Cá nhân tôi cho rằng, khi chọn
giới sư, Ban Kiến đàn phải có
thái độ cương quyết để chọn người “thanh tịnh”. Ba
yếu tố chọn người “thấy - nghe - nghi” về sự
thanh tịnh của “ứng cử viên” trong
Hội đồng Thập sư phải được
tuân thủ. Nếu
vị nể, chọn cơ cấu hay chọn cục bộ địa phương… thì sẽ không bao giờ có một
Hội đồng Thập sư
như ý muốn, đúng với những gì
Đức Phật đã chế định trong việc tổ chức cho người
thọ giới. Sự
thanh tịnh trong hàng Thập sư không có thì sẽ không bao giờ có sự
hòa hợp.
Chúng tôi cũng biết và kính nể những vị khi được mời làm
giới sư đã từ chối vào ngôi vị Thập sư. Những vị ấy khéo léo từ chối vì thấy mình không
đủ tư cách hoặc
nhận thấy mình không
như pháp để nhận
trọng trách ấy.
Chúng tôi rất
biết ơn và
kính trọng những vị ấy đã nghĩ và thương tưởng đến các
giới tử về sự
đắc giới. Một số tỉnh đã cung
thỉnh giới sư không hạn hẹp nội bộ địa phương, mời
chư tôn đức có
đạo hạnh,
giới đức từ
nơi khác, vượt khỏi
ranh giới cục bộ địa phương. Nguyên tắc “Giới tử phải
cung kính giới sư như Phật”,
vậy thì giới sư phải “như Phật” mới đúng, để
giới tử cung kính, nếu họ
sanh nghi thì
chúng ta có tội.
Hiểu rõ vai trò của Tam sư, Thất chứng
Hội đồng Thập sư gồm:
Tam sư là
Hòa thượng Đường đầu truyền giới, thầy Yết-ma, thầy
Giáo thọ;
Thất chứng là bảy vị thầy
Tôn chứng. Khi yết-ma,
Hòa thượng Đường đầu là người có
tư cách truyền giới cho
giới tử (
đệ tử theo pháp - PV) thì không được
biểu quyết, thầy Yết-ma là người thưa hỏi để
biểu quyết, là gạch nối giữa
giới tử và các
giới sư nên cũng không được
quyền biểu quyết, thầy
Giáo thọ cũng là người dạy dỗ
giới tử nên cũng không được
biểu quyết. Cả ba vị
Tam sư này không có quyết
biểu quyết “THÀNH” trong ba lần yết-ma của pháp “bạch tứ yết-ma”. Chỉ có bảy vị
Tôn chứng mới có
quyền biểu quyết.
Nhiều vị không hiểu luật đã xem nhẹ
tư cách của bảy vị
Tôn chứng sư trong yết-ma
truyền giới. Yết-ma có
thành tựu hay không,
giới tử có
đắc giới trong khoảnh khắc “bạch tứ yết-ma” hay không là do bảy vị
Tôn chứng này. Bảy vị ấy phải
nhất loạt đáp “THÀNH” hoặc “KHÔNG THÀNH” khi ba lần được hỏi.
Giả như có một vị không đáp thì yết-ma ấy không
thành tựu, tất nhiên việc
đắc giới của
giới tử cũng không thành.
Chúng tôi đi làm các chức sự trong nhiều
Đại giới đàn, thường
nhận thấy các vị
Tôn chứng sư nhiều lúc rất
lơ là, thậm chí có vị còn đem cả điện thoại vào
giới trường, vừa ngồi
truyền giới vừa thậm thụt coi điện thoại. Có vị lại ngủ gà ngủ gật, không
chánh niệm đối với những gì đang diễn ra. Hoặc lúc vị Yết-ma đang bạch, vị
Giáo thọ đang hỏi dạy, có vị lại quay qua nói chuyện với nhau… rất mất
trang nghiêm trong đàn giới.
Tư cách bảy vị
Tôn chứng rất quan
trọng như đã nói, nên
cần phải chánh niệm trong suốt thời gian truyền giới, phải
kiểm tra tư cách giới tử về
oai nghi, về
ngũ căn có đầy đủ theo luật không… từ đó mới xác quyết việc
biểu quyết “THÀNH” hay “KHÔNG THÀNH”. Các vị được mời làm
Tôn chứng cần phải ý thức việc này.
Ngày xưa, khi được mời ra làm Thập
sư truyền giới, các ngài đều
đóng cửa sám hối cả tháng và tìm đọc lại luật để khi
truyền giới không bị sai phạm.
Thiết nghĩ ngày nay chư vị tôn đức cũng nên học tập gương của các vị
tổ sư tiền nhân. Đó không chỉ là thương tưởng đến các
thế hệ sau này, mà còn để tránh mình
phạm luật.
Một số nguyên tắc ở “giới trường”
Trong khu vực
giới trường (
nơi truyền giới cho giới tử - PV),
chúng tôi nhận thấy lâu nay luôn trong
tình trạng không đúng pháp đúng luật. Về nguyên tắc, trong khu vực ấy chỉ có
Hội đồng Thập sư và các
giới tử. Các vị Thập sư theo
truyền thống Bắc tông thì ngồi trên ghế nhưng phải đồng nhau theo nguyên tắc “thủ thủ tương cập”, tức là “tay vị này phải chạm tay vị kia” theo
quy định của Phật chế. Có những
giới đàn không
tuân thủ nguyên tắc này. Các
giới sư ngồi quá
xa nhau, không đúng “một khuỷu tay”; giữa
Tam sư và Thất chứng ngồi cao thấp khác nhau, vì như vậy là không
hòa hợp; hoặc
giới sư ngồi quá cao, xa
giới tử.
Một
tình trạng mà
chúng tôi rất không
hài lòng là trong lúc yết-ma,
truyền giới, có những vị
như thị giả, dẫn thỉnh, giáo thọ…
đi tới đi lui rất mất
trật tự. Về nguyên tắc khi
truyền giới, nhất là khi yết-ma thì “Tăng phải hòa hợp”;
hòa hợp ở đây phải trên ba
phương diện: thân - khẩu - ý. Những vị có mặt trong
phạm vi giới trường ấy đều tính là “Tăng” và nguyên tắc là có
quyền biểu quyết. Việc các vị ấy
đi tới đi lui khi yết-ma là không “đồng oai nghi”, tức là không có sự
hòa hợp. Khi yết-ma các vị ấy phải
biểu quyết. Vì thế, theo luật, các vị không phải là Thập sư thì phải đứng ngoài cương giới của
giới trường. Các vị ấy có thể đứng ở phần phi giới hoặc
đại giới.
Tuyệt đối không được ở trong hoặc một bộ phận nào của cơ thể lọt vào
phạm vi giới trường. Những điều này tuy nhỏ nhặt nhưng
nếu không lưu tâm sẽ bị
phạm luật và các Tăng sự về
truyền giới sẽ thành
phi pháp.
Khi “bạch tứ yết-ma”, tức
một lần bạch ba lần yết-ma, văn bạch phải đọc đầy đủ;
ngày xưa ba lần yết-ma cũng phải đọc đầy đủ. Nhưng ngày nay
giới tử đông, nếu đọc nguyên văn sẽ rất mất
thời gian và
sức khỏe, tôi có đề nghị văn bạch và lần yết-ma thứ nhất nên đọc đầy đủ, lần yết-ma thứ hai và thứ ba có thể giản lược. Tất nhiên nếu đọc hết tất cả thì vẫn
tốt hơn.
Đối với đàn giới của chư Ni, cũng nên
lưu tâm những
vấn đề đã nói ở trên. Và một việc quan trọng nữa là không được
truyền giới một lần cho quá 3
giới tử.
Chúng tôi từng làm
Luật sư cho những đàn giới, nhưng vì bận công việc, không có
thời gian coi sóc cách
truyền giới bên Ni, nên để xảy ra việc
truyền giới không đúng luật như trên. Hoặc có những
giới đàn chúng tôi được biết thông qua
giới tử hoặc
chư tôn đức Ni nói lại về việc truyền không đúng pháp này. Đây là những điều
phi pháp, làm cho người đã
thọ giới hoang mang không
biết mình thọ giới có đúng
pháp không, có
đắc giới không.
Chư tôn đức Ni nên
lưu tâm vấn đề này mà làm cho đúng pháp. Truyền Bổn pháp cũng như
Chánh pháp, mỗi lần không quá 3
giới tử.
Sẵn tiện
chúng tôi lưu ý một điều nhỏ là Ban Tổ chức các
giới đàn hay dùng chữ “giới trường” như:
giới tử nhập
giới trường, có mặt tại
giới trường,
lễ khai mạc tại giới trường… Từ dùng như vậy là không
chính xác.
Giới trường chỉ cho nơi
truyền giới, nơi
thực hiện các pháp yết-ma của Tăng sự: là khuôn viên nhỏ, thường là
chánh điện của ngôi chùa được chọn làm điểm
truyền giới. Khuôn viên
Đại giới đàn (thường là ngôi chùa) thì có “tam trùng” gồm:
tiểu giới (
giới trường - thường là
chánh điện),
đại giới (khuôn viên chùa), phi giới (một khoảng cách giữa
tiểu giới và
đại giới).
Giới tử,
giới sư,
công quả giới đàn… chỉ có thể vào
sinh hoạt trong
phạm vi đại giới.
Vì vậy cần
sửa đổi cách nói sai này trong nhiều năm qua.
Chúng ta có thể dùng từ: Đàn giới,
Đại giới,
Tuyển Phật trường,
Đàn tràng truyền giới, trụ xứ truyền giới… chỉ cho một nơi rộng lớn có thể
sinh hoạt cộng đồng.