức trong số đó được biên soạn thành Thân Loan Thánh Nhân Ngự
Tiêu Tức Tập親鸞聖人御消息集 , Goshosoku) để trả lời các câu hỏi của họ, chủ yếu về các vấn đề giáo lý. Liên Như đã chép lại 22 bức thư trong số 43 bức thư đó khi ông 33 tuổi và chắc hẳn đã quyết định viết thư vào thời điểm này bằng cách sử dụng cùng phương pháp truyền bá mà Thân Loan đã sử dụng.
Các bức thư của Liên Như được gọi là "Ofumi" (nghĩa đen là bức thư có hậu tố kính cẩn) tại Đông Bản Nguyện Tự và "Gobunshō" tại Tây Bản Nguyện Tự. "Ofumi" (Ngự văn御文 ) là cách gọi phù hợp cho những bức thư này vì chính Liên Như gọi các bức thư của mình là "fumi" (viết thư, tài liệu). Tuy nhiên, tại Tây Bản Nguyện Tự, các bức thư bắt đầu được gọi là “Gobunshō” (Ngự Văn Chương御文章) vào thời của vị trụ trì thứ 14 là Tịch Như (寂如 , Jakunyo, 1651-1725), bởi vì tín đồ thời đó không tôn trọng các bức thư, chỉ gọi chúng là “fumi” một cách thiếu tôn trọng.
Có 266 ‘bức thư của Liên Như’ còn tồn tại. Bức thư đầu tiên được viết khi Liên Như 47 tuổi, và bức cuối cùng được viết chỉ bốn tháng trước khi Liên Như viên tịch ở tuổi 84. Trong số rất nhiều bức thư này, 85 bức được chọn lọc bởi một trong những cháu trai của Liên Như là Đan Như (丹如 , Ennyo) dưới sự hướng dẫn
của Thật Như, vị trụ trì thứ chín của Bản Nguyện Tự (cha của Đan Như), vì 85 bức thư này chứa đựng những giáo nghĩa quan trọng của Tịnh độ Chân tông. Trong số 85 bức thư đó, bốn bức được gọi là ‘Hạ Ngự Văn’ (夏御文 , Natsu Ofumi, bức thư
của mùa hè) và bức còn lại được gọi là ‘Ngự Tục Tánh Ngự Văn’ (御俗姓御文 , Gozokushō Ofumi, tóm tắt cuộc đời của Thân Loan). Năm bức thư này được trích từ 85 bức thư, và 80 bức thư còn lại được biên soạn và xuất bản thành năm tập với
tên gọi ‘Ngự Văn Chương’. Đan Như được cho là đã qua đời ngay sau khi hoàn thành tác phẩm này ở tuổi 32.
Chính trong thời kỳ của Chứng Như (證如 , Shōnyo, 1516–1554), vị trụ trì thứ mười của Bản Nguyện Tự, bộ sưu tập này đã được in ấn (con dấu của sư được đóng vào ấn bản Taishō); kể từ đó, nó đã được phân phối rộng rãi trong cộng đồng Chân tông. Tám mươi lăm bức thư này được đưa vào tập thứ ba của Chân Tông Thánh Giáo Toàn Thư (真宗聖教全書 , Shinshū shōgyō zensho, Kyoto: Ōyagi
Kōbundō, 1969–70) và cũng có trong nhiều ấn bản khác nhau của Chân tông Thánh điển. Bộ sưu tập thư từ còn tồn tại chính là Liên Như Thượng Nhân Di Văn (蓮如上人遺文 , Rennyo Shōnin ibun, Kyoto: Hōzōkan, 1948; tái bản năm 1983)
của Inaba Masamaru, bao gồm 221 bức thư được cho là xác thực và, trong chừng mực có thể, được liệt kê theo thứ tự thời gian.
Ngự Văn Chương được chia thành năm thiếp, trong đó bốn thiếp đầu được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Thiếp Một chứa 15 bức thư được viết từ 15/7/Văn Minh 3 (1471) đến 22/9/Văn Minh 5 (1473), ở đạo tràng Cát Khi (Yoshizaki) vùng Bắc Lục (Hokuriku). Mười lăm bức thư trong Thiếp Hai cũng là ở Cát Khi, viết từ 8/12/Văn Minh 5 (1473) đến 9/7/Văn Minh 6 (1474). Thiếp Ba có 13 bức thư được viết từ 14/7/Văn Minh 6 (1474) đến 18/7/Văn Minh 8 (1476); 10 bức trong số này được viết ở Cát Khi, 2 bức từ Deguchi. Mười lăm bức thư trong Thiếp Bốn được viết trong khoảng thời gian từ 8/1/Văn Minh 9 (1477) đến 21/11/Minh Ứng 7 (1498), một năm trước khi Liên Như qua đời. Hai mươi hai bức thư trong Thiếp Năm không ghi ngày tháng; tuy nhiên, một số bức thư giống hệt với những đoạn trong các bức thư có ghi ngày tháng.
Đối tượng độc giả mà Liên Như hướng đến trong các bức thư của ông là những bà nội trợ ít học, đặc biệt là những người có con nhỏ. Vì những phụ nữ tương đối trẻ này đang bận rộn nuôi dạy con cái, Liên Như đã cố gắng hết sức để truyền đạt giáo nghĩa của Thân Loan cho họ theo cách dễ hiểu, ngay cả với những người ít học, chỉ cần nghe qua các bức thư của ông. Phương pháp truyền bá mà Liên Như sử dụng trong các bức thư của mình là chọn lọc một trăm điểm cốt yếu trong số một nghìn điểm, mười điểm trong số một trăm điểm, và một điểm trong số mười điểm, để ngay cả những người ít học cũng có thể hiểu giáo lý của Thân Loan một cách dễ dàng mà vẫn đúng đắn.
Vào thời kỳ cận đại của Nhật Bản, có những trí thức nổi tiếng thực hành niệm Phật, chẳng hạn như Fukuzawa Yukichi (1834-1901), người sáng lập Đại học Keio (Minato, Tokyo), và Nishida Kitaro (1870-1945), một triết gia nổi tiếng thế giới. Họ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ mẹ mình, người đã tận tâm truyền dạy Tịnh độ Chân tông qua ‘bức thư’ ngay từ khi con còn nhỏ. Ngoài ra, còn có những người được gọi là “Myōkōnin” (người xuất chúng, diệu hảo nhân妙好人 ) trong Tịnh độ Chân tông. Myōkōnin là những người ít học nhưng sống một cuộc đời tràn đầy niềm vui trong vòng tay đại từ bi của Đức Phật A Di Đà. Asahara Saichi (18501932) là một ví dụ điển hình, ông được giới thiệu trong nhiều tác phẩm của Tiến sĩ Daisetsu Suzuki, chẳng hạn như Linh Tánh Nhật Bản (Japanese Spirituality), Huyền học: Kitô giáo và Phật giáo (Mysticism: Christian and Buddhist ), v.v. Asahara Saichi là một trong những myōkōnin nổi tiếng nhất, là người khiêm tốn có đức tin thuần khiết vào Tịnh độ Chân tông. Là một người thợ làm Geta (Hạ đà下
駄, guốc gỗ truyền thống của Nhật Bản) ở một ngôi làng nhỏ, ông đã viết hàng ngàn câu thơ sống động, chân thật thể hiện những hiểu biết tôn giáo của mình. Rõ ràng, tất cả họ là sản phẩm của ‘Những bức thư của Liên Như’.
Liên Như đã khuyên các tín đồ Chân tông hãy xem những bức thư như là pháp do Đức Phật A Di Đà trực tiếp giảng dạy. Giáo nghĩa quan trọng nhất được truyền đạt xuyên suốt Ngự Văn Chương của Liên Như là tín tâm, chánh nhân để vãng sanh Tịnh độ, và việc xưng niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà là biểu hiện lòng biết ơn đối với tâm đại từ bi của Như Lai.
Liên Như dựa vào kệ tụng ca ngợi Bồ tát Long Thọ trong Chánh Tín Kệ: “Nhớ nghĩ Di Đà bản nguyện Phật Tự nhiên tức thời nhập Tất định Chỉ phải thường xưng Như Lai hiệu Để báo ơn hoằng thệ đại bi.”
Và cũng dựa đoạn văn sau đây trong Thán Dị Sao:
“Nhờ được quang minh của Đức Phật A Di Đà soi chiếu nên khi một niệm phát khởi, chúng ta tiếp nhận được tín tâm kim cương và được nhiếp vào địa vị Chánh định tụ. Vì vậy, một khi mạng sống kết thúc, [người ở địa vị Chánh định tụ] lập tức chuyển hóa những phiền não và ác chướng, tỏ ngộ Vô sanh pháp nhẫn. Nếu không có tâm nguyện từ bi này thì làm sao những kẻ tội lỗi với nghiệp chướng sâu nặng như chúng ta có thể thoát khỏi sanh tử? Nghĩ đến đây, cái gọi là xưng niệm A Di Đà Phật trọn một đời này đều là để báo đáp ân đức đại bi của Như Lai.”
Tín tâm là chí thành tâm, thâm tâm và hồi hướng phát nguyện tâm của Đức Phật A Di Đà. A Di Đà bắt nguồn từ hai thuật ngữ tiếng Phạn: Amitābha, có nghĩa là Vô lương quang, và Amitayus, có nghĩa là Vô lượng thọ. Nội dung của Tín tâm có hai phần: một là, Phật trí bất tư nghị của A Di Đà Như Lai được tượng trưng bằng ánh sáng vô ngại vô tận để thấy thật tướng của các pháp, và hai là, tâm đại từ đại bi của A Di Đà Như Lai được tượng trưng bằng sự sống vĩnh cửu để cứu độ tất cả chúng sanh vô điều kiện. Do đó, Tín tâm không phải là tâm được tạo ra và/hoặc nuôi dưỡng bởi những chúng sanh vô tri nông cạn như chúng ta, mà là tâm quang của A Di Đà Như Lai ban tặng như một món quà từ tâm đại từ đại bi cho những chúng sanh phiền não nghiệp chướng qua danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật”. Đây được gọi là Tha lực tín tâm. Khi Tha lực tín tâm được tiếp nhận mà không có bất kỳ trở ngại nghi ngờ nào, những chúng sinh vô tri nông cạn được đưa đến trạng thái quyết định, xác quyết về sự vãng sanh Tịnh độ. Nói cách khác, Tha lực tín tâm được xác định ngay lập tức khi chúng sanh vô tri nông cạn tiếp nhận nó mà không hề tính toán đến Tự lực. Do đó, tín tâm vào tha lực là nguyên nhân duy nhất và chân thật để phàm phu sanh về Tịnh độ Cực Lạc.
Trong số những bức thư do Liên Như viết, bức thư ngắn gọn nhất nhưng cũng được đọc nhiều nhất, có tựa đề Thánh Nhân Nhất Lưu:
“Chỉ thú khuyến hóa của Thánh nhân là lấy tín tâm làm nền tảng. Vì vậy, từ bỏ mọi tạp hành và nhất tâm quy mạng A Di Đà Như Lai, sự vãng sanh Tịnh độ của chúng ta được Đức Phật quyết định ngang qua nguyện lực bất khả tư nghị.
Giai vị này được giải thích là “Nhất niệm phát khởi, nhập Chánh định tụ”. Việc xưng danh niệm Phật sau đó nên được hiểu là niệm Phật như một cách đền đáp ân đức của Đức Phật, vì Ngài đã quyết định sự vãng sanh của chúng ta.
Khiêm tốn và tôn kính.” (5:10)
Xuyên suốt các bức thư, Liên Như đặt ‘tín tâm là nguyên nhân thực sự của sự vãng sanh’ trước và ‘xưng niệm danh hiệu như một biểu hiện của lòng biết ơn Phật’ sau. Hai điều này không thể tách rời nhau. Bởi vì tín tâm là chánh nhân vãng sanh, và niệm Phật là để đền đáp ơn Phật, hoặc ngược lại. Chỉ niệm danh hiệu mà không có tín tâm thì không thể vãng sanh Tịnh độ. Lý do Liên Như nhấn mạnh tầm quan trọng của tín tâm, chánh nhân vãng sanh, là vì có quan điểm, chỉ cần xưng niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà thì được cứu độ, được vãng sanh. Một quan điểm sai lầm như vậy rất phổ biến trong số những người tu theo Tịnh độ vào thời đó, được thúc đẩy bởi phái Trấn Tây (鎮西 ) của Thánh Quang (聖光 ). Ngoài ra, nổi bật trên khắp cả nước vào thời đó là phái Thời Tông (時宗, Ji-shū ) do Nhất Biến Thượng nhân sáng lập, một nhánh Tịnh độ khác của Pháp Nhiên Thượng nhân, đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến những người tu theo Tịnh độ, như một quan điểm khác biệt về giáo nghĩa của Thân Loan. Liên Như thẳng thừng phủ nhận việc xưng danh là chánh nhân cho sự cứu độ, và khôi phục lại giáo nghĩa của Thân Loan, nhấn mạnh rằng Tín tâm là nguyên nhân duy nhất và thực sự dẫn đến sự vãng sanh Cực Lạc trong Tịnh độ Chân tông. Ví dụ, trong bức thư có tựa đề Sanh Tử Thịnh Suy, Liên Như viết:
“Tâm lý của người đời là chỉ cần xưng niệm ra tiếng “Nam mô A Di Đà Phật” thì có thể vãng sanh Tịnh độ. Điều này hoàn toàn không đúng.” (3:4)
Một ví dụ khác là bức thư có tựa đề Thánh Nhân Kỵ Thần với nội dung:
“Người đời thường tin rằng chỉ cần niệm Phật là sẽ được vãng sanh Cực Lạc. Nhưng quan niệm này hoàn toàn không có căn cứ.” (5:11)
Như đã đề cập trước đó, giáo nghĩa được đưa ra trong tất cả các bức thư đó đều nhất quán rằng tín tâm là nguyên nhân đích thực của sự vãng sanh, và việc xưng niệm danh hiệu là một biểu hiện của lòng biết ơn. Giáo nghĩa này có thể được tóm tắt lại là “Nhất niệm phát khởi, nhập Chánh định tụ.” Điều này được gọi là “Bình sanh nghiệp thành”, có nghĩa là ‘an tâm quyết định vào tha lực của Bản nguyện mà không cần phải đợi đến lúc lâm chung’, trái ngược với “Lai nghinh”, có nghĩa là ‘mong đợi Đức Phật A Di Đà đến đón rước vào lúc lâm chung’. Trong Tịnh độ Chân tông, sự cứu độ diễn ra tại đây và bây giờ, ngay cả những chúng sanh tội nghiệp sâu nặng, khi chúng ta tiếp nhận Tha lực tín tâm mà không có bất kỳ hoài nghi nào trong đời này. Không cần phải chờ đến lúc chết vì sự cứu độ đã được thực hiện ngay trong đời sống này.
An tâm là một dụng ngữ xuất hiện 50 lần trong các bức thư của Liên Như. An tâm, ám chỉ tâm trí mà trong đó ‘sự bình an vượt trên mọi hiểu biết’ được thiết lập một lần và mãi mãi, vượt qua mọi bóng tối nghi ngờ. An tâm, theo nghĩa đen là ‘tâm an định’ hoặc ‘tâm bình yên’, chỉ cho sự tín tâm chân thật vào Đức Phật A Di Đà, và vào ý tưởng về sự ‘đảm bảo’ hay ‘quyết định’ cho sự vãng sanh Cực Lạc của hành giả niệm Phật.
Liên Như đã tích cực thuyết giảng về sự cứu độ người nữ và sự vãng sanh Tịnh độ của họ. Khi xem xét 80 bức thư của Liên Như, 28 bức thư đề cập đến người nữ. Có thể thấy bốn đặc điểm trong cách Liên Như nhìn nhận người nữ:
(1) Quan điểm nam nữ bình đẳng. Ví dụ, Liên Như viết: “Một nghĩa của Thân Loan Thánh nhân là … không có lựa chọn nam hay nữ, già hay trẻ.” (1:2). “Để đạt được tín tâm, không cần trí tuệ hay học thức. Vấn đề không phải là giàu sang hay nghèo hèn, người tốt hay kẻ ác, nam hay nữ.” (2:7).
(2) Quan điểm người nữ ngũ chướng tam tòng và kẻ thập ác ngũ nghịch là đồng đẳng. Ví dụ, “Tội nhân thập ác ngũ nghịch, hay là người nữ ngũ chướng tam tòng, đều là những phàm phu như chúng ta, đã bị bỏ rơi bởi bi nguyện của chư Phật mười phương ba đời.” (2:8). “Tìm hiểu kỹ về bản nguyện của chư Phật, biết rằng chư Phật không thể cứu được người nữ ngũ chướng hay kẻ ác ngũ nghịch. Vì lý do này, A Di Đà Như Lai đã tự phát lời thệ nguyện vô thượng thù thắng rằng, ‘Ta muốn cứu độ những phàm phu ác nghịch, những người nữ ngũ chướng’.” (4:3).
(3) Quan điểm người nữ sở hữu ngũ chướng và tam tòng không thể được cứu độ bởi chư Phật. Ví dụ, “Trước hết, thân tôi là người nữ, một thân có tội nghiệp sâu nặng, ngũ chướng, tam tòng, đáng hổ thẹn và đáng buồn thương. Đồng thời, tôi cũng là một người nữ bị chư Như Lai mười phương và chư Phật ba đời bỏ quên.” (1:10). “Người nữ có ngũ chướng và tam tòng, tội nghiệp ấy sâu nặng hơn người nam. Do đó, chư Phật trong mười phương không có pháp dụng nào để khiến người nữ thành Phật.” (5:7). Quan điểm này phổ biến nhất trong các bức thư của Rennyo.
(4) Quan điểm phụ nữ nhiều nghiệp chướng. Ví dụ, “Tất cả người nữ đều mang trong mình vô số tội nghiệp, ăn sâu bén rễ và không thể lý giải. Dù xuất thân cao quý hay thấp hèn, họ đều là những chúng sanh vô tri nông cạn.” (5:14) “Người nữ có tội chướng sâu, nghi tâm nặng.” (1:10)
Nếu Liên Như Thượng nhân không xuất hiện ở đời, thì Bản Nguyện Tự ngày nay có lẽ đã không còn tồn tại nữa, hoặc thậm chí nếu nó còn tồn tại, cũng khó mà tìm được vị thế của Bản Nguyện Tự ở Kyoto. Chưa từng có ai xây dựng một cơ sở tôn giáo lớn như Bản Nguyện Tự trong một khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ 30 đến 40 năm như Liên Như đã làm trong lịch sử các tôn giáo thế giới.
Hơn nữa, mặc dù giáo nghĩa của Thân Loan Thánh nhân rất vĩ đại, nhưng nếu không có Liên Như, người dân thường sẽ không thể tiếp cận được. Giáo Hành Tín Chứng, một tác phẩm quan trọng do Thân Loan viết, sẽ chỉ được một nhóm nhỏ giới học thuật nghiên cứu nếu Liên Như không xuất hiện. Nhờ sự xuất hiện của Liên Như, chúng ta có thể nghe được giáo nghĩa của Tịnh độ Chân tông.
Liên Như đã phân biệt rõ ràng giữa chánh pháp và những mê tín ma thuật thịnh hành ở Nhật Bản vào thế kỷ 15 (và thậm chí cả ngày nay). Nói cách khác, Liên Như đã dạy chúng ta về Thánh giáo thông qua các bức thư của ngài, dựa hoàn toàn trên giáo nghĩa của Thân loan Thánh nhân.
San Francisco, 4/8/2025 -PL. 2569
Phật tử Quảng Minh kính ghi