Thích Thiện Siêu
CƯƠNG YẾU GIỚI LUẬT
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo – 2002
XUẤT GIA HOẰNG PHẬT ĐẠO
Các giới tử,
Các vị có biết hiện tại chúng ta đang ở đâu không? Các vị có nghĩ rằng chúng ta sắp làm gì không? Đây không phải là một đại trai đàn làm chay, cũng không phải là nơi hội họp thường lệ, mà đây là đại trai đàn Thiện Hòa và các vị đến đây để lãnh thọ Giới pháp của Phật. Đó là một điều hết sức quan trọng đối với đời xuất gia của các vị, mà cũng hết sức quan trọng đối với Phật pháp.
Là một người xuất gia, không phải ra khỏi nhà thế gian đến ở chùa là đủ. Nếu ra khỏi nhà thế gian đến ở chùa, thì chỉ mới xuất được thế tục gia, nhưng còn hai điều quan trọng khác là xuất phiền não gia và xuất tam giới gia chưa thành tựu được. Khi chưa thành tựu hai điều sau này thì điều xuất gia trước không có công đức và giá trị bao nhiêu! Bởi vì, có nhiều người dầu “đầu tròn, áo vuông”, nhưng họ là những người đến ở chùa làm công quả, và nếu căn cứ theo hình thức thì những vị đó cũng có thể gọi là xuất gia được, nhưng đó chỉ là xuất thế tục gia mà thôi. Cho nên, muốn xuất phiền não gia, xuất tam giới gia thì phải thọ trì giới pháp của Phật.
Là Phật tử, dù lại gia hay xuất gia, có hai điều cơ bản này mới thành một người Phật tử, đó là chánh kiến và tịnh giới. Người tại gia thọ trì Tam quy–tin Phật, tin Pháp, tin Tăng một cách đúng đắn, sâu sắc, bền vững, kiên cố thì họ thành tựu được chánh kiến. Một người tại gia khi đã quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới, giữ gìn năm điều luật giới tại gia của Phật chế là thành tựu được tịnh giới. Người tại gia thành tựu được chánh kiến và tịnh giới thì mới gọi là đệ tử của Phật, còn nếu không thành tựu, thì dầu xưng là Phật tử cũng chưa phải là Phật tử đúng nghĩa.
Tại gia đã vậy thì xuất gia cũng vậy, cũng phải có haì điều kiện cơ bản đó, là chánh kiến và tịnh giới. Thành tựu chánh kiến thì người xuất gia, người tại gia đều y như nhau, đều lấy Tam Bảo làm thầy; tôn thờ Phật, tôn thờ Pháp, tôn thờ Tăng làm lý tưởng cao cả của cuộc đời mình; nhằm vào đó, hướng vào đó làm mục đích để bước tới. Đó là thành tựu chánh kiến. Khi đã thành tựu chánh kiến, họ phải thành tựu tịnh giới. Nếu không thành tựu tịnh giới thì người xuất gia không thành người xuất gia. Giới tại gia có 5 giới; giới xuất gia Sa-di có 10 giới, Tỳ-kheo có 250 giới, Tỳ-kheo-ni có 348 giới. Đó là những pháp do Phật qui định cho người đệ tử của Phật. Khi muốn làm đệ tử Phật trong hàng xuất gia, phải thành tựu giới pháp tịnh giới thì mới trở thành được một người xuất gia đúng nghĩa.
Các vị hôm nay đã ở chùa nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, tức đã thành tựu được xuất thế tục gia. Và ngày mai các vị bước lên giới đàn để thọ trì giới pháp của Phật, để mong thành tựu được xuất phiền não gia, xuất tam giới gia, bấy giờ mới trọn vẹn chí nguyện xuất gia của mình. Cho nên từ giờ phút này, giờ phút sắp đến đâỳ là giờ phút hết sức quan trọng đối với đời xuất gia của các vị, mà cũng hết sức quan trọng đối với Phât pháp. Nếu các vị không thọ giới pháp, tức là các vị không hoàn thành được người xuất gia đệ tử Phật, không hoàn thành được một vị Sa-di, không hoàn thành được một vị Tỳ-kheo. Tự mình không hoàn thành Sa-di, Tỳ-kheo thì không thể gọi là xuất gia. Khi đã không trở thành người xuất gia thì không thể đảm đương Phật pháp, hoằng dương Phật pháp, bấy giờ Phật pháp cũng không hoàn thành được. Cho nên sự thọ giới này chẳng những quan trọng đối với đời sống cá nhân của các vị, mà cũng là quan trọng đối với Phật pháp. Như trong Luật, đức Phật đã dạy: “Khi nào, ở đâu mà còn có 10 thầy Tỳ-kheo truyền thọ giới, hoặc có 5 thầy cùng nhau truyền thọ giới pháp, thì bấy giờ Phật pháp tồn tại. Tỳ-ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ”. Hễ Tỳ-ni tạng còn đương trụ, nghĩa là còn có người truyền giới và còn có người giữ giới, thì tức nhiên giới luật còn; giới luật còn tức nhiên Phật pháp còn. Cho nên, việc thọ giới là một việc hết sức quan trọng. Vì vậy, trong giờ phút này, các vị nên xét lại tâm nguyện của mình, hãy phát một lòng hết sức chí thành chí kính, xả bỏ tất cả, quên hết tất cả những gì làm chướng ngại việc thọ giới, để hướng vào việc thọ giới.
Tâm của các vị được như vậy thì giới pháp, giới thể mới thành tựu trọn vẹn, viên mãn ở nơi các vị. Nếu tâm các vị không được như thế, không chí thành chí kính, không thấy đây là một điều quan trọng cho cá nhân xuất gia của mình và cho Phật pháp, thì dầu các vị có ở trước Thập sư, có dạ, có thưa thì không thể làm sao tròn được giới thể ở nơi các vị. Cho nên, trước khi các vị đăng đàn lãnh thọ giới pháp, các vị hãy gạn lọc tâm tư, xét lại lòng mình, phát một lòng tin hết sức dõng mãnh, tinh tấn đối với giới pháp, các vị mới lãnh thọ viên mãn được.
Nhưng vì sao các vị phải lãnh thọ giới pháp? Đức Phật dạy: “Giới luật của Phật có những công đức hết sức lớn lao”. Trong Luật đức Phật đã nêu lên 10 điều ích lợi để cho các đệ tử thấy rằng; các điều luật Phật chế không phải là chế suông, không có ý nghĩa; mà trái lại nó rất có ý nghĩa, rất có lợi ích cho những ai phát tâm muốn thọ trì. Mười điều đó là gì? Theo Luật gọi là 10 cú nghĩa. Nghĩa là 10 điều ích lợi.
Điều ích lợi thứ nhất: Nhiếp thủ ư Tăng. Có thọ trì giới luật mới được nhiếp thủ vào nơi Tăng đoàn. Có thọ trì giới luật mới được Tăng đoàn của Phật nhiếp trì cho. Nếu một người ở chùa chục năm, hai chục năm... mà không thọ giới thì vẫn là người cư sĩ, hoặc thọ giới Sa-di vẫn là Sa-di, chứ không thể gọi là Tỳ-kheo được Khi có thọ giới Tỳ-kheo mới nhiếp thủ vào Tăng đoàn, mới nhập vào Tăng số để trở thành một trong ba ngôi Tam Bảo, trở thành một vị chúng trung tôn. Cho nên giới pháp chính là cái để dắt dẫn chúng ta đi vào với Tăng đoàn, đi vào với ngôi vị chúng trung tôn. Thế nên, điều ích lợi của giới pháp là làm cho người xuất gia thọ giới được nhiếp thủ ư Tăng.
Điều ích lợi thứ hai: Linh Tăng hoan hỉ (Khiến Tăng hoan hỉ). Các điều giới của đức Phật chế ra làm cho người thọ trì được hoan hỉ. Một người thọ giới, người khác thọ giới, khi đã thọ giới Tỳ-kheo của Phật rồi, dầu người thọ giới mới một năm, hai năm, ba năm, cho đến người thọ giới 80 năm đi nữa, thì cũng đều có một Tăng thể giống như nhau. Cho nên mỗi lần Bố-tát, ở giữa chúng Tăng gọi là Đại đức Tăng. Đại đức Tăng là tiếng gọi toàn thể chung, chứ không phân biệt ông Tăng 70 hạ, 50 hạ, 40 hạ hay ông Tăng mới thọ giới. Dù người mới thọ giới cũng đều nằm trong Đại đức Tăng, không phân biệt gì hết, bởi vì giới thể là một–250 giới là một đối với Tăng, 348 giới là một đối với Ni. Khi một người đã thọ giới và giữ giới như vậy, tất nhiên ai thấy cũng vui mừng, hoan hỉ. Như một người đi tu mà thấy người khác đi tu như mình thì lấy làm hoan hỉ. Khi thọ giới rồi, cố gắng giữ giới, người này thấy người kia giữ giới thanh tịnh, hoan hỉ, người kia thấy người này giữ giới được thanh tịnh thì cũng hoan hỉ. Đó là một sự hoan hỉ trong giới luật, thấy được sự tiến bộ trong vấn đề tu trì của nhau, chứ không phải là một sự hoan hỉ vì thấy nhau làm những điều sai trái. Cho nên khi thọ giới rồi phải cố gắng tôn trọng giới, quý trọng giới, ai giữ được chừng nào thì công đức lớn lao chừng đó; nếu ai vì nghiệp duyên không giữ được nhiều thì người đó đã phạm cái giới của họ. Mặc dầu họ phạm giới, ta không thể khinh họ nhưng cũng không thể hoan hỉ với họ được. Nếu khi thấy một người phạm giới mà mình hoan hỉ theo, tức có nghĩa mình đã phụ họa theo sự phạm giới đó. Đó là sự hoan hỉ của Tăng, đúng nghĩa là một vị Tăng hoan hỉ trước sự thọ trì giới luật thanh tịnh.
Điều lợi ích thứ ba: Linh Tăng an ổn (Khiến Tăng an ổn). Giới pháp khiến cho Tăng đuợc an ổn. Tăng nhờ đâu mà an ổn? Khi thấy một người không thọ trì giới thì chính người đó đã có tội lỗi, khi thân, khẩu, ý đã có tội lỗi thì không những không thể an ổn cho chính người đó mà còn làm cho người khác phải khổ lây. Khi trong chúng Tăng, người này giữ giới thân, khẩu, ý được thanh tịnh, an ổn, người kia giữ giới thân, khẩu, ý được thanh tịnh, an ổn, thì sẽ có một chúng hội, một Tăng đoàn mà ai nấy đều sống trong giới pháp thanh tịnh, đều được an ổn như nhau, lấy sự trì giới thanh tịnh mà an ổn, chứ không phải lấy điều hơn thua, điều vật chất, địa vị mà an ổn. Thử hỏi, trong một đám đông từ hai người trở lên, hàng trăm hàng ngàn người mà nếu không có giới luật thì chúng Tăng đó có thể nào an ổn không? Không, chúng Tăng đó sẽ vô kỷ luật, sẽ vô hạnh. Khi chúng Tăng vô kỷ luật, vô hạnh thì chúng Tăng đó sẽ không an ổn; không an ổn cho từng cá nhân cũng như không an ổn cho cả đoàn thể. Cho nên giới của Phật có sự lợi ích thiết thực vô cùng là làm cho chúng Tăng an ổn, an lạc.
Điều ích lợi thứ tư: Linh vị tín giả tín (Khiên người chưa tin thì họ phát khởi lòng tin). Chúng ta biết rằng, Tăng là một trong ba ngôi Tam Bảo. Tăng là hình dáng, hình ảnh của Phật ở tại thế gìan. Tăng có trang nghiêm, có thanh tịnh thì bấy giờ Tăng mới thành là một Tăng Bảo; thành Tăng Bảo thì mới là chỗ quy ngưỡng và phát lòng tin cho tín đồ. Nhờ giới pháp mà một vị Tăng được thanh tịnh trang nghiêm, như hình ảnh của đức Phật hiện ra ở giữa thế gian.
Đức Phật đã diệt độ rồi, xa quá! Cần phải có hình ảnh của đức Phật sống động ở trong một vị Tăng có giới, có tuệ để làm nơi phát lòng tin Tam Bảo cho những người chưa tin. Khi một vị Tăng thanh tịnh hướng dẫn cho những người chưa tin, phát khởi lòng tin thì vị Tăng đó được chúng Tăng quý trọng và tín đồ hân hoan. Trái lại, khi có một vị Tăng không tu hành trang nghiêm, không thanh tịnh, không đứng đắn, thiếu kiến thức, không có lòng chánh tín Tam Bảo, chắc chắn vị Tăng đó sẽ phá hoại lòng tin của kẻ khác. Đối trước một vị Tặng không nghiêm túc, không thanh tịnh thì chẳng những người chưa tin đã không tin, mà người có tin rồi cũng sẽ thối thất.
Điều ích lợi thứ năm: Dĩ tín giả linh Tăng trưởng (Những người nào đã tin khiến cho họ được Tăng trưởng). Khi một vị Tăng giữ giới hạnh nghiêm túc, oai nghi đĩnh đạc, ngôn ngữ đàng hoàng, tâm tư rộng rãi, hiểu biết đúng đắn, vị Tăng đó chầc chắn khi người khác nhìn vào phải phát khởi lòng tin, và ai đã tin rồi thì chắc chắn sẽ Tăng trưởng thêm, kiên cố thêm chứ không bị thối thất. Sở dĩ có những tín đồ lúc đầu đến chùa hăng hái tin tường, nhưng thời gian sau bị thối thất, vì lẽ họ gặp chuyện nọ chuyện kia của riêng họ một phần, mà cũng có một phần đáng buồn là họ gặp những vị Tăng không đĩnh đạc, không đàng hoàng; vị Tăng đó chẳng những đã không lợi cho mình mà cũng không có lợi cho tín đồ, có nghĩa là không có lợi ích gì cho Phật pháp. Vậy biết rằng, một vị Tăng giữ giới luật nghiêm trang, thanh tịnh, thì đó là một hình ảnh sống động của đức Phật dẫu không toàn diện nơi thế gian, nhưng cũng đủ là nơi nương tựa cho Phật tử, họ đã tin rồi càng tin thêm, kiên cố vững chắc. Khi tín đồ càng tin Tam Bảo kiên cố vững chắc, thì đó là điều tốt lành để cho Phật pháp được phát huy, tồn tại.
Điều lợi ích thứ sáu:
Giới luật là chuẩn mực, là thước đo để đo hành vi, ngôn ngữ, phạm hạnh của mỗi người. Khi đã có giới luật, thì người nào phạm tới đâu xử trị tới đó; lấy giới luật mà xử trị phân minh, rõ ràng. Khi đó dù có ngoan cố, ương ngạnh đến đâu cũng phải bị điều phục. Nếu không điều phục được, thì theo Luật, chúng Tăng sẽ cử tội “mặc tẩn”, không cho nhập vào Tăng đoàn nữa. Như vậy, Tăng đoàn sẽ có người nhu thuận, chứ không còn có người ngoan cố, khó điều phục.
Điều lợi ích thứ bảy: Linh tàm quý giả đắc an lạc (Khiến người biết tàm quý được an lạc). Ngược với người khó điều phục bị điều phục bằng giới luật, thì người biết tàm quý, giữ gìn từng li từng tí để cho giới luật được trang nghiêm thanh tịnh, khi thấy một lỗi nhỏ cũng hết sức sợ hãi, thì người đó là người biết tàm biết quý. Người biết tàm quý mà giữ giới thì chính họ được thanh tịnh an lạc, cũng là niềm an lạc cho cả chúng. Cho nên, người biết tàm quý mới biết tránh tội lỗi, như trong Luận đã nói: “Có năm thứ thuộc tự tánh ác, đó là tham, sân, si, vô tàm và vô quý”. Là năm cái ác tự trong bản tính, năm cái ác gốc gây ra năm cái ác khác làm tai hại cho chúng, cho cá nhân, cho đến gia đình, xã hội. Trong đó vô tàm, vô quý–nghĩa là không biết hỗ và không biết thẹn, thì chính nó cũng là ác, nằm ngay trong bản thân, đó là cái ác gốc chứ không phải cái ác ngọn. Một người đã không có tâm tàm quý thì người đó phạm cũng không biết phạm; hoặc có biết phạm cũng không lấy làm hỗ thẹn; mà người đã không biếl hỗ thẹn thì không thể làm sao giữ gìn giới luật cho thanh tịnh được. Cho nên, người có tàm quý thì dù thấy mỗi một giới nào dẫu nhỏ nhặt tới đâu cũng trang nghiêm giữ gìn không dám phạm, bởi vì phạm thì thấy rất hỗ, rất thẹn. Và như vậy, không phạm thì tất nhiên là tâm được an lạc; an lạc cho mình và an lạc cho chúng. Ngược lại, một người không biết hỗ, không biết thẹn,cứ liều phạm giới, phá giới, chắc chắn người đó không tạo nên an lạc cho mình, cũng không tạo nên an lạc cho chúng.
Thiện tai đại trượng phu,
Năng liễu thế vô thường,
Khi tục thủ Nê-hoàn,
Công đức nan tư nghị.
Hủy hình thủ khí tiết,
Cát ái từ sở thân,
Xuất gia hoằng Phật đạo,
Thệ độ nhất thiết nhân....
Tạm dịch:
Lành thay bậc trượng phu,
Hiểu được đời vô thường,
Bỏ tục hướng Niết-bàn,
Công đức khó bàn nghĩ.
Hủy hình giữ khí tiết.
Cát ái từ người thân,
Xuất gia hoằng Phật đạo,
Thề độ hết chúng sinh...
Đó là đọc lời tán thán người xuất gia. Là một người có chí tiết trượng phu, nhận rõ được đời vô thường nhưng không sống với đời vô thường, mà lại biết tìm con đường giải thoát khỏi sự đau khổ của đời vô thường.
Vì vậy, trong Luật còn gọi người xuất gia, người tu sĩ là chiến sĩ. Chiến sĩ, tu sĩ này đánh với ai? Chiến sĩ đặc biệt này đang đánh với bốn thứ giặc: thiên ma (ma ba tuần), phiền não ma, ngũ ấm ma và tử ma (ma chết). Người xuất gia đánh bốn thứ giặc ấy bằng sự gìn giữ giới luật; nếu phạm giới là thua, là chiến sĩ bại trận. Vì vậy bốn Ba-la-di giới có khi gọi là tứ khí, vì phạm vào thì coi như cây Sa-la, cây dừa, cây cau bị chặt ngang rồi thì không sống được nữa; có khi gọi là tha thắng, vì phạm vào là bị thua và ma kia thắng.
Một chiến sĩ tu sĩ như vậy chẳng phải là một trượng phu sao? Không có chí tiết đại trượng phu thì không đánh nổi bốn thứ đó. Nhưng có được chí tiết đại trượng phu là khi nhận rõ được cuộc đời vô thường, chỉ trong nháy mắt với một tinh thần giác ngộ rõ ràng, người đó sẽ tìm cách để giải thoát sự vô thường đó. Đức Phật đã dạy rằng, có những người khác cũng biết rằng sinh, già, đau, chết nhưng họ không tìm đường để giải thoát khỏi chúng, còn Ta biết sinh, già, đau, chết nhưng Ta muốn tránh sự sinh, già, đau, chết đó, nên Ta xuất gia tìm đạo và được giác ngộ. Nếu tất cả người xuất gia tìm đạo không có chút nào nhận thức được lẽ vô thường đó, trái lại thứ chi cũng cố chấp, thứ chi cũng bám chặt, thứ chi cũng ham muốn, thì chắc chắn không thể nào kéo dài đời sống xuất gia, nghiêm trì giới luật và đánh hơn các thứ ma để tiến trên con đường giải thoát Niết-bàn công đức khó nghĩ nghì được. Hủy hình giữ chí tiết: cạo bỏ râu tóc, ăn mặc đạm bạc, ngủ đơn sơ, không trang sức như thế gian. Hủy hình để giữ chí tiết, xuất gia hoằng Phật đạo, thề độ tất cả mọi người. Đó là lời tán thán cái chí trượng phu của người xuất gia. Vậy chúng ta cũng tự hỏi lại chúng ta, có được là trượng phu chí tiết như thế không?
Đối với việc xuất gia, chư Tổ đã nhắc đi nhắc lại nhiều cách để ca ngợi, khuyến khích, nâng đỡ, chỉ rõ cho người xuất gia phải sống và làm như thế nào. Các vị học văn Cảnh sách rồi, chắc cũng nhớ khi nói về xuất gia, có câu: “Phù xuất gia giả, phát lúc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu, nhược bất như thử, lạm xí Tăng luân, ngôn hạnh hoang sơ, hư triêm tín thí, tích niên hành xứ thốn bộ bất di hoảng hốt nhất sinh, tương hà bằng thị...”.
Phàm là người xuất gia, tức là phát tâm cất bước đi đến phương trời cao rộng (phát túc siêu phương). Tức là xuất gia tu hành để cầu giải thoát tự lợi và để truyền bá Chánh pháp, làm cho giống Phật được tồn tại, phát huy. Làm chấn động và nhiếp phục ma quân là phiền não ma, tử ma, ngũ ấm ma và thiên ma, để vượt lên trên chúng; làm một người giải thoát, một người chiến thắng, đại biểu cho Phật, hoằng dương Chánh pháp. Như vậy mới là báo được bốn ân: ân cha mẹ, ân quốc gia, ân Tam bảo, ân sư trưởng, ân chúng sinh và bạt tế tam hữu là cứu độ ba cõi. Nếu không được như vậy là tạm xen vào trong hàng ngũ chúng Tăng, mang hình thức xuất gia mà tâm niệm đầy tục lụy, ngôn ngữ hành vi chỉ sơ sài bết bát, không thành tựu được điều gì có ích, chỉ muốn tiêu dùng của tín thí. Chỗ hành động, nói năng, tâm tư, suy nghĩ và những tư tưởng của ngày xưa, khi chưa xuất gia, chưa tu tập như thế nào thì bây giờ cũng y nguyên như thế đó không hề thay đổi chút nào. Chỉ sống một cuộc đời hoảng hốt, bập bồng, như vậy không có gì nắm chắc trong tay thì biết lấy chi để nương nhờ trong khi sống và trong khi nhắm mắt? Mình đã không biết lấy chi nương nhờ rồi, thì Phật pháp còn dựa vào đâu để mà tồn tại giữa thế gian cho lâu dài được! Cho nên, nói tới chí tiết xuất gia, nó lớn lao rộng rãi lắm và cao thượng lắm. Nếu như mỗi một người trong hàng Phật tử, trong hàng Tăng Ni mà tâm tâm niệm niệm, mỗi người đều có một tâm niệm, phát nguyện mà tự vấn, mà cảnh tỉnh với lòng mình để có một chí hướng như vậy, thì tất nhiên không hỗ thẹn là một người
đệ tử xuất gia của đức Phật khi đã thọ trì giới pháp.
Cho nên tôi mong các vị nên coi cái dịp thọ giới hôm nay là một điều quan trọng, là một dịp may quý báu cho mình phụng sự Tam Bảo, cho mình báo ơn sư trưởng, báo ơn cha mẹ, báo ơn tứ ân để bạt tế tam hữu.
Chính giờ phút này là giờ phút quyết định, quyết định cho đời mình hôm nay và ngày mai để trở thành một vị Tăng, đứng trong hàng ngũ Tăng Bảo, góp một phần vào việc hoằng dương chánh pháp, duy trì chánh pháp để cửu trụ thế gian, mà nếu không thì ngược lại đã không lợi ích cho mình mà còn góp phần vào việc làm cho Phật pháp chóng suy vong.
Nhiều lúc chúng ta băn khoăn tự hỏi: không biết Phật pháp tương lai thế nào? Giả như câu hỏi đó đem hỏi lại nơi chính mỗi một người trong chúng ta, thì sẽ thấy câu trả lời rất thiết thực, thâm thúy. Muốn biết tương lai Phật pháp như thế nào thì ta phải nhìn lại ta là một vị Tăng sống như thế nào! Nếu một vị Tăng thấy được mình sống như thế nào, một vị Ni thấy được mình sống như thế nào thì biết Phật pháp tương lai cũng như thế đó. Nếu một vị Tăng, vị Ni, vị cư sĩ hư hỏng thì Phật pháp sẽ hư hỏng. Nếu một vị Tăng, một vị Ni, một vị Phật tử sống chính đáng, trong sáng như Phật pháp thì tương lai Phật pháp sẽ đàng hoàng, rực rỡ chính đáng. Đó là điều thiết thực khi ta băn khoăn với một ưu tư hết sức quý báu. Vẫn biết mọi thành tựu nhờ nhiều duyên mà thành tựu, song trong đó cái duyên chính yếu nhất là từ nơi Tăng, Ni và từ nơi cư sĩ.
Tôi cầu mong giới đàn quý báu như thế này lập nơi một cơ sở của Cố Đại lão Hòa thượng Thiện Hòa, một vị Đại Hòa thượng đáng kính mà các vị đã có duyên hội ngộ đến đây, trước thập sư để thọ giới pháp. Các vị nên phát tâm hết sức dõng mãnh, đại trượng phu; hết sức chí tiết để xuất gia hoằng Phật đạo, thệ độ nhất thiết nhân, để báo đáp công ơn Tam Bảo và khỏi phụ chí hướng xuất gia của mình khi đã có duyên lành đến chùa học Phật.
Bấy nhiêu lời mong các vị chuẩn bị tâm tư thu dọn tâm tư cho được thanh tịnh trang nghiêm, kiên cố để ngày mai trước thập sư, các vị lãnh thọ giới pháp cao cả của đức Phật, làm tròn một vị Tăng, một vị Ni, một vị cư sĩ xứng đáng là một người đệ tử con Phật.