THIỀN PHẬT GIÁO
NGUYÊN THỦY VÀ PHÁT TRIỂN
TÁC GIẢ: VIÊN MINH
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Nhà xuất bản Tôn Giáo
IV. So sánh Thiền Vipassanā với Thiền TôngTheo
lịch sử Thiền Tông, có hai giai đoạn trong quá trình
truyền thừa: giai đoạn một từ
sơ Tổ Ca-diếp đến Tổ
Bồ-đề Đạt-ma (Bohi Dharma) thứ 28 thuộc
Thiền Tông Tây Trúc, tức thiền trên xứ Ấn-độ và Nepal hiện nay; giai đoạn hai từ Tổ
Bồ-đề Đạt-ma thứ nhất đến Tổ
Huệ Năng thứ sáu và về sau thuộc
Thiền Tông Đông Độ, tức thiền trên đất nước Trung Hoạ
Khó mà xác định được
lịch sử Thiền Tông, nhất là
Thiền Tông Tây Trúc, có thực hay chỉ là huyền thoại được dựng lên do
thế hệ sau
Lục Tổ Huệ Năng để cho Thiền Trung Hoa có một bề dày
lịch sử chính thống bắt nguồn từ thời
Đức Phật. Có một số điểm khả nghi như:
-
Câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu” không được ghi lại trong các
kinh điển Nguyên Thủy,
Tiểu Thừa và
Đại Thừa trước đó.
-
Lịch sử Phật Giáo Ấn-độ không đề cập đến sự
truyền thừa của 28 vị Tổ
Thiền Tông,
đặc biệt hầu
như không tìm ra được
vị trí đặc biệt nào của Tổ Đạt-ma trong
Phật Giáo Ấn-độ. Hoặc một ví dụ điển hình khác như Tổ
Thế Thân thứ 21, trong
toàn bộ tác phẩm của ngài không có chỗ nào đề cập đến
Thiền Tông và trong
hành trạng Thiền Tông của Tổ lại không thấy nói đến Luận
Duy Thức.
- Những
bài kệ truyền pháp từ
đức Phật đến Tổ thứ 28 (tức ở Ấn-độ) khó
tìm thấy bản gốc bằng Nam Phạn hay Bắc Phạn cổ để đối chiếụ Và văn khí
rõ ràng là của chỉ một người
sáng tác theo phong cách thiền Trung Hoa, sau thời
Lục Tổ Huệ Năng.
- Một số
Ngữ Lục hay Truyền Ký có đề cập đến
lịch sử Thiền Tông cổ nhất của người Trung Hoa được
biên soạn vào đời Đường (trên 1200 năm sau
đức Phật Niết-bàn), và mãi đến đời nhà Tống từ niên hiệu Cảnh Đức 1004 đến niên hiệu Gia Thái 1204, (trên dưới 1700 năm sau
đức Phật Niết-bàn) như
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục do
Đạo Nguyên soạn,
Thiên Thánh Quảng Đăng Lục do
Lý Tuân Húc soạn v.v... thường là mượn các nhân vật
danh Tăng thiền đức có thực để hư cấu thêm nhằm chuyển tải thiền lý hơn là
mô tả thực kiện diễn ra
trong lịch sử.
Tuy nhiên, phải nói rằng những
bài kệ truyền tâm ấn rất
nhất khí và ý chỉ rất tuyệt vờị
Chúng ta học được rất nhiều từ những
bài kệ này,
vì vậy, cũng không nên quá
quan tâm đến tính thực hay hư của
lịch sử, vì cho dù
lịch sử thực thì cũng không sao
thoát khỏi chủ quan và hư cấu của các sử giạ Nhiều người có
mặc cảm không muốn xem
Thiền Tông chính là Thiền Trung Hoạ
Thực ra, cho dù có
Thiền Tông Ấn-độ thì Thiền Trung Hoa tự mình đã có một sắc thái đặc thù độc đáo mà điển hình
kiệt xuất nhất là
Lục Tổ Huệ Năng.
Theo
truyền thuyết của
lịch sử Thiền Tông, trong các
tác phẩm do người Trung Hoa
biên soạn, thì chính
đức Phật Thích-ca đã trao truyền một giòng thiền riêng không qua
kinh giáo cho ngài Ma-ha Ca-diếp. Và ngài Ca-diếp đã
trở thành vị Tổ đầu tiên (
sơ tổ) của
Thiền Tông. (Theo
kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thì ngài Mahā Kassapa là vị Thánh được
Đức Phật giới thiệu với
đại chúng như đệ nhất về hạnh đầu-đà chứ không phải về thiền).
Câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu” được kể như sau: Một hôm, trong
hội Linh Sơn,
đức Phật cầm một cành hoa đưa lên,
hội chúng người thì ngơ ngác không hiểu
đức Phật muốn dạy điều gì, người thì đang
tìm cách hình thành cho mình một lý giải, chỉ có ngài Ca-diếp
lặng lẽ mỉm cườị Biết Ca-diếp đã
lãnh hội,
đức Phật nói: “Nay Ta đem
pháp nhãn tạng
thanh tịnh,
diệu tâm Niết-bàn,
thực tướng vô tướng, là
chánh pháp vi diệu, giao lại cho ông, ông nên hộ trì” (
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục [CĐTĐL], Lý Việt Dũng [LVD] dịch, xb.2006, t.100). Sau đó
đức Phật nói
bài kệ truyền pháp:
“Pháp bổn pháp
vô phápVô pháp pháp diệc pháp
Kim phó
vô pháp thời
Pháp
pháp hà tằng pháp”
(Gốc pháp vốn
không phápKhông pháp cũng là pháp
Nay lúc trao
không phápCác pháp nào từng pháp)
Câu chuyện có thể chỉ là huyền thoại, nhưng
ý nghĩa thì rất
rõ ràng.
Gốc pháp vốn
không pháp, hiểu theo
tinh thần thiền
Nguyên Thủy có nghĩa là
pháp thực tánh (paramattha dhamma) vốn tự nó không có pháp khái niệm (paññatti dhamma). [
Xem lại phần IỊ2]. Ví dụ như một
sắc pháp tự nó chỉ là
bốn đại (đất, nước, lửa, gió) nhưng
chúng ta thấy nó là trái cam, trái bưởi…
tùy theo khái niệm
hình tướng (santāna), tổng hợp (samūha),
không gian (disā),
thời gian (kāla) v.v... trong vật khái niệm (attha paññatti) rồi đặt cho nó một tên gọi trong danh khái niệm (nāma paññatti). Thật ra, cả hai vật khái niệm và danh khái niệm đều không có trong tự thân của
sắc pháp ấy (gốc pháp). Thế nhưng hầu như
chúng ta chỉ thấy
pháp như chúng ta quan niệm là chứ không thấy thực tánh của pháp gốc
như tự nó thực sự là.
Vì vậy, cái thấy của thiền là thấy tất cả các pháp đều có gốc pháp vốn không.
Bài kệ này
thực ra chỉ nhằm nói lên chỉ ý của
sự kiện “niêm hoa”. Cành hoa trong
tự tánh chỉ như nó đang là (yathābhūtā) chứ không như bị nghĩ là (ciñtāmayā). Trong thiền vipassanā đối tượng của
chánh niệm tỉnh giác phải là
pháp thực tánh tức chính là gốc pháp vốn không chứ không phải là pháp khái niệm do
tâm trí con người qui định.
Hội chúng ngơ ngác vì mãi lo tìm
ý nghĩa trong
thế giới khái niệm,
ngôn ngữ,
tư tưởng,
quan niệm … Riêng ngài Ca-diếp thấy cành hoa
như tự tánh đang là của nó. Điều này thiền
Nguyên Thủy gọi là thấy biết
như thật (yathābhūta ñāṇaassana:
như thị tri kiến) trong
trí tuệ chánh niệm tỉnh giác.
Câu 3 và 4 nói rằng ngay khi trao cái gọi là
pháp không ấy thì vẫn không có một pháp nào từng là
pháp không trong khái niệm được cả. Vì khi hình thành khái niệm “pháp không” thì nó đã trở nên “pháp hữu” rồị Đây là lời
cảnh báo cho những ai
chạy theo cái gọi là tánh, là không mà không biết rằng đó chỉ là
tánh không trong
ý niệm của chính mình.
(
Một sinh viên hỏi:)
- Thưa sư,
truyền thuyết Tổ
Bồ-đề Đạt-ma chín năm ngồi quay mặt vào vách núi có thật không? Nếu có thì
cửu niên diện bích đó là gì?
- Nếu bạn gặp
Lâm Tế thì không nghe một tiêng hét cũng hưởng 30 hèọ (Cả lớp cười). Ngồi chín năm ai mà chịu nỗi (cả lớp lại cười). Thật đó, chẳng lẽ không đi
ăn uống tắm rửa gì cả saỏ Có lẽ đây chỉ là một
biểu tượng của
bích quán thiền, ý nói tâm thiền
sừng sững,
thẳng tắp như vách đá, không một chút vọng động mà về sau
Lục Tổ Huệ Năng gọi là
tâm bình hạnh trực.
Cũng theo
truyền thuyết Thiền Tông (ghi trong
Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 1), sau khi
đức Phật truyền pháp cho ngài Ca-diếp, A-nan tò mò hỏi
sư huynh:
-
Sư huynh,
Thế Tôn ngoài việc truyền chiếc y vàng cho huynh, còn truyền gì khác nữả
Ca-diếp gọi A-nan,
Tôn giả ứng:
- Dạ !
Ca-diếp nói:
- Cây cột phướn trước chùa đổ. (SS. Lý Việt Dũng dịch: Hãy hạ cột nêu phía trước cửa chùa đi).
A-nan liền tỏ ngộ. Sau đó Tổ Ca-diếp
truyền y pháp cho
tôn giả A-nan bằng
bài kệ:
“Pháp
pháp bổn lai pháp
Vô pháp vô phi pháp
Hà ư
nhất pháp trung
Hữu pháp hữu
phi pháp.”
(Pháp có
pháp bổn lai
Chẳng pháp, chẳng
phi phápSao ở trong một pháp
Có pháp, có phi pháp?)
Con người có
thói quen dùng
lý trí,
tư tưởng để
phán đoán hơn là
trực nhận ngay nơi thực tạị Điều này biểu hiện qua sự ngơ ngác của
hội chúng, và rõ hơn qua câu hỏi tò mò của
tôn giả A-nan. Nếu người ta không gán được vào
thực tại những
phán đoán chủ quan thì cũng nghi rằng đàng sau đó hẳn phải có cái gì
bí ẩn. Chính
thói quen suy đoán này đã không những
che lấp thực tại ngoại giới mà còn đánh mất
thực tại đang là nơi chính mình. Đó chính là
cốt lõi của sự vong thân tha hóa, của
điên đảo mộng tưởng,
luân hồi sinh tử.
Vì vậy, Tổ Ca-diếp gọi “A-nan!”
đơn giản chỉ nhằm
đánh thức A-nan
thoát khỏi cơn
mê lý trí hướng ngoại để
trở về với
thực tại chính mình.
Trở về với chính mình, không còn rong ruổi kiếm tìm, thì
thực tại vốn đã
hiển bày ở khắp mọi nơị Cây cột phướn đổ
sờ sờ ngoài sân chùa thỉ Tăng nhân ai mà chẳng thấy, thế mà Tổ Ca-diếp phải
đánh thức A-nan hoàn
trở lại với chính mình rồi chỉ ra cho mới thấy được. Ngay
trước mắt có gì không phải là đạo “xúc mục
vô phi thị đạo” hoặc “đương xứ tức chân”, “thực tại hiện tiền”, “Tat tvam asi”, “Sandiṭṭhiko”…
xưa nay đều cùng một
sự lý ấỵ
Vậy thì các pháp dù
chúng ta có đặt cho chúng bao nhiêu khái niệm, tên gọi, hay nhìn chúng dưới
vô số quan điểm khác nhau thì chúng vẫn như chúng là
hoàn toàn độc lập với khái niệm
thị phi, xấu tốt cùa
con người:
Pháp có
pháp bổn lai
Chẳng pháp, chẳng
phi pháp.
Nhưng do đâu trên một pháp đang là ấy (
pháp bổn lai) lại sinh ra đúng sai, xấu tốt, sang hèn, thiện ác…?
Hay nói một cách khác vì sao nơi
pháp thực tánh lại khởi lên pháp khái niệm?
Sao ở trong một pháp
Có pháp, có phi pháp?
Theo
Thiền Tông thì khi đã có một niệm (
ý niệm,
tư tưởng) khởi lên thì liền có sự
phân biệt thiện ác,
thị phi (
Nhất niệm khởi
thiện ác dĩ phân), giống như khi một đợt sóng lan ra thi kéo theo hàng ngàn làn sóng khác (nhất ba động vạn ba tùy). Chỉ ngay nơi
lục căn thôi, nếu một niệm
không sinh thì tất cả
pháp bổn lai đều
hiển hiện, ngược lại thì chỉ cần một niệm khởi
lập tức thực tánh bị che mờ:
“Nhất niệm
bất sanh toàn thể hiện
Lục căn tài động bị vân già”.
Krishnamurti cũng nói một
tư tưởng khởi lên luôn đi kèm với
ý niệm bản ngã, thởi gian,
nhân quả và khổ đaụ Điều này
hoàn toàn đúng với
mọi người trừ
chánh tư duy của bậc Thánh Alahán.
Theo thiền
Nguyên Thủy, trong Abhihamma, thì đó là diễn biến của những tiến trình tâm (vīthi-citta) trước đối tượng
nhận thức,
hay nói một cách khác đó chính là quá trình
nhận thức (process of cognition). Có ba loại tiến trình
nhận thức:
I) Tiến trình tâm qua
ngũ môn (Pañcavāra vīthicitta): Tức quá trình
nhận thức qua năm
giác quan, hay
diễn tiến của tâm (cittappavattiyo) khi
nhận thức (
tâm lý) đối tượng bên ngoài (
vật lý) ngang qua năm
giác quan (
sinh lý).
Diễn tiến tương giao
vận hành của tiến trình tâm – sinh –
vật lý này
tuần tự diễn ra như sau:
1)
Hữu phần (bhavaṅga): Tâm ở
trạng thái thụ động, khi chưa khởi lên do một tác duyên nào, giống như một dòng nước ngầm,
lặng lẽ trôi chảy, hàm chứa những pháp đã được
kinh nghiệm,
huân tập và lưu giữ
từ vô lượng kiếp
quá khứ. Tạng Pāḷi Abhihamma gọi đó là bhavaṅga,
hữu phần, vì nó là phần (aṅga)
duy trì sự sống (bhava) của
chúng sinh hữu tình (satta hay bhùta). Có thể nói
tiềm thức và
vô thức trong
tâm lý học phương Tây là hai thuộc tính của bhavaṅga, nhưng
chúng ta chỉ có thể xem đó là những từ tương đương chứ không
hoàn toàn đồng nghĩa, vì chúng không thể thay thế nhau được. Tuy
A-lại-da thức trong
Duy Thức Luận có nhiều điểm giống với bhavaṅga, điển hình như có
chức năng tàng trữ
kinh nghiệm hoặc có
tính chất hằng chuyển như
bộc lưu v.v... có thể
so sánh,
đối chiếu với nhau nhưng cũng không thể xem là một được.
Khi có sự xúc tác của một đối tượng thì bhavaṅga
trôi qua trong 1 sát-na, rồi
rung động lên và dừng lại trong 2 sát-na
kế tiếp. Lúc đó tâm bắt đầu khởi lên dưới
hình thức một tiến
trình diễn biến mang tính
hiện hành năng động chứ không còn ở
trạng thái bhavaṅga
thụ động nữa, và trước khi tiến trình này
chấm dứt,
kinh nghiệm của tâm ấy được thu thập rồi chìm vào bhavaṅga trở lạị Như vậy,
chúng ta có thể nói các tiến trình tâm
hiện hành khởi lên từ bhavaṅga và
trở về trạng thái bhavaṅga, giống như các đợt sóng khởi lên từ dòng nước rồi lại chìm vào dòng nước.
Lão Tử cũng đã từng ngồi xem cái tâm của mình và nói rằng: “Các phục qui kỳ căn” . Nói là căn
hay nói theo
Duy Thức là
căn bản tâm thì cũng đúng, nhưng theo Abhihamma thì bhavaṅga không phải là một cội nguồn hay
bản thể thường hằng,
vĩnh cửu gì cả. Bhavaṅga
đơn giản chỉ là
trạng thái âm thầm,
thụ động,
vô thức, ngược lại với
trạng thái hiện hành,
năng động,
hữu thức của tâm mà thôị
2)
Hữu phần trôi qua (bhavaṅg’ātīta):
Bình thường, như khi
chúng ta đang ngủ, tâm tạm thời không nhận đối tượng
tác động vào, nên không nghe, không thấy, không
tiếp xúc gì với bên ngoài, nghĩa là tâm đang ở
trạng thái trôi chảy lặng lẽ,
thụ động và
vô thức của bhavaṅgạ Nhưng nếu có một đối tượng
tác động đủ mạnh, như nghe một
tiếng động lớn, một
mùi hôi nồng nặc hay một vật gì đó xúc chạm vào thân v.v... thì bhavaṅga chỉ có thể
tiếp tục trôi chảy thêm 1 sát-na trong
trạng thái tĩnh lặng cố hữu của nó rồi sau đó
rung động lên.
3)
Hữu phần rung động (bhavaṅga calana):
rung động này xảy ra trong 1 sát-na trước đối tượng kích hoạt.
4)
Hữu phần dừng lại (bhavaṅg’upacchea) sau khi
rung động lên tâm
thoát khỏi tình trạng hữu phần trong 1 sát-na nữa để chuẩn bị cho tâm hiện khởi trên đối tượng.
(
Một sinh viên hỏi:)
- Nếu
hữu phần đã
trôi chảy lặng lẽ như
vậy thì phải chăng chúng ta có thể thiền bằng cách giữ tâm ở
trạng thái yên tĩnh này
để tâm không khởỉ
- Không phải như vậy, nói giữ
tâm không khởi tức là đã
khởi tâm rồi làm sao còn
tình trạng hữu phần trôi chảy âm thầm
lặng lẽ được nữạ
Lặng lẽ của
thiền định là tâm an chỉ trên đối tượng, mà là đối tượng rất lớn, trong khi
hữu phần là
trạng thái lặng lẽ của
tiềm thức khi chưa có đối tượng kích hoạt cho nên đó không phải là
lặng lẽ của
thiền định. Còn
lặng lẽ của
thiền tuệ là
chánh niệm tỉnh giác, đó là
trí tuệ lặng lẽ chiếu soi chứ không phải
trạng thái lặng lẽ thụ động,
vô thức của
hữu phần. Trong cả
thiền định lẫn
thiền tuệ đều kị nhất là
để tâm rơi vào
hữu phần,
thụ động và
vô thức.
5)
Ngũ môn hướng tâm (pañca-dvāra-vajjana): nói tâm chuẩn bị hiện khởi vì còn qua một khâu
trung gian là
bản năng phản xạ
tự nhiên của các
căn môn hướng về đối tượng khi bị
tác động, thuộc tâm
vô nhân duy tác (ahetuka kiriya citta). Nếu đối tượng kích hoạt là một
hình sắc hay ánh sáng thì phản xạ
tự nhiên của
nhãn môn được
đánh thức để hướng đến
tiếp xúc với đối tượng, nếu đối tượng là một
âm thanh hay tiếng nói thì nhĩ môn được
đánh thức để hướng đến đối tượng, cũng vậy, tỷ môn sẽ hướng đến đối tượng mùi hương, thiệt môn hướng đến vị, thân môn hướng đến vật xúc chạm.
6)
Ngũ thức (pañca-viññāṇa): Khi xúc giữa các
căn môn và các đối tượng
trần cảnh liên hệ đã được hình thành thì thức
tương ứng liền phát sinh trong
thời gian 1 sát-na
chớp nhoáng. Đây là
tri giác thuộc
trực giác giác quan, cái biết máy móc của phản xạ
tự nhiên, nên
đơn giản hơn nhiều so với
ý thức.
Có thể nói đến đây (cặp) năm
thức tâm đơn giản nhất mới thật sự
xuất hiện dưới
hình thức vô nhân dị thục (vipāk’āhetukā citta) để làm công việc rất
tự nhiên, tự động và khách quan là nắm bắt đối tượng thực tánh pháp (paramattha), nghĩa là đối tượng được nắm bắt vẫn còn nguyên trạng và
trung thực, chưa bị tưởng tượng,
hồi tưởng và tư tác (cetanā)
chủ quan xen vào xử lý,
đánh giá hay
kết luận gì cả, giống như
chức năng của một máy chụp hình thu hình hay máy thu băng thu tiếng chứ chưa qua các phần mềm vi tính để xử lý theo
ý muốn.
Năm thức không khởi lên cùng một lúc mà nhiều lắm là hai hoặc ba thức
cộng tác với nhau để xử lý một đối tượng
phức tạp. Thường thì nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt thức cộng tác chung với
thân thức vì bốn
căn môn này đều nằm trên thân. Ví dụ, khi mắt thấy sắc mà
cảm thấy xốn xang khó chịu thì đó là
thân thức thọ khổ chứ không phải
nhãn thức (
nhãn thức chỉ thọ xả). Như vậy, ở đây,
nhãn thức và
thân thức đã
cộng tác trong lúc thấỵ Cũng vậy,
nhĩ thức với
thân thức lúc nghe,
tỷ thức với
thân thức lúc ngửi,
thiệt thức với
thân thức lúc nếm.
Năm thức chỉ làm công tác nắm bắt tổng thể nguyên bản của đối tượng, như máy ảnh
cung cấp âm bản
trung thực của một vật thể theo khả năng của nó. Nghĩa là máy tốt hay độ
phân giải cao thì ghi hình rõ, máy xấu hay độ
phân giải thấp thì ghi hình mờ, cũng vậy,
căn môn (
tịnh sắc căn) tốt thì nắm bắt đối tượng rõ hơn. Ví dụ như mắt sáng, mắt cận thị, mắt
viễn thị, mắt loạn thị... đều
cung cấp âm bản của cùng một đối tượng nhưng độ
tinh vi khác nhaụ
Năm thức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân
thu nhận đối tượng thực tánh bên ngoài như nó phản ánh
trung thực qua năm
giác quan.
Trung thực theo nghĩa chưa bị phê phán
kiểm duyệt, như tấm gương thu
hình ảnh người soi, chính người soi mới làm công việc bình phẩm còn tấm gương năm thức chỉ
thu nhận đối tượng như nó là mà thôị
(
Một sinh viên hỏi:)
- Nếu như năm thức
tiếp nhận đối tượng là thực tánh pháp thì có khác gì
trí tuệ hay
chánh niệm tỉnh giác. Như vậy
chúng ta có thể tu bằng cách giữ tâm ở giai đoạn thức này đừng cho
ý niệm của tưởng khởi lên tức là cũng đồng với
trí tuệ thiền vipassanā rồi phải không?
- Không phải, thức này chỉ là
vô nhân dị thục, tuy khách quan
trung thực, chưa bị
ý niệm xen vào, chưa có
tác hại gì, nhưng còn
thụ động, không đủ lực (bala): tín, tấn, niệm, định, tuệ để
quán chiếu như pháp hành
thiền tuệ nên không thể
giác ngộ giải thoát bằng cách ngưng lại ở năm thức. Hơn nữa trên
thực tế cũng không thể dừng lại một chuỗi diễn biến theo qui luật khách quan của tâm (citta niyama).
Khi
chúng ta đang
chánh niệm tỉnh giác thì các thức này phát sinh trong giác niệm, nghĩa là được
trí tuệ soi chiếu thì “có thể coi như” thức này đã
biến thành tuệ mà
Duy Thức gọi là
thành sở tác trí.
Thực ra, thức là thức (tâm), tuệ là tuệ (
tâm sở), không thể
thức biến thành tuệ, nhưng khi thức này được
trí tuệ soi chiếu thì không bị
ý niệm (paññatti)
che lấp thế thôị
Hơn nữa, 5 thức này thuộc
vô nhân không thể
đồng hóa với
trí tuệ hữu nhân trong thiền vipassanā được.
7) Tiếp thọ tâm (sampaṭicchana): Sau khi thức nắm bắt đối tượng liền
chuyển giao âm bản ghi được cho tiếp thọ tâm, giống như sau khi chụp hình
chúng ta đưa phim âm bản cho chuyên viên tráng thành dương bản. Chuyên viên này chính là tiếp thọ tâm. Tiếp thọ tâm
thực hiện chức năng chủ yếu là:
-
Tiếp nhận “phim âm bản” của đối tượng do thức giao lạị
- Làm rõ
chi tiết của âm bản bằng cách
chuyển đổi thành dương bản, sẵn sàng
chuyển giao để rửa ra hình. Đây là giai đoạn phân tích,
ghi nhận từng
đặc điểm để
cung cấp đầy đủ thông tin
chi tiết về
hình ảnh của đối tượng.
-
Cung cấp thông tin đầy đủ
chi tiết đã được phân tích (
tương tự như
hình thức dương bản của một tấm phim) cho suy đạc tâm xử lý.
Vì là tâm
vô nhân dị thục (vipāk’āhetuka citta) nên những gì tiếp thọ tâm
thực hiện chỉ có tính máy móc,
tự nhiên và tự động. Hơn nữa động tác này chỉ diễn ra trong 1 sát-na, nên không đủ
thời gian để lý trí
suy luận hữu nhân có thể
xen vào như ở giai đoạn
tốc hành tâm mà
chúng ta sẽ nói tới saụ
8) Suy đạc tâm (santìrana):
chức năng chủ yếu của suy đạc tâm là:
- Nhận những thông tin đã được tiếp thọ tâm
ghi nhận và
cung cấp.
-
Liên kết, ráp nối, tổng hợp những thông tin
chi tiết ấy lại để làm
hiển lộ tướng trạng của đối tượng,
ví như chuyên viên rửa phim dương
bản thành một tấm hình màu rõ nét.
-
Chuyển giao hình ảnh đã được tổng hợp cho xác
định tâm đưa ra
kết luận đối tượng đó là gì.
Suy đạc tâm cũng thuộc tâm
vô nhân dị thục nên
thực hiện chức năng của mình một cách máy móc, tự động, và vì động thái này chỉ diễn ra trong 1 sát-na nên không đủ
thời gian để
đắn đo lý luận một cách
chủ quan,
hữu ý được. Đây là tổng hợp đầu tiên trong quá trình
tri giác chưa qua khái niệm.
9) Xác
định tâm (voṭṭhapana): sau khi thức nắm bắt đối tượng một cách tổng quát, tiếp thọ tâm
quan sát từng phần
chi tiết của đối tượng bằng phân tích từng phần, và suy đạc tâm tổng hợp
chi tiết ấy lại ráp nối
thành hình, thì xác
định tâm thực hiện giai đoạn cuối của
chức năng hiện tưởng: xác định đối tượng ấy là gì một cách nguyên vẹn như nó là chưa qua khái niệm và phê phán
đánh giá của
tư tưởng. Việc xác định này cũng chỉ diễn ra trong 1 sát-nạ Xác
định tâm được dùng trong tiến trình tâm qua
ngũ môn chính là ý môn hướng tâm trong ý môn tiến trình tâm,
vì vậy nó là
vô nhân duy tác, nghĩa là không có
nhân tạo tác thiện hay
bất thiện.
Ba động tác thuộc
ý giới (chưa phải
ý thức) này
thực ra chỉ làm rõ đối tượng thực tánh mà các thức
giác quan mới
thu nhận tổng quát, chúng phản xạ như một
bản năng tự nhiên, tự động và máy móc theo cách
trực giác giác quan chứ chưa có
phán đoán chủ quan vì đây là
các loại tâm quả
vô nhân hoặc duy tác mà thôị Sau kiểu
nhận thức trực giác giác quan này mới
xuất hiện phản ứng chủ quan.
10)
Tốc hành tâm (javana): Javana có nghĩa là động tác nhanh, động từ javati là đi nhanh, hấp tấp,
hối hả. Khi xác định đối tượng rồi, tâm liền tỏ
thái độ phản ứng cấp tốc trên đối tượng, nên gọi là
tốc hành tâm,
quyết định nhanh
tính chất tạo
tác thiện,
bất thiện hay
bất động của tâm.
Ví như khi thấy một đóa hoa liền
ưa thích hay nghe tiếng chửi liền
nổi giận v.v... Giai đoạn
phản ứng tạo tác này diễn ra trong 7 sát-nạ
Tốc hành tâm trong
ngũ môn tiến trình tâm có thể tương đương với
mạt-na thức trong
Duy Thức Luận và
tốc hành tâm trong ý môn lộ trình tâm mới thật sự tương đương với
ý thức trong
Duy Thức.
11) Đồng
sở duyên (ta’ālambana): có nghĩa là cùng đối tượng, đối tượng đây là
tốc hành tâm vì vậy nó là bản sao của
tốc hành tâm,
sở dĩ gọi như vậy vì nó làm công tác sao lưu (2 sát-na) những gì
tốc hành tâm vừa mới tạo tác, rồi chìm vào kho
lưu trữ bhavaṅgạ
Động tác này giống như khâu save của máy tính lưu
tài liệu vừa mới
thực hiện vào My Documents (mặc định), nhưng chỉ lưu được bản sao thôi chứ không lưu được bản chính (
sự kiện).
Tốc hành tâm ví như việc
thưởng thức một món ăn, còn đồng
sở duyên chỉ quay phim để giữ lại
sự kiện đó chứ không thể giữ lại chính
sự kiện đó.
Đồng
sở duyên không khởi trong những
trường hợp sau:
- Đối tượng của tiến trình
tri giác qua năm
giác quan (
ngũ môn tiến trình tâm) không đủ
tiêu chuẩn một
trần cảnh có độ kích hoạt rất mạnh hay rất lớn (atimahanta) thì đồng
sở duyên sẽ không khởi lên, nghĩa là
sự kiện không đủ rõ để sao lưụ Ví dụ một
học sinh đang học bài bỗng nghe một tiếng gì đó làm em quay qua một chút rồi
trở lại học bài ngay, đối tượng không gây một
phản ứng nào
đáng kể nên em quên ngaỵ
- Đối tượng của tiến trình
ý thức dục giới (ý môn tiến trình tâm có
dục giới tốc hành tâm) không đủ
tiêu chuẩn một nội cảnh rất rõ (vibhūta) thì đồng
sở duyên cũng không khởi lên vì không có gì để sao lưụ Ví dụ đôi lúc
chúng ta chợt nhớ đến một điều gì đó nhưng rồi quên ngay mà không
phản ứng gì cả.
- Trong hai tiến trình
ý thức tiếp trợ vật khái niệm và danh khái niệm, trong các tiến trình tâm
sắc giới,
vô sắc giới và
siêu thế không có đồng
sở duyên vì
tốc hành tâm có thể trực tiếp
đi vào bhavaṅga nên không cần bản sao để
lưu trữ.
12)
Hữu Phần (bhavaṅga): sau khi đồng
sở duyên hoàn thành công việc lưu ký thì tâm lại chìm vào bhavaṅga cùng với những thông tin vừa mới
thu nhặt được dưới
hình thức kinh nghiệm.
Nếu không kể bhavaṅga đầu và cuối thì từ
hữu phần trôi qua đến đồng
sở duyên sẽ diễn ra trong 17 sát-nạ Một đối tượng
vật chất như năm trần phải
biến đổi chậm hơn 17 sát-na mới đủ cho một tiến trình tâm khởi lên
nhận thức đối tượng ấy và
trở về bhavaṅgạ
Trong bhavaṅga các trữ liệu (
Duy Thức gọi là
chủng tử) không giữ nguyên
trạng thái ban đầu mới được lưu ký mà luôn được xử lý
hay nói đúng hơn là tự động tương duyên, tương tác, tương sinh, tương khắc, để tự
biến đổi và chín mùi
cho đến khi
thành quả hiện hành, đó là chuỗi
chuyển hóa theo nguyên lý
nhân quả một cách khách quan, uyển chuyển,
tự nhiên và
vô thức. Quá trình tự
động chuyển hóa này có độ
vi tế và
chính xác cực kỳ cao so với với những xử lý máy móc được qui định và cài đặt bởi các chuyên gia vi tính.
Nếu
đối chiếu với
Duy Thức Luận thì ta’ālambana làm
nhiệm vụ năng tàng ( ādana ), còn bhavaṅga làm
nhiệm vụ sở tàng (ālaya).
II) Tiến trình tâm qua ý môn (Manovāra vīthicitta): Nếu
chúng ta gọi tiến trình tâm qua ý môn nói chung là tiến trình
ý thức thì theo
Vi Diệu Pháp có hai loại
ý thức:
Ý thức có
tốc hành tâm dục giới và
ý thức có
tốc hành tâm an chỉ.
1. Tiến trình tâm qua ý môn có
tốc hành tâm dục giới (kāmajavana manovāra vīthicitta):
ý thức này có đối tượng là
hình ảnh lưu trữ của
ngũ trần mà
chúng ta thường gọi là
pháp trần hay nội cảnh (
Duy Thức gọi là
tiền trần lạc tạ ảnh tử), như khi tâm nhớ lại một
hình sắc, một
âm thanh v.v... thì tiến trình tâm này khởi lên. Tiến trình ý môn có
tốc hành tâm dục giới lại chia làm hai loại:
1.a) Ý môn tiến trình tâm tiếp trợ (anubandhaka manovāra vīthicitta) là loại
ý thức luôn đi kèm ngay sau tiến trình qua năm môn để hỗ trợ, làm
tăng cường độ
nhận thức đối tượng.
Duy Thức gọi là
minh liễu ý thức. Loại
ý thức tiếp trợ này không đi riêng lẻ mà diễn ra thành 4 tiến trình
kế tục:
1.ạ1) Tiến trình nắm bắt đối tượng vừa qua (atìīaggahana vīthicitta) đây là
diễn tiến phân tích
chớp nhoáng trong 7 sát-na
tốc hành tâm nắm bắt từng phần của đối tượng thực tánh (paramattha) vừa qua mà năm thức trước mới thu được. Tiến trình này diễn ra như sau:
-
Hữu phần rung động (1 sát-na)
-
Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt và xác định đối tượng thực tánh
quá khứ vừa qua do
ngũ thức cung cấp.
-
Tốc hành tâm (7 sát-na) phân tích đối tượng
quá khứ do ý môn hướng tâm vừa
cung cấp.
- Đồng
sở duyên (2 sát-na) lưu lại bản sao của tiến trình.
1.ạ2) Tiến trình nắm bắt đối tượng tổng thể (samūhaggahana vīthi): là
diễn tiến tổng hợp
chớp nhoáng trong 7 sát-na
tốc hành tâm những
chi tiết do tiến trình
phân biệt trên
cung cấp để ráp nối thành một đối tượng thực tánh tổng thể. Tiến trình
ý thức tiếp trợ thứ 2 này diễn ra như sau:
-
Hữu phần rung động (1 sát-na)
-
Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt và xác định đối tượng thực tánh
quá khứ do tiến trình phân tích từng phần trước đó
cung cấp.
-
Tốc hành tâm (7 sát-na) tổng
hợp lại những phần do ý môn hướng tâm vừa
tiếp nhận và xác định từ tiến trình phân tích ngay trước đó.
- Đồng
sở duyên (2 sát-na) ) lưu lại bản sao của tiến trình.
1.ạ3) Tiến trình hình thành vật khái niệm (atthaggahana vīthi) với tư liệu đã được phân tích và tổng hợp từ hai giai đoạn trên, tiến trình này
định tướng đối tượng để chế định đó là vật gì (vật khái niệm) hay
ý nghĩa gì (nghĩa khái niệm). Tiến trình vật khái niệm này diễn ra như sau:
-
Hữu phần rung động (1 sát-na)
-
Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt và xác định đối tượng thực tánh
quá khứ do 2 tiến trình phân tích tổng hợp trước đó
cung cấp.
-
Tốc hành tâm (7 sát-na)
nhận biết và
quyết định đối tượng do ý môn hướng tâm vừa
cung cấp là vật gì (vật khái niệm) hay
ý nghĩa gì (nghĩa khái niệm).
-
Hữu phần (2 sát-na)
lưu trữ trực tiếp không cần đồng
sở duyên sao lưụ
Đến đây
ý thức đã hình thành được những khái niệm về tướng trạng (không phải tính trạng), về tổng hợp,
phương hướng v.v... của đối tượng để lưu thêm vào ngăn vật khái niệm hoặc nghĩa khái niệm trong kho bhavaṅgạ
1.ạ4) Tiến trình hình
thành danh khái niệm (nāmaggahana vīthi): khi đã định được tướng trạng của đối tượng là gì thì liền
định danh, định nghĩa hay
kết luận về đối tượng ấỵ Tiến trình danh khái niệm diễn ra như sau:
-
Hữu phần rung động (1 sát-na)
-
Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt và xác định đối tượng vật (nghĩa) khái niệm do tiến trình khái niệm hóa vừa
cung cấp.
-
Tốc hành tâm (7 sát-na) đặt hoặc gọi tên đối tượng mà ý môn hướng tâm vừa
cung cấp.
-
Hữu phần (2 sát-na)
lưu trữ trực tiếp không cần đồng
sở duyên sao lưụ
Đến đây
ý thức đã định được hoặc
hồi tưởng được tên gọi của đối tượng để lưu thêm vào ngăn danh khái niệm trong kho bhavaṅgạ
Ví dụ như khi mắt
chúng ta nhìn thấy một vật (chẳng hạn một trái cây) thì sát-na đầu chỉ là
nhãn thức, sau đó mất 3 sát-na nữa để
tiếp thu, suy đạc và xác định đối tượng thực tánh ấy một cách tổng quát cho các bước sau
hoàn thành tiến trình tâm qua
nhãn môn và
chuyển giao cho 4 tiến trình
ý thức tiếp trợ làm công việc phân tích, tổng hợp,
định tướng và
định danh với
kết luận đó là trái ổi hay trái xoàị
Thường đối với năm thức thì vật khái niệm (attha paññatti) được hình thành trước rồi mới đến danh khái niệm (nāma paññatti). Nghĩa là
chúng ta biết đối tượng là vật (attha) gì trước khi
liên tưởng đến tên (nàma) gọi của nó. Ví dụ như khi thấy (
nhãn thức) một vật
chúng ta liền biết vật đó hình thù màu sắc như thế nào rồi mới biết tên nó là trái cam hay trái mận. Cũng vậy khi nghe một
âm thanh, ngửi một mùi v.v...
Riêng với
nhĩ thức, trong
trường hợp nghe một tên gọi thì danh khái niệm hình thành trước vật khái niệm. Vì
chúng ta nghe tên “trái cam” trước rồi mới tưởng ra hình thù hương vị của trái cam saụ
Trong 4 tiến trình tiếp trợ trên thì đối tượng của 2 tiến trình phân tích và tổng hợp vẫn là thực tánh
quá khứ do tiến trình
nhãn thức ngay trước đó
cung cấp. Đây là một loại
trực giác tâm lý trong
triết học phương Tâỵ
Tiến trình thứ 3 có đối tượng là vật (nghĩa) khái niệm vì đối tượng thực tánh do các giai đoạn trên
cung cấp đã được khái niệm
hóa thành tướng chế định
chủ quan.
Tuy nhiên, đây vẫn là một loại
chủ quan còn sơ phác, chưa phải là loại
chủ quan kiên cố hơn được hình thành trong tiến trình tâm
đơn thuần mà
chúng ta sẽ nói saụ
Tiến trình thứ 4 có đối tượng là danh khái niệm vì đối tượng vật khái niệm đã được mã
hóa thành một ký hiệu để đặt tên cho nó. Đến đây thì tính
chủ quan có phần
gia tăng, nhưng phải đến ý môn tiến trình tâm
đơn thuần mới hình thành
quan niệm,
định kiến,
chấp thủ hay
bóp méo sự thật.
1.b) Ý môn tiến trình tâm
đơn thuần (suha manovāra vīthicitta) hay
ý thức đơn thuần là
ý thức nội phát với đối tượng nội cảnh gọi là
pháp trần, không
lệ thuộc vào
ngũ môn bên ngoàị Đối tượng nội cảnh này
phong phú hơn nhiều so với tiến trình
ý thức tiếp trợ. Ngoài
ấn tượng về 5
tiền trần, đối tượng nội cảnh còn có tâm,
tâm sở, khái niệm và Niết-bàn. Tiến trình
ý thức đơn thuần diễn ra như sau:
-
Hữu phần rung động (1 sát-na)
-
Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt và xác định các đối tượng nội cảnh.
-
Tốc hành tâm (7 sát-na)
thái độ phản ứng có
tính thiện,
bất thiện trên đối tượng.
- Đồng
sở duyên (2 sát-na) lưu lại bản sao của tiến trình.
Duy Thức gọi
ý thức đơn thuần này là
độc đầu ý thức gồm suy trung
ý thức (
suy tính), mộng trung
ý thức (giấc mơ), loạn trung
ý thức (hoang tưởng), tán vị
ý thức (
suy nghĩ miên man bất định).
2. Ý môn tiến trình tâm có
tốc hành tâm an chỉ (appanā javana mano dvāra citta vīthi): nghĩa là tiến trình tâm của các bậc định
sắc giới,
định vô sắc giới hay tâm
siêu thế.
Thực ra đây cũng là một loại
ý thức đơn thuần cao cấp và
đặc biệt, có thể
so sánh tương đương với định trung
ý thức trong
Duy Thức.
Ví dụ:
1) Tiến trình tâm thiền thứ
nhất sắc giới diễn ra như sau:
- Ý môn hướng tâm
- Chuẩn bị (parikamma): đã sẵn sàng cho tâm thiền sắc thứ nhất.
- Cận hành (upacāra): đã gần với tâm thiền sắc thứ nhất.
-
Thuận thứ (anuloma): thuận dòng
đi vào tâm thiền sắc thứ nhất.
- Chuyển tánh (gotrabhū): chuyển
từ tâm dục giới qua tâm sắc giớị
- Thiền thứ nhất (pathama rūpa jhāna): tâm an chỉ (appanā) với tầm, tứ, hỷ, lạc,
nhất tâm.
2) Tiến trình tâm thiền thứ nhất
vô sắc giới diễn ra như sau:
- Ý môn hướng tâm
- Chuẩn bị: đã sẵn sàng cho tâm
thiền vô sắc thứ nhất.
- Cận hành: đã gần như tâm
thiền vô sắc thứ nhất.
-
Thuận thứ: thuận dòng
đi vào tâm
thiền vô sắc thứ nhất.
- Chuyển tánh: chuyển
từ tâm sắc giới qua tâm
vô sắc giớị
-
Không vô biên xứ: Tâm an chỉ trong
thiền vô sắc giới thứ nhất với
nhất tâm và xả.
3) Tiến trình tâm
siêu thế của bậc Thánh Tu-đà-hoàn diễn ra như sau:
- Chuẩn bị: đã sẵn sàng cho tâm nhập dòng
siêu thế.
- Cận hành: đã gần như tâm nhập dòng
siêu thế.
-
Thuận thứ: thuận dòng
đi vào tâm
siêu thế Dự Lưụ
- Chuyển tánh: chuyển
từ tâm hiệp thế qua tâm
siêu thế.
- Tu-đà-hoàn Đạo: tâm
chấm dứt thân kiến,
hoài nghi,
giới cấm thủ, lấy Niết-bàn làm đối tượng.
- Tu-đà-hoàn Quả.
Tóm lại, nơi một pháp
tùy theo loại tiến trình tâm
nhận thức thuộc tưởng tri, thức tri, thắng tri,
tuệ tri hay
liễu tri [xem mục
Nhận Thức IỊ2] mà thấy thực tánh hay khái niệm
thị phi, thiện ác… Còn tự thân pháp ấy vẫn như nó đang là (what is being) chứ không phải như
hiện tướng (that is being) được thấy là.
Trong
bài kệ truyền pháp của Tổ
Thiền Tông thứ 9, Buhamitra (Phục-đà-mật-đa), cho Tổ thứ 10, Parsvika (
Hiếp Tôn Giả), nói rõ:
“Chân lý bổn
vô danhNhân danh hiển
chân lýThọ đắc
chân thực pháp
Phi chân diệc phi ngụỵ”
(
Chân lý vốn không tên
Nhờ tên tỏ
chân lýNhận được
pháp chân thật
K hông thật cũng không giả).
Bổn pháp,
vô pháp, bổn lai pháp,
chân lý,
chân thực pháp… là những từ khác nhau nhưng cùng chỉ cho tự thân
sự thật như nó là tức thực tánh pháp (paramattha). Thực tánh pháp luôn
hiện diện trước mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhưng ngay sau đó
tâm trí đã biến nó thành hay qui nó vào
phạm trù vật khái niệm (attha paññatti) rồi lại đặt cho nó tên gọi qua danh khái niệm (nāma paññatti). Chỉ có
trí tuệ chánh niệm tỉnh giác, thâm bát-nhã, hay
chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn
diệu tâm mới thấy được thực tánh pháp, bằng không
chúng ta chỉ thấy pháp qua
phạm trù khái niệm
chủ quan mà thôị [Xem mục Đối Tượng IỊ3]. Trong danh khái niệm, tên gọi,
ngôn ngữ,
văn tự chỉ là
phương tiện để
diễn đạt chân lý chứ không phải tự thân
chân lý ấỵ Cho nên, khi thấy được thực tánh
chân thật của pháp là đã
vượt qua thế giới khái niệm thật giả,
thị phi, sạch dơ, xấu tốt… của danh xưng, ngữ nghĩạ
Cũng với ý đó, Tổ Parsvika đã
triển khai thêm trong
bài kệ phó chúc cho Tổ thứ 11 Punyayasas (Phú-na-dạ-xa):
“Chân thể
tự nhiên chân
Nhân
chân thuyết hữu lý
Lãnh đắc chân
chân phápVô hành diệc vô chỉ.”
(Thể chân, chân
tự nhiênDo từ
chân thuyết lý
Lãnh hội pháp chân ấy
Chẳng đi cũng chẳng dừng).
Theo thiền
Nguyên Thủy thì
pháp tánh (paramattha dhammatā) vốn chân nơi tánh
tự nhiên của nó (sabhāva) như nó là (yathābhūtam).
Đức Phật và các bậc
giác ngộ từ chỗ thấy
pháp chân tánh ấy (yathābhūtā ñāṇaassana) mà nói ra để chỉ bày
sự thật chứ không phải các ngài tự ý đặt ra
triết thuyết theo
quan điểm riêng tư của mình.
Toàn bộ Giáo Pháp do chính
đức Phật dạy (Buhasāsana) là ngón tay chỉ
mặt trăng chân lý tự nhiên ấy (
nhất thiết tu-đa-la
giáo như tiêu nguyệt chỉ). Và trong Majjhima Nikāya chính
đức Thế Tôn xác định rằng: “Dù
Như Lai ra đời hay không ra đời thì pháp vẫn vậy”. Các pháp vốn chân trong
chân tánh tự nhiên và tự nội nhưng tùy cái nhìn của mỗi người mà có đúng có sai, có cấu có tịnh.
Thực ra, như
đức Phật dạy khi
tâm thanh tịnh thì thấy các pháp đều
thanh tịnh, cho nên khi đã thấy
pháp tự nhiên chân ấy rồi thì không còn đi hay dừng nữạ
Một hôm có người
đạo sĩ đến hỏi
đức Phật làm thế nào
thoát khỏi bộc lưu (
luân hồi sinh tử ví như dòng nước chảy
cuồn cuộn).
Đức Phật trả lời: “Như lai không
bước tới không dừng lại mà
thoát khỏi bộc lưu”.
Đạo sĩ không hiểu, hỏi vì saọ
Đức Phật nói: “Vì
bước tới thì bị cuốn trôi, dừng lại thì bị chìm đắm”. (Saṃyutta Nikāya).
Chúng ta luôn
bất mãn với
hiện tại và cố tiến về phía trước để nắm bắt một
lý tưởng, một
sở cầu,
sở nguyện, sở đắc nào đó, và
dĩ nhiên nó chỉ là phóng ảnh ở tương lai của
lòng dục vọng. Chính
lòng dục vọng này cuốn trôi
chúng ta vào dòng lũ của
tử sinh luân hồị Hoặc ngược lại,
chúng ta say đắm trong
hiện tại, chỉ lo hưởng thụ những đối tượng
ưa thích rồi chấp giữ, dính mắc và đắm chìm, sa đọạ Người
giác ngộ, đã thấy chân
chân pháp hay
pháp chân đế (paramattha sacca) thì luôn sống thuận pháp (dhammānuhamma paṭipanno viharati) nên không
cần phải bước tới mà cũng không dừng lại bất cứ nơi nào trên dòng sự sống vốn
trôi chảy không ngừng.
(
Một sinh viên hỏi:)
-
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tri
kiến lập tri tức
vô minh bổn”. Vậy có phải tánh biết vốn
trong sáng,
chư pháp vốn
chân thật, do khởi niệm tìm biết mà tạo ra gốc vô minh?
- Đúng vậy,
tri kiến là nói tắt cụm từ kiến – văn – giác - tri tức cái biết trực tiếp
ban đầu của sáu
căn môn đối với
sáu trần cảnh. Nếu cái biết đó được
soi sáng chân thật gọi là
chánh kiến, nếu bị nhiễm
sai lầm gọi là
tà kiến, nếu cái biết hoàn mãn
toàn diện gọi là Thánh (hay Phật)
tri kiến.
Nguyên nhân vô minh tà kiến chính là do quá trình hình thành
tư tưởng,
quan niệm,
kết luận, định kiến… từ những khái niệm (paññatti) mà khái niệm thì không phải là thực tánh, nó được chế định
vì lợi ích con người nhưng phần lớn lại là khái niệm
không thật. Đã lập tri tức
dựa trên những khái niệm để rồi rơi vào tưởng tri và thức tri cho nên gọi là “vô minh bổn”.
Trong kệ
Pháp cú,
đức Phật dạy: “Quả thật trong sự sụp đổ của chính mình, người ngu đi tìm
sở tri và sở đắc mà không biết rằng hai điều này làm phân hoá đầu óc nó”.
Tổ
Thiền Tông thứ 12 Asvaghosha (
Mã Minh), cũng là người đầu tiên
đề xướng Đại Thừa, trong
bài kệ truyền pháp cho tổ thứ 13 Kapimala (Ca-tỳ-ma-la), đã
nhấn mạnh tính
bất nhị mà người
giác ngộ không chọn lựa không thủ xả:
“Ẩn hiển tức bổn pháp
Minh ám nguyên
bất nhịKim phó ngộ liễu pháp
Phi thủ diệc
phi khí.”
(Ẩn hiển chung pháp gốc
Minh ám vốn không hai
Nay trao pháp
liễu ngộKhông lấy cũng không bỏ).
Ẩn là
tự tánh paramattha, hiển là
các loại khái niệm paññattị Trong
phạm trù paññatti mới có khái niệm tối sáng, trắng đen, xấu tốt, thị phi… nhưng ngay nơi paramattha thì
pháp tánh vẫn không haị
Minh ám nguyên
bất nhị còn có nghĩa là khi minh thấy tánh của minh, khi ám thấy tánh của ám chứ không nên lấy minh và ám
đối kháng với nhaụ Trong
kinh Tứ Niệm Xứ đức Phật dạy khi si thấy si, khi không si thấy không si, tức ở nơi mỗi pháp vẫn luôn thấy
bất nhị.
Vì vậy, người
liễu ngộ pháp tánh này không còn lâm vào
thái độ đối kháng hay chọn lựa
nhị nguyên theo tư ý
tư dục nên cũng không
cần phải gia công nắm giữ hay
lìa bỏ bất cứ điều gì.
Thiền sư Huyền Giác, trong
Chứng Đạo Ca, nói:
“Tuyệt học
vô vi nhàn đạo nhânBất trừ
vọng niệm bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức
Phật tánhHuyễn hoá không thân tức
Pháp thân.”
Kinh Tứ Niệm Xứ mô tả vị
hành giả: “… vị ấy sống không nương tựa (anissito),
không chấp trước (na upādayati) điều gì trên đời (loke)”. Chỉ cần ngay khi đi
tuệ tri đang đi… khi thọ khổ
tuệ tri thọ khổ… khi tâm sân
tuệ tri đang sân… khi mắt nhìn thấy sắc
tuệ tri mắt, sắc, và
nhân duyên sinh diệt của các kiết sử… chứ không cần gia thêm
ý niệm thủ xả nàọ
(
Một sinh viên hỏi:)
-
Không chấp trước thì
dễ hiểu, nhưng cái sai cái xấu thì sao lại không buông bỏ?
- Ai cũng biết tu là sửa, sửa có nghĩa là bỏ cái xấu lấy cái tốt. Điều này thì rất đúng trên
phương diện tục đế (sammuti sacca), giữa
thế gian, nhưng trong tánh đế hay
chân đế (paramattha sacca) thì không. Thiền vipassanā và thiền
kiến tánh đều lấy
chân đế (tánh) làm đối tượng nên điều quan trọng là thấy được thực tánh của pháp chứ không phải
sửa đổi hay lấy pháp này bỏ pháp kia theo
ý muốn của
bản ngã. Do
vô minh không thấy thực tánh mà bị
ái dục sai sử đưa đến nghiệp tạo tác có đúng có saị
Sửa sai trong
vô minh của
bản ngã thì chỉ tốt ở đời, nghĩa là chỉ có
phước đức chứ không
công đức gì cả.
Ví như một người nắn cái bánh hình vuông, thấy người ta nắn hình tròn đẹp hơn nên sửa hình vuông thành tròn,
thực ra bản chất của cái bánh vẫn như cũ. Cũng vậy, có thể sửa xấu thành tốt nhưng
bản ngã thì vẫn còn nguyên, thậm chí còn sinh ra
ngã mạn tự cao hơn nữạ
Trong Vi Tiếu có
câu chuyện: Một
thiền sinh đến hỏi vị
thiền sư:
- Có phải tu là sửa không?
Sư nói:
- Không.
- Vậy là không sửả
- Cũng không.
Thiền sinh không hiểu, thắc mắc:
- Như vậy tu phải làm saỏ
Sư đáp:
- Không sửa thì kẹt cái này, sửa thành ra cái khác.
Chỉ cần trong
pháp không mê, còn
pháp tự biết phải làm gì trong sự
vận hành tất yếu của chính nó.
Pháp tự sinh tự hoá, tự xả tự diệt không cần
bản ngã xen vào nắm giữ hay loại trừ theo tư ý
tư dục của mình làm cho
vấn đề càng
rắc rối thêm.
Tổ
Thiền Tông thứ 14 là Nagarjuna (
Long Thọ), cũng là vị tổ xiển minh
triết học tánh không (
Trung Quán Luận)
một lần nữa
xác nhận tính bất khả
chứng đắc của pháp, trong
bài kệ phó chúc cho tổ thứ 15 Kanaeva (Ca-na-đề-bà):
«Ư pháp tâm bất chứng
Vô sân diệc vô hỷ.»
(Nơi pháp
tâm không chứng
Không phiền cũng chẳng vui).
Theo
tinh thần thiền vipassanā được ghi trong Kinh Đại
Tứ Niệm Xứ là “…tinh cần (ātāpī),
chánh niệm (satimā),
tỉnh giác (sampajāno), không tham ưu điều gì ở đời (natthi loke abhijjhā domanassaṃ)”.
Vì pháp là
vô thường,
vô ngã nên không có người
chứng đắc, không có pháp sở đắc, nghĩa là chỉ cần
chánh niệm tỉnh giác để thấy đúng thực tánh của pháp chứ không để cho
tham ái (abhijjhā) và
sân hận (domanassa)
xen vào chi phốị Từ
chứng đắc thường được dùng trong kinh
hoàn toàn không có nghĩa là nắm giữ một pháp sở đắc nào mà
ám chỉ là đã thể nghiệm qua một tiến trình tâm trên đối tượng thực tánh của pháp. Để thể nghiệm
trung thực và
chính xác như
vậy thì không được
phán đoán chủ quan theo tình cảm hỷ ưu của mình.
Tổ thứ 16 Rahulata (La-hầu la-ta) trong
bài kệ truyền pháp cho tổ thứ 17 Sanghanandi (Tăng-già-nan-đề) vẫn khẳng định lại những yếu tính của
Thiền Tông, mà đó cũng chính là
cốt lõi của thiền vipassanā
Nguyên Thủy:
«Ư pháp thật
vô chứngBất thủ diệc bất ly
Pháp
phi hữu vô tướngNội ngoại vân hà khởi»
Chính vì pháp thật sự không thể nắm bắt được (ư pháp thật
vô chứng) nên cũng không thể
từ bỏ hay giữ lại (bất thủ diệc bất ly). Trong thiền vipassanā, điều này rất rõ vì
chánh niệm tỉnh giác không thể dừng lại, cho dù chỉ hai sát-na, trên bất kỳ đối tượng nào, giống như người rơi kiếm trên sông mà lại
đánh dấu mặt nước để tìm thì
tuyệt không thể được. Ngay cả định cũng chỉ có thể định trên một tướng do tưởng sinh chứ không thể định trên thực tánh của
đề mục.
Nếu ngay nơi thực tánh
pháp hành giả
hoàn toàn chánh niệm tỉnh giác thì khái niệm có không,
thiện ác, đúng sai… không thể
xen vào (pháp
phi hữu vô tướng) nên không những
nội tâm tịch tịnh mà đối tượng cũng
hoàn toàn trung thực như nó là, thì trong ngoài làm sao khởi
vọng niệm (
nội ngoại vân hà khởi).
(
Một sinh viên hỏi:)
- Ai cũng biết
giáo lý cơ bản của
Phật giáo, chung cho cả
Nguyên Thủy và Phát Triển, gói gọn trong câu kệ
Pháp Cú:
«Chư ác
mạc tácChúng thiện
phụng hànhTự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáọ»
Hơn nữa trong
pháp môn Tứ Chánh Cần,
đức Phật dạy:
Ác vị sanh sử
bất sanhÁc
dĩ sanh sử
trừ đoạnThiện vị sanh sử phát sanh
Thiện
dĩ sanh sử
tăng trưởng.
Như vậy, có phải
hoàn toàn trái với tinh thần “minh ám bất nhị”, “bất thủ bất khí” của
Thiền Tông và “không tham ưu”, “không chấp trước” của Thiền Vipassanā không?
- Câu hỏi này
tương tự như câu hỏi trước nhưng
rõ ràng hơn. Tất nhiên những điểm
giáo lý cơ bản trên cũng như nhiều
pháp môn tu tập thuộc
giới phần, định phần do
đức Phật dạy đều
hoàn toàn chính xác trong
lãnh vực có đối tượng là khái niệm chế định (paññatti) theo
tục đế (sammuti sacca), trong khi
Thiền Tông và Thiền Vipassanā thì lấy đối tượng là thực tánh pháp (sabhāva) theo
chân đế (paramattha sacca) nên cách
thể hiện có khác nhau nhưng không
mâu thuẫn.
Chúng ta thường hiểu lầm lời dạy của chư Phật, chư Tổ, điển hình như trong hai điểm
giáo lý cơ bản nêu trong câu hỏi mà
chúng ta dễ dàng thấy đó là pháp
đối trị: từ
đối trị sân, thiện
đối trị ác, minh
đối trị ám v.v... và cũng có nghĩa là lấy pháp này bỏ pháp kia, giữ pháp này loại pháp nọ. Nguyên tắc thỉ
hoàn toàn đúng nhưng
hiểu lầm trong cách
thể hiện. Nếu
thể hiện trong
tu tập đúng thì không hề có
mâu thuẫn giữa hai
lãnh vực.
Đối trị nhưng không có nghĩa như lấy thuốc trụ sinh để diệt virus. Không phải lấy
tâm từ để diệt sân hận… mà khi bạn có niệm từ thì niệm sân không khởị
Định luật của tâm là không bao giờ có hai tâm cùng khởi, vậy làm sao có từ và sân cùng
hiện diện để phải
đánh nhau một mất một còn được. Nếu
chúng ta thường có tâm từ thì sân không có mặt, nghĩa là không cần
gia tâm đối trị mà
pháp tự đối trị, nên trong mỗi tâm vẫn
bất nhị không hề có
nhị nguyên đối kháng mà vẫn
hoàn toàn đúng với
pháp môn tinh tấn và câu
kệ ngôn “chư ác mạc tác…” như đã nói trên.
Trong Thiền Vipassanā và
Thiền Tông điều này càng rõ hơn khi ngay nơi một niệm
trọn vẹn (
chánh niệm) với niệm ấy và không mê mờ (
tỉnh giác) trong niệm ấy thì không cần
gia tâm thủ xả mà pháp sẽ tự
chuyển hoá trong
vận hành của nó.
Tổ Sanghanandi (Tăng-già-nan-đề) thứ 17
phó chúc cho Tổ Gayasata (Già-da-xá-đa) thứ 18
bài kệ truyền pháp:
«Tâm địa bổn
vô sanhNhân địa tùng
duyên khởiDuyên chủng bất tương phương
Hoa quả diệc phục nhĩ.»
(Đất tâm vốn
không sinhNương đất theo
duyên khởiGiống duyên chẳng hại nhau
Hoa quả cũng như vậỵ)
Tâm địa ở đây
ám chỉ thực tánh của tâm. Thực tánh của tâm hay của pháp
dĩ nhiên đều
không sinh.
Và khi xúc duyên mới sinh khái niệm, qua tiến trình tâm hay
thập nhị duyên khởị Đó cũng là chuyện
tự nhiên, chỉ cần sinh mà
không chấp thủ (
Kinh Kim Cang: Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm), không hại nhau (bất tương phương) thì sinh càng nhiều càng tốt mới đại dụng (
hoa quả), như
Lục Tổ nói: “Đối cảnh
tâm sổ khởi” chứ đâu
cần phải bám trụ
vô sinh. Bám trụ
vô sinh là “trầm không trệ tịch”.
Điều này
một lần nữa được xác chứng trong
bài kệ truyền pháp Tổ thứ 18 Gayasata cho Tổ thứ 19 Kumarata (Cưu-ma-la-đa):
«Hữu chủng
hữu tâm địa
Nhân duyên năng phát manh
Ư duyên bất tương ngại
Đương sanh, sanh
bất sanh.»
(Có giống có đất tâm
Do duyên thường nẩy mầm
Nơi duyên không
đối ngạiĐang sinh, vẫn
bất sinh).
Trong
pháp hành thiền vipassanā,
tinh thần ngay
nơi sinh diệt thấy rõ thực tánh
sinh diệt (uppādavaya dhammino) chính lả
không sinh diệt luôn được
thể hiện trong
chánh niệm tỉnh giác đối với tất cả
pháp hữu vị
Lão Tử Đạo Đức Kinh nói: "Phù duy bệnh bệnh thị dĩ bất bệnh”, dù bệnh thân hay bệnh tâm (
phiền não) nếu thấy nó như nó là tức đã không còn
bệnh hoạn phiền não nữạ Vậy
vô sanh ở đây không có nghĩa là
cố gắng giữ yên không cho
sinh khởi mà chỉ cần không mê mờ
nơi sinh khởi thì vẫn “đương
sanh sanh bất sanh”.
(
Một sinh viên hỏi:)
- Thưa thầy, khi con chăm chú nghe giảng thì con hiểu được lời giảng, nhưng khi con quay lại biết con đang nghe thì con không hiểu thầy giảng gì. Như vậy có phải là
nghe pháp và nghe lại chính mình “tương phương”, “tương ngại” không và làm sao để “Duyên chủng bất tương phương” hay “Ư duyên bất tương ngạỉ
Tổ Cưu-ma-la-đa trong
bài kệ truyền pháp của mình đã chỉ rõ thêm cho Tổ thứ 20 Jayata (Xà-dạ-đa) mối băn khoăn của
đa số hành giả là phải
giải quyết sinh tử thế nào:
«Tánh thượng bổn
vô sanhVị đối cầu
nhân thuyếtƯ pháp ký vô đắc
Hà hoài quyết bất quyết.»
(Trong tánh vốn
không sinhVì người cầu mới nói
Nơi pháp đã không được
Cần gì giải cùng không).
Hành giả khi chưa thấy pháp (ngộ) thường
lúng túng trong việc
giải quyết sinh tử,
phiền não và luôn rơi vào
tình trạng đối kháng vọng, và tầm cầu chân. Điều này chỉ làm tiêu hao
năng lực vì
đối kháng vọng là
sân si, tầm cầu chân là
tham ái đưa đến “ư duyên tương ngại”. Người thấy pháp đã biết nơi thực
tánh không sinh cũng không đắc nên
giải quyết hay
không giải quyết đều
tùy duyên, không thành
vấn đề, không gì trở ngạị
Toàn bộ kinh Tứ Niệm Xứ Nguyên Thủy đều biểu hiện rất rõ nét điều này khi
chánh niệm tỉnh giác trên thực tánh của thân, thọ, tâm, pháp, bên trong và bên ngoàị Thân, thọ, tâm, pháp luôn luôn
chuyển biến nên
chánh niệm tỉnh giác phải sâu kín mới thuận dòng pháp để thấy tận thực tánh, hễ hời hợt dừng lại nơi
hiện tướng bên ngoài là rơi vào
lý trí tình thức, rơi vào
phiền não tử sinh. Đó cũng là
ý nghĩa bài kệ truyền pháp của Tổ thứ 22 Manorhita (Ma-noa-la):
«Tâm tùy
vạn cảnh chuyển
Chuyển xứ thực năng u
Tùy lưu nhận đắc tánh
Vô hỷ phục vô ưụ»
(Tâm theo
vạn cảnh chuyển
Chỗ chuyển thực
thâm sâuThuận dòng
nhận ra tánh
Không vui lại chẳng sầu).
Đây là điều những
hành giả sâu sắc trong thiền vipassanā đều thấy rõ
một cách cụ thể từng sát-na mà cũng là điều mà Tổ
Huệ Khả sau này nói là “rõ ràng thường biết” (liễu liễu thường tri).
(
Một sinh viên hỏi:)
- Tâm, tánh vốn
vô sanh, vậy có phải trước một niệm sanh và sau một niệm dứt là tâm
vô sanh ấy không?
- Cũng đúng, cũng không đúng. Phải xem trước một niệm sinh và sau một niệm dứt là tâm gì mới được. Nếu đó là bhavaṅga hay
a-lại-da thức thì tuy
không sinh khởi nhưng chứa đầy mầm móng
sinh khởi của
vô minh ái dục gọi là
tùy miên (anusaya) nên không phải là
vô sanh.
Vô sanh đúng nghĩa là ngay khi sinh vẫn không muội, tánh giác không mất nên mới nói “Đương sanh, sanh bất sanh”.
(
Một sinh viên khác:)
- Khi con đang
ngồi thiền mà dòng
tư tưởng hiện lên lúc đó con phải làm gì?
- Đừng
cố gắng giải quyết, đừng đè nén
đối kháng, đừng
kết luận nó là chơn hay vọng, đừng tỏ
thái độ giữ hay bỏ, tham hay ưụ
Đơn giản chỉ cần
sáng suốt thấy rõ nó đang
sanh diệt như nó là. Chủ yếu không muội (minh, giác) chứ không
lăng xăng giải quyết theo tư ý
tư dục của
bản ngã.
Như
chúng ta đã thấy, tính biết (
giác tánh) trong
trí tuệ chánh niệm tỉnh giác (thiền
nguyên thủy) hay trong “liễu liễu thường tri” (thiền phát triển) không phải là cái biết của tưởng tri (sañjānāti), thức tri (vijānāti) hay
tỷ lượng thông thường trong
phạm trù khái niệm (paññatti) và
kiến thức qua
đánh giá,
so sánh,
vì vậy là cái biết không thể nghĩ bàn (aciñteyya) mà
Lão Tử gọi là “tri bất tri thượng” nên ông nói: “tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” hay "trí giả nhược ngu”. Krishnamurti cũng nói “người nào tự cho mình đã biết cái gì thì anh ta chưa biết gì cái đó”. Theo
Thiền Tông, hễ cho rằng đã biết bổn tâm bổn tánh chính là đang mắc phải bệnh thiền.
Đơn giản chỉ vì tánh biết trực tiếp của
tuệ giác trên thực tánh pháp (paramattha) không phải là cái biết
gián tiếp của thức tri trên tướng
giả định (paññatti). Đó là
lý do tại sao Tổ thứ 23 Haklena (Hạc-lặc-na) trong
bài kệ truyền pháp của mình đã nói:
«Nhận đắc
tâm tánh thời
Khả thuyết bất tư nghì
Liễu liễu vô
khả đắcĐắc thời bất thuyết trị»
(Lúc
nhận ra tâm tánhMới nói không nghĩ bàn
Rõ ràng không
thể đạtLúc đạt chẳng nói biết).
Thức tri
dựa trên kiến thức thu thập hay vay mượn từ bên ngoài nên có thể nói là biết, như nói tôi biết đây là cái bàn, đây là cây viết v.v... còn
tri kiến chơn chánh là
vô ngôn nên thấy biết trực tiếp đối tượng thực tánh, không rơi vào
ý niệm thị phi, như Tổ thư 25 Basiasita (Bà-xá-tư-đa) đã nói trong
bài kệ truyền pháp:
«Thánh
nhân thuyết tri kiếnĐương cảnh vô thị phị»
Phật tri kiến, Thánh
tri kiến không thể nói đó là cái biết theo
nghĩa thông thường trong
thế giới ý niệm được, mà đó chính là
Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết-bàn
Diệu Tâm vậỵ
Nhiều nhà
nghiên cứu thiền học nghi ngờ Thiền
Tây Trúc (
Thiên Trúc) chỉ là một
hình thức lịch sử hư cấu, hay đúng hơn chỉ là huyền thoạị Chính Thiền
Đông Độ do Tổ Đạt-ma
sáng lập mới thật sự là
Thiền Tông phát xuất từ
điều kiện văn hoá,
xã hội,
triết học, tôn giáo… đặc thù của đất nước Trung Hoa, và sự vận dụng
tài tình của
Bồ-đề Đạt-ma cùng với sự phát huy
tuyệt vời của Tổ
Huệ Năng đã đưa Thiền
Đông Độ lên đến đỉnh cao trong hệ
Phật Giáo Phát Triển,
đồng thời lại
đạt được sự khế hợp rất nhuần nhuyễn với hệ Thiền
Phật Giáo Nguyên Thủỵ
Tuy nhiên, phải nói rằng cho dù những bải kệ
truyền pháp chỉ do một người
đời sau đặt ra, thì
giá trị thiền lý trong những
bài kệ ấy vẫn rất cao, và nhất là rất
phù hợp với thiền sự trong
pháp hành Thiền Nguyên Thủỵ Điều này
chứng tỏ rằng dù
Thiền Tông Tây Trúc không có thật như được ghi
trong lịch sử 28 vị Tổ
Thiền Tông trên đất Ấn thì, không
nghi ngờ gì,
cốt lõi của thiền vẫn đồng nhất và xuyên suốt từ
Nguyên Thủy đến Phát Triển.
(
Một sinh viên hỏi:)
- Chư Tổ nói: Tâm, pháp đều
bất khả đắc, bất khả chứng, trong khi có nhiều
ngữ lục khác lại nói
đắc pháp,
chứng đạo v.v... như vậy có
mâu thuẫn không?
- Trong những
thành ngữ vô chứng, vô đắc, bất khả
chứng đắc thì chữ chứng, chữ đắc có nghĩa là nắm giữ,
chiếm hữu một sở đắc hằng
mong ước. Điều này chỉ có thể được trong khái niệm chế định, còn trong thực tánh pháp thì đúng là không thể được.
Ngược lại, trong nhóm từ
đắc pháp,
chứng đạo thì đắc, chứng chỉ có nghĩa là đã trải nghiệm qua một tiến trình tâm mà thôi chứ không có ai và có gì để nắm giữ hay
chiếm hữu cả.
Chứng đắc trong
ngôn ngữ Paḷī là sacchikiriyā hay sacchikaraṇa do động từ sacchikaroti có nghĩa là trải nghiệm hay
chứng kiến một
sự kiện. Với nghĩa này thì thực tánh mới có thể
chứng đắc thật sự, còn khái niệm chế định thì không thể nào được. Vậy do
chúng ta nhầm lẫn ngữ nghĩa mà hiểu sai chứ các
thiền sư không
mâu thuẫn nhau đâụ
B.
Thiền Tông Đông Độ:
Đông Độ ám chỉ Trung Quốc để
phân biệt với
Tây Trúc tức
Ấn Độ,
vì vậy Thiền
Đông Độ cũng được gọi là
Thiền Tông Trung Hoạ Trước khi
Thiền Tông Trung Hoa ra đời,
Phật Giáo bản xứ đã có một bề dày
lịch sử hơn 5 thế kỷ,
ít nhất cũng từ thời Hậu Hán, thế kỷ thứ I CN. Vị
sơ tổ sáng lập Thiền Tông Trung Hoa là một
nhà sư Ấn Độ tên Bohiharma (
Bồ-đề Đạt-ma), sang Trung Hoa bằng đường biển, vào
triều đại Lương Võ Đế, cuối tiền bán thế kỷ thứ 6 CN (528-536), tức khoảng trên 1.100 năm sau
Đức Phật Niết-bàn. Tổ Đạt-ma
truyền y pháp cho Nhị tổ
Huệ Khả (487-593), Nhị tổ truyền cho Tam
tổ Tăng Xán (?-606), rồi đến Tứ
tổ Đạo Tín (580-651),
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn (602-675) và
cuối cùng là
Lục tổ Huệ Năng (638- 713). Sau
Lục tổ tuy không còn
truyền y pháp nhưng
Thiền Tông Trung Hoa
tiếp tục phát triển rất đa dạng và
phong phú,
đặc biệt là sự hình thành của năm thiền phái gọi là
ngũ gia thiền tông:
1) Tông
Qui Ngưỡng do
thiền sư Linh Hựu (771-853) khai sáng, để lại Đàm Châu
Qui Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục.
2)
Tông Lâm Tế do
thiền sư Nghĩa Huyền (787-867)
sáng lập,
lưu truyền Trần Châu Lâm Tế Huệ Chiếu
Thiền Sư Ngữ Lục, gọi tắt là
Lâm Tế Ngữ Lục.
3) Tông
Tào Động do
thiền sư Lương Giới (807-889) xiển khai,
tác phẩm lưu lại có
Bảo Cảnh Tam Muội Ca, Huyền Trung Minh. 4) Tông
Vân Môn do
thiền sư Văn Yển (864-949)
chủ xướng, có
Vân Môn Khuông Châu
Thiền Sư Quảng Lục.
5)
Tông Pháp Nhãn do
thiền sư Văn Ích (885-958)
sáng lập, có
lưu hành Kim Lăng
Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư Ngữ Lục. Về sau chỉ còn lại hai
tông Lâm Tế và
Tào Động, nhất là
tông Lâm Tế được
truyền thừa rộng rãi và
lâu dài nhất.
Thiền Tông ra đời trong một bối cảnh
lịch sử triết học,
tôn giáo Trung Hoa vừa rất
phong phú vừa rất
phức tạp. Ngoài
Khổng Giáo,
Lão Giáo với những
hệ thống tư tưởng triết học,
tôn giáo, chính trị đã
thấm nhuần sâu sắc tại
bản địa,
Phật Giáo cũng đã được
du nhập và tạo một
uy tín lớn lao, ăn sâu tận gốc rễ trong mọi tầng lớp người dân Trung Hoa, với nhiều hệ
tư tưởng Phật học liên hệ đến các
bộ kinh, luận
nổi tiếng của cả
Tiểu Thừa lẫn
Đại Thừa trong hệ
Phật Giáo Phát Triển (nhưng hầu như chưa có
Kinh Điển Pāḷi Chánh Tạng nào của
Phật Giáo Nguyên Thủy được dịch thuật, ngoại trừ bộ
chú giải Visuhi Magga của Ngài Buhaghosa được dịch vào
thời Đại sư
Trí Khải, những
kinh luận khác viết bằng Sanskrit của các
bộ phái Tiểu Thừa (không phải
Nguyên Thủy), kể cả các bộ A-hàm (Āgama) đã
thịnh hành tại Trung Hoa,
đại biểu như:
Thành Thật Luận của Harivarman,
luận sư thuộc
Tiểu Thừa Kinh Lượng Bộ (Sautrantikavāda),
A-tì-đạt-ma Câu-xá Luận của Vasubandhu (
Thế Thân), vào thời đó còn là
luận sư thuộc
Tiểu Thừa Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivāda).
Tam Luận Tông dựa trên ba bộ luận
Đại Thừa:
Trung Quán Luận,
Thập Nhị Môn Luận của Nagārjunā (
Long Thọ) và
Bách Luận của Aryaeva (
Thánh Thiên).
Nhiếp Luận Tông dựa trên Nhiếp Đại Thừa Luận của Asaṅga (
Vô Trước), về sau phát triển thành
Pháp Tướng Tông với thêm các bộ như
Duy Thức Nhị Thập Luận,
Duy Thức Tam Thập Tụng,
Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận của Vasubandhu (
Thế Thân, sau khi
trở thành luận sư Đại Thừa),
Thành Duy Thức Luận của
Hộ Pháp (Dharmapāla).
Luật Tông dựa trên Tứ Phần Luật,
Niết-bàn Tông dựa trên bộ kinh Đại Bát-niết-bàn,
Địa Luận Tông dựa trên Thập Địa Kinh Luận,
Tịnh Độ Tông dựa trên Cực Lạc Quốc Độ và
Quán Vô Lượng Thọ Kinh,
Thiên Thai Tông dựa trên kinh Pháp Hoa,
Hoa Nghiêm Tông dựa trên kinh Hoa Nghiêm,
Chân Ngôn Tông,
Mật Tông hay còn gọi là
Kim Cương Thừa dựa trên kinh Đại Nhật, Kinh
Kim Cương Đảnh v.v... (Có một số tông
thành lập sau
Thiền Tông nhưng
kinh luận của các
tông phái ấy đều đã có
ảnh hưởng sâu rộng từ trước).
Vì các
tông phái phát triển theo nguyên tắc khế lý
khế cơ nên mỗi tông vận dụng
triển khai một
sở trường khác nhau
dựa trên giáo lý Đức Phật cho
phù hợp với
pháp môn riêng của
tông phái mình, do đó không
tránh khỏi tranh giành ảnh hưởng, đôi lúc trở nên đối nghịch giữa tiểu và đại, hữu và vô, tánh và tướng, hiển và mật v.v...
dần dần xa rời gốc rễ,
đi theo nhánh ngọn riêng (nên gọi là
mạt pháp). Hơn nữa trong quá trình phát triển cũng không khỏi bị
ảnh hưởng tư tưởng hay
nghi lễ, tập tục của các
Tôn Giáo khác, như Bà-la-môn,
Bái Hỏa Giáo ở
Ấn Độ, Khổng Lão ở Trung Hoa,
Mật giáo ở
Tây Tạng,
Thần Giáo ở
Nhật Bản v.v... Nói chung, ngoài sự phát triển
chân chính, không lìa gốc
chánh pháp, một số
tông phái đã
triển khai hai hướng nguy hiểm đáng
cảnh giác: về lý, quá thiên nặng về
văn chương,
ngôn ngữ,
triết học, đôi khi cả
siêu hình học nữa; về sự, hoặc quá nghiêng về
hình thức khuôn khổ chi ly có tính
giáo điều, khắc kỷ, hoặc quá vong thân, hướng ngoại cầu huyền. (Những
tông phái này phần lớn phát triển trên một hoặc vài ba
bộ kinh luận riêng của mình nên được gọi chung là giáo tông). Mặt khác,
ảnh hưởng Khổng Lão không phải không có, nhưng bị Khổng Lão
bài xích thì nhiều hơn.
Đứng trước
tình hình đó, Tổ
Bồ-đề Đạt-ma không thể lại
tiếp tục truyền
Phật Pháp vào Trung Hoa theo hướng
kinh luận đã có sẵn quá nhiều, Ngài
quyết định đi theo con đường sáng tạo, không
sử dụng kinh luận của các giáo tông, cũng không tự mình lập ngôn dựng thuyết, bởi vì như vậy chỉ đổ dầu vào lửa, vừa làm cho
tình hình mâu thuẫn giữa các luận phái phát triển
căng thẳng thêm, vừa có chỗ cho ngoại nhân có cơ phản biện. Đến đây
chúng ta thấy “Giáo ngoại
biệt truyền, bất lập văn tự” là chọn lựa
tài tình đầy
trí tuệ của một
con người mang
sứ mạng truyền thừa Con Đường Giác Ngộ đích thực vào một xứ sở mà
Phật Giáo đã nặng mùi
chữ nghĩa bác học lẫn với màu sắc
tín ngưỡng vừa huyền bí vừa
bình dân. Vậy
con đường giác ngộ của Tổ Đạt-ma được
thực hiện như thế nàỏ Rất
đơn giản, không
lý luận vòng vo, không hướng ngoại cầu huyền, mà là “Trực chỉ
nhân tâm,
kiến tánh thành Phật”.
Giáo ngoại biệt truyền ở đây không có nghĩa là truyền riêng ngoài
giáo pháp của Phật. Bởi vì,
thực tế hầu
như không có vị
thiền sư nổi tiếng nào mà không đầy ắp một vài bồ
kinh luận. Ngài
Huệ Năng không biết chữ
vậy mà cũng phải nghe
Ngũ Tổ đọc kinh Kim Cang đến câu “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mới tỏ ngộ. Và
dễ hiểu là trong
chúng ta ai cũng có thể tự hào là “giáo ngoại” dễ dàng nhưng mấy ai dám tự cho mình là chưa từng
xem qua một
kinh luận,
ngữ lục nàỏ Hơn nữa, nếu
giáo pháp của
Đức Phật dễ dàng
loại bỏ như thế thì tại sao “Ly kinh
nhất tự tức đồng ma thuyết”? Và vì sao
Thiền Tông lại nói rằng Tổ Đat-ma truyền cho Tổ
Huệ Khả kinh Lăng Già Tâm Ấn?
Thực ra,
Đức Phật cũng đâu có tự ý lập ra
hệ thống kinh giáo gì đâủ Ngài chỉ khai thị một
sự thật hiển nhiên, mỗi người có sẵn, cứ ngay đó mà vào, vì chính Ngài
xác nhận là “Dù
Như Lai ra đời hay không ra đời thì
sự thật vẫn vậy”.
Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Ngàn Phật dù
xuất thế không
thêm bớt một lời” cũng với ý đó chứ không phải
bài bác lời Phật. Cho nên
chúng ta cần phải phân biệt hai loại
kinh giáo:
Kinh giáo nhằm
chỉ thẳng sự thật khách quan của Phật với
kinh giáo nhằm lập ra
hệ thống triết học tôn giáo chủ quan dựa trên niềm tin (siêu hình) hay
tri thức (luận lý) của hậu nhân hay những
tôn giáo nặng tính
triết học và giáo điềụ
Thực ra, ý Tổ chỉ ngầm muốn
cảnh báo với
chúng ta là “Ta sẽ truyền
Chánh Pháp bằng một ‘mẹo’ khác để
chỉ thẳng sự thật ngay nơi các ngươi, mà
xưa kia Phật đã nói rồi nhưng bị
hiểu lầm nên người ta cứ mãi hướng ngoại cầu huyền, các ngươi phải
tinh ý một chút mới
nhận ra, chứ đừng có
đi theo con đường lập kinh viết luận, chỉ vẽ rắn thêm chân, lợi bất cập hại, như các giáo tông
tiền bối của các ngươi đã và đang truyền ở đất nước Trung Hoa này!” Đó chính là
toàn bộ ý nghĩa mà Tổ
chân tình dặn dò
đệ tử trong bốn câu kệ:
“Bất lập
văn tựGiáo ngoại biệt truyềnTrực chỉ nhân tâmKiến tánh thành Phật”.
Điều này
chúng ta có thể
nhận ra ngay trong mẩu đối thoại giữa Tổ Đạt-ma và
Huệ Khả như sau:
“Huệ Khả nói:
-
Pháp ấn của chư Phật con có thể
nghe được không?
Tổ dạy:
-
Pháp ấn của chư Phật không thể từ người ngoài mà được.
Huệ Khả nói:
- Tâm con chưa an xin thầy an chọ
Tổ bảo:
- Đem tâm ông ra đây ta an chọ
Khả yên lặng hồi lâu, nói:
- Con đã tìm tâm khắp nhưng không thấy được.
Tổ bảo:
- Ta đã
an tâm cho ngươi rồi đấỵ”
(CĐTĐL, LVD dịch, Xb. 2006, t.203)
Đó chính là cái “mẹo”
trực chỉ nhân tâm của Tổ Đạt-ma mà
xưa kia Đức Phật cũng đã trực tiếp
nói thẳng bằng những lời giản dị trong kinh Mahā Satipaṭṭhāna: “Vikkhitaṃ và cittaṃ ‘vikhitaṃ cittan’ ti pajānāti” hay “ Asamāhitaṃ và cittaṃ ‘asamāhitaṃ cittan’ ti pajānāti” (
Tâm tán loạn,
tuệ tri ‘tâm tán loạn’ hay
tâm không an,
tuệ tri ‘tâm không an’). Nếu tỏ ngộ điều đó thì không cần
cố gắng an tâm mà tâm vẫn an. Cả hai cách mới nhìn
bề ngoài thì có vẻ khác nhau nhưng bên trong cùng
chỉ thẳng cái
thực tại hiện tiền, ngay đó mà thấy tánh, không
cần phải gia công tham ưu (abhijjhā domanassa), thủ xả (anissito na upādiyati),
đánh giá, phê phán,
kiểm duyệt hay hướng đến một
tình trạng lý tưởng sẽ là nào khác.
Tác phẩm lưu truyền của Tổ Đạt-ma là
Thiếu Thất Lục môn. Chỉ bày
phương tiện nhập đạo có
lý nhập và hạnh nhập.
Lý nhập, theo cách nói của Thiền
Nguyên Thủy thì đó là nhờ
Phật pháp mà thấy thực tánh paramattha, nhờ tin sâu tất cả pháp (
hữu tình và vô tình,
phàm phu và
Thánh đức) đều cùng có thực tánh paramattha nhưng vì khởi khái niệm paññatti mà
che lấp không thấy được, chỉ cần
vượt qua thế giới khái niệm thấy thẳng thực tánh với
chánh niệm tỉnh giác bất động, đó chính là
lý nhập tịch lặng vượt ngoài
danh ngôn ý niệm.
Hạnh nhập, hay
tứ hạnh: 1) Báo oán hạnh: không than oán, thường nhẫn chịu quả khổ do nhân
bất thiện đã tạo trong
vô lượng kiếp quá khứ. 2)
Tùy duyên hạnh: không
kiêu mạn, không tham đắm khi
thọ hưởng quả phúc do nhân
phước thiện trong nhiều đời trước. 3)
Vô sở cầu hạnh: không tham cầu những
sở thích, những
ước vọng tương lai hay không hướng
cầu pháp bên ngoàị 4)
Xứng pháp hạnh: thường sống thuận pháp, hạnh nghiệp thuần chánh, không rơi vào tướng ngã, nhân,
chúng sanh,
thọ giả.
Hạnh nhập nầy
hoàn toàn phù hợp với
tinh thần thiền vipassanā. Hai hạnh đầu là
sự lý nhân quả nghiệp báo chung cho tất cả
tông phái Phật giáo dù thiền, tịnh hay mật, dù
nguyên thủy hay phát triển, nhưng hai hạnh sau là nét đặc thù
của riêng Thiền Tông và Thiền Vipassanā mà thôị
Vô sở cầu hạnh được
mô tả trong
kinh Nhất Dạ Hiền Giả, bộ Majhima Nikāya: “Quá khứ không
truy tầm, tương lai không ước vọng… chỉ có pháp
hiện tại,
tuệ quán chính là đây…” .
Xứng pháp hạnh đã được
đức Phật dạy trong thiền vipassanā
Nguyên Thủy là
hành giả nên sống thuận pháp và
tùy pháp (Dhammānuhamma paṭipanno viharati). Nghĩa là nơi
pháp không có ngã, nhân,
chúng sanh,
thọ giả mà Thiền
Nguyên Thủy gọi là nissatto (không
chúng sanh), nijjīvo (không
thọ giả), suñño (không
ngã nhân).
(
Một sinh viên hỏi:)
- Khi Tổ Đạt-ma nói với
Huệ Khả: “Ta
an tâm cho ngươi rồi đó” là Tổ dạy pháp gì để an tâm?
Phải chăng đừng sanh tâm là Niết-bàn và làm sao đừng sanh tâm?
- Câu hỏi hơi ngớ ngẩn đó nghe! Điều này đã
nói nhiều rồi mà! Tổ không nói cách nào đâu, vì nếu có một cách thì khi loay hoay tìm phương
áp dụng cách đó, làm sao trực tiếp thấy tánh được! Tổ
chỉ thẳng vào sự, vào chính cái tâm
bất an để ngay trên đó mà thấy tánh, mà an chứ không cần tìm tánh tìm an đâu xạ Trên sự thì ai hành thiền vipasanā cũng có thể thấy rõ điều nàỵ
Ai nói chứ Tổ không nói đừng sanh tâm là
an lạc, là Niết-bàn đâụ Tâm sanh hay không sanh đều
tùy duyên không ngạị
Cố ý dừng tâm mới là trụ là ngại rồi làm sao Niết-bàn được?.
Nhị Tổ
Huệ Khả sau khi chỉ cho
Tăng Xán thấy tội tướng vốn không,
Tăng Xán ngộ, Tổ trao
y pháp cùng với
bài kệ:
“Bản lai duyên hữu địa
Nhân địa chủng hoa sanh
Bổn lai
vô hữu chủng
Hoa diệc bất tằng sanh”
(
Xưa nay duyên có đât
Từ đất giống hoa sinh
Xưa nay không có giống
Hoa cũng chẳng từng sinh).
Ý nói rằng hễ có đất tâm thì khi duyên cảnh trần ắt sinh ra khái niệm
danh tướng, tạo tác
thị phi, nếu ngay nơi
tư tưởng, hành động ấy thấy được
nhân duyên vốn không thì
nhân quả chẳng từng sinh. Nói theo Thiền
Nguyên Thủy thì nơi thực tánh của tâm và pháp vốn không từng có khái niệm và tạo tác, nhưng khi hai
pháp duyên nhau thì liền phát sinh các khái niệm
thị phi, và tạo nghiệp
thiện ác, nếu ngay nơi
duyên sinh ấy thường được
chánh niệm tỉnh giác soi sáng thì vẫn thấy thực tánh
bản nguyên chưa từng sinh khởị
Tam
Tổ Tăng Xán khai ngộ cho
Đạo Tín khi
Đạo Tín đến
tham vấn:
- Nguyện
Hoà Thượng từ bi ban cho con
pháp môn cởi mở.
Tổ hỏi:
- Ai
trói buộc ông?
- Chẳng ai
trói buộc cả.
- Vậy cớ gì phải cởi mở?
Đạo Tín nghe vậy tức thì
đại ngộ.
(CĐTĐL/LVD dịch, xb 2006, t.224)
Sau đó Tổ trao
y bát cho
Đạo Tín và
truyền tâm ấn qua
bài kệ:
“Hoa chủng tuy
nhân địaTùng
địa chủng hoa sanh
Nhược
vô nhân hạ chủngHoa địa tận
vô sanh.”
(Giống hoa tuy nhờ đất
Từ đất giống hoa sinh
Nếu không người gieo giống
Hoa, đất tuyệt chẳng sinh).
Trói buộc, hay
giải thoát, tâm sinh hay
vô sinh đều
tùy thuộc vào mê hay giác. Khi mê, không những đã gieo giống, tạo nhân mà cho dù
vô sinh cũng chính là sinh khởị Khi giác, chẳng gieo giống tạo nhân mà dù sinh cũng vẫn là
vô sinh.
Đặc biệt Tổ
nhấn mạnh ở
niềm tin không lay chuyển nơi
chân tánh. Trong
tác phẩm Tín Tâm Minh của Tổ có câu: “Chí đạo
vô nan, duy hiềm giản trạch” nghĩa là tột cùng
chân tánh không khó, khổ nỗi chỉ vì
phân biệt chọn lựạ
Vì vậy, Tổ nói thêm: “Bất dụng cầu chân, duy tu tức (vọng) kiến”.
Vọng kiến chính là ý
lăng xăng phân biệt chọn lựa, chỉ cần dứt đi thì ngay đó là chân, không cần
phí công dụng tâm cầu được.
Dụng tâm tìm kiếm là đã phân vân
nghi hoặc,
bất tín, nên Tổ
nhấn mạnh: “Hồ nghi tịnh tận,
chánh tín điều trực”,
nghi hoặc dứt sạch thì
chánh tín vững vàng. Đó chính là “Tín tâm
bất nhị,
bất nhị tín tâm” vậỵ
Tứ
Tổ Đạo Tín một hôm đến huyện Huỳnh Mai giữa đường gặp một đứa bé rất khôi ngô
ứng đáp lạ thường nên xin đem về nuôi dạy, cho
xuất gia đặt tên là
Hoằng Nhẫn. Về sau
Tổ Đạo Tín truyền y bát cho
Hoằng Nhẫn làm tổ thứ năm Thiền
Đông Độ. Tứ Tổ truyền kệ:
“Hoa chủng hữu sanh tánh
Nhân địa hoa
sanh sanhĐại duyên dữ tín hiệp
Đương sanh, sanh
bất sanh.”
(Giống hoa có tính sinh
Nương đất hoa sinh sôi
Đại duyên hợp với tín
Đang sinh, cũng
không sinh).
Bài kệ này
nhất quán với những
bài kệ trước, và cũng như
Tổ Tăng Xán,
Tổ Đạo Tín nhấn mạnh niềm tin nơi
chân tánh. Tất nhiên khi chưa có
chánh kiến tức chưa thấy tánh thì
hành giả cần có
chánh tín mới có thể
tùy duyên mà không ngạị
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, ngay lần đầu tiên
Huệ Năng đến
yết kiến đã biết đây là bậc
lợi căn, nhưng mãi đến khi
Huệ Năng chỉnh
bài kệ của
Thần Tú, nửa đêm Tổ mới âm thầm gọi
Huệ Năng vào thất,
giảng kinh Kim Cang đến câu “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì
Huệ Năng tỏ ngộ.
Ngũ Tổ quyết định trao
y bát cho
Huệ Năng làm vị tổ thứ sáu của Thiền
Đông Độ.
Ngũ Tổ nói kệ:
“Hữu tình lai
hạ chủngNhân địa quả hoàn sanh
Vô tình ký vô chủng
Vô tánh diệc
vô sanh.”
(Có tình đến gieo giống
Nhờ đất
trái lại sinh
Không tình đã không giống
Không tánh cũng
không sinh).
Tác phẩm lưu truyền của
Ngũ Tổ là Luận
Tối Thượng Thừạ
Lục Tổ Huệ Năng, vị tổ
cuối cùng được
truyền y bát của
Thiền Tông, nhờ Tổ chỉnh lại
bài kệ của
Thần Tú:
“Bồ-đề bổn
vô thọMinh cảnh diệc phi đài
Bản lai vô nhất vậtHà xứ nhạ trần aị”
(Bồ-đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài
Xưa nay không một vật
Bụi trần bám chỗ nào).
Sau khi
Lục Tổ được
truyền y bát,
Huệ Minh đuổi theo để tranh lại nhưng không thể được, liền lễ Tổ xin chỉ bày
bản lai diện mục, Tổ nói: “Ngay khi không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là
bản lai diện mục của
thượng tọa Minh?”.
Thực ra, ý Tổ muốn nói là: Ngay đó, đừng phê phán,
đánh giá, hay tham ưu, thủ xả gì cả thì chính là
bản lai diện mục của ông. Nhiều người
hiểu lầm, cho rằng không nghĩ thiện không nghĩ ác là tánh nên
cố gắng giữ
tâm không cho
suy nghĩ gì cả, nhưng chính Tổ
Huệ Năng đã
cảnh báo “trụ
tâm quán tịnh là bệnh, không phải thiền”, hoặc nói “bất đoạn bách
tư tưởng, đối cảnh
tâm sổ khởi”, cho nên ngay đó mà thấy tánh hay thấy
bản lai diện mục chứ không cần hướng ngoại tầm cầu gì nữạ
Vì vậy, Tổ dạy
vô tướng tam muội trong
Pháp Bảo Đàn kinh: “Ngoại ly
nhất thiết tướng,
danh vi vô tướng, năng ly ư tướng tức
pháp thể thanh tịnh” - ngoài lìa tất cả tướng gọi là
vô tướng, nơi tướng có thể lìa tức
pháp thể thanh tịnh.
Rõ hơn nữa, sau một
thời gian Huệ Khả lên đường khám phá cái tánh đã được
khai ngộ, một hôm gặp lại Tổ Đạt-mạ Tổ hỏi: “Từ đó đến giờ ngươi làm gì?”
Huệ Khả thưa: “Liễu liễu thường tri”. Nghe nói thường tri thì những người nặng ngữ
nghĩa kinh luận của giáo tông liền
tham gia “làm rõ vấn đề” bằng cách
kết luận đó là Cái Biết
Thường Hằng,
Tánh Không,
Phật Tánh,
Chân Tâm,
Vũ Trụ Thức,
Tự Tánh,
Bản Thể Thường – Lạc – Ngã – Tịnh, v.v... và v.v...
Thực ra,
Huệ khả chỉ muốn nói một cách giản dị, chất phác rằng: “Thưa thầy, con từ đó
đến nay mỗi mỗi
rõ ràng tự biết mình”.
Đơn giản thế mà Tổ lại thầm khen
con người Huệ Khả xứng đáng làm nhị tổ thọ nhận
y bát chân truyền. Tổ nói: “Đó là
con đường của chư Phật, ngươi cứ thế mà làm” .
Toàn bộ kinh Pāḷi Mahā Satipaṭṭhāna, Dīgha Nikāya,
pháp hành thiền tuệ Vipassanā
Nguyên Thủy, đã toát lên
con đường độc đạo (ekayano) của chư Phật này, là ngay nơi chính mình mà liễu liễu thường trị Có vẻ như
đơn giản quá phải không? Thế mà lại
vô cùng sâu mầu vi diệụ Thiền
Nguyên Thủy lẫn
Thiền Tông đều nói
giác ngộ là
con đường sáng tạo, không rập khuôn, bằng chứng là các bậc thánh dù là
Thanh Văn, có cùng
một thể tuệ giác vô sanh thanh tịnh như nhau mà vẫn “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” chẳng vị nào giống vị nào,
đơn giản là vì
Đức Phật có đưa ra cái khuôn nào đâu mà rập được?
Đức Phật chỉ khai thị cho mỗi người
giác ngộ nơi chính mình thì làm sao ai rập khuôn ai được? Cho nên,
chúng ta cần phải cảnh giác rằng
sáng tạo không phải là sáng chế. Sáng chế thì chỉ có thể sáng chế
phương pháp, mà đã có
phương pháp mới có rập khuôn, vì tất cả
phương pháp đều thuộc khái niệm chế định (paññatti) trong khi kiến (ñāṇaassana) và tánh (paramattha) thì vẫn là
con đường độc đạo của chư Phật, cứ thế mà đi một cách
an nhiên tự tại, mỗi người sẵn có, không cần rập khuôn ai cũng không cần
thêm bớt gì thì mới chính là
con đường sáng tạọ Bởi vì
đơn giản là
luận sư chỉ có thể
thêm bớt lời lẽ
ngôn từ chứ không thể nào
thêm bớt sự thật.
Sau đây là một số điểm
cốt lõi tương đồng giữa Thiền Vipassanā và
Thiền Tông:
1)
Kiến Tánh và Thấy Biết Như Thực: thấy
tánh không có nghĩa là tách
thực tại ra phần này là tướng, phần kia là tánh, cái này là thị cái kia là phi, cái này là tiểu cái kia là đại… rồi chọn cho mình một phần vừa với tầm vóc hạn hẹp của mình để thấỵ Cũng không vội phê phán theo bất cứ bảng
giá trị nào, mà phải thấy pháp đúng như nó là. Tổ
Huệ Năng đã nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác” cứ ngay đó mà thấy
bản lai diện mục. Đã
đánh giá dù
đánh giá theo
tiêu chuẩn nào, thì vẫn
coi chừng mắc bệnh thiền, như câu “Thức đắc bổn tâm bổn tánh chính thị
tông môn đại bệnh” đã
minh xác. Ngộ là ngộ
toàn diện, nghĩa là, hoặc bỏ
toàn bộ hoặc lấy
toàn bộ (
Thật tế lý địa bất thọ
nhất trần, sự sự môn trung bất xả
nhất pháp), chứ đừng cắt xén cho vừa với cái khuôn
lý tưởng của
bản ngã rồi yên tâm dán vào nhãn hiệu
Thiền Tông hay Thiền Nguyên Thủỵ
Kinh Bāhiyasutta kể rằng: Một hôm
tôn giả Bāhiya
biết mình sắp chết mà chưa
giác ngộ, liền đến
bạch Phật xin cho một lời
giáo huấn có thể
giải quyết được ngay việc
sinh tử.
Lúc ấy Đức Phật đang vào thành Sāvatthi
khất thực, không tiện
nói nhiều, Ngài chỉ dạy rằng:
“Thấy như thực thấy” (diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati)
“Nghe như thực nghe” (sute sutamattaṃ bhavissati)
“Xúc như thực xúc” (mute mutamattaṃ bhavissati)
“Biết như thực biết” (viññāte viññātamattaṃ bhavissati)
Thế mà
tôn giả Bāhiya
thông suốt được chỗ vào, ngay nơi thấy biết như thực của chính mình liền
hạ thủ và đã
hoàn toàn liễu thoát
sinh tử ngay trong ngày hôm đó trước khi từ giã cõi đờị
Như vậy, thấy biết như thực (yathābhūta ñāṇaassana) trong Thiền
Nguyên Thủy được định nghĩa là
trực nhận thực tánh của pháp. Khi cái thấy
trong sáng, trực tiếp và vượt ngoài
ý niệm danh tướng (nāma-attha) thì thực tánh
pháp tự nhiên
hiển hiện, như Tam Tổ
Thiền Tông Tăng Xán nói: “Vạn pháp tề quán, qui phục tự nhiên” hay “Tuyệt ngôn tuyệt lự, vô xứ bất thông”. Đó cũng chính là định nghĩa của
kiến tánh trong Thiền
Đông Độ.
Trong
Thiền Tông có rất nhiều
câu chuyện tương tự. Như có vị tăng
tham vấn thiền sư Huyền Sa:
-
Đệ tử mới nhập
thiền môn, xin
hòa thượng chỉ cho lối vàọ
Khi ấy đang ngồi bên khe nước,
thiền sư bảo:
- Ngươi có nghe tiếng suối chảy không?
Vị tăng thưa:
- Dạ, có nghẹ
Sư nói:
- Đó là lối vàọ
Chúng ta từ nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà khởi niệm
vô minh ái dục, không rõ thực tánh, tạo tác vọng nghiệp, rồi tự
trói buộc vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là đầu mối của mọi
phiền não khổ đau,
luân hồi sinh tử. Vậy muốn
thoát khỏi trói buộc thì cũng ngay nơi đó mà
chánh niệm tỉnh giác,
lặng lẽ chiếu soi, đâu cần nhọc sức tìm cầu
nơi khác.
Tam
Tổ Tăng Xán nói: “Hư minh tự chiếu, bất lao tâm lực” hoặc
thiền sư Bách Trượng nói: “Tâm địa nhược
không tuệ nhật tự chiếu” cũng đều một nghĩạ Phái
Tào Động cũng lấy
lặng lẽ chiếu soi (mặc chiếu) làm tông: “Chỉ quản
đả tọa,
tu chứng nhất như,
vô sở đắc,
vô sở chứng,
thân tâm nhất như”.
Trong kinh Mahā Satipaṭṭhāna,
Đức Phật dạy:
“Này các
Tỷ kheo, ở đây vị
Tỷ kheo tuệ tri con mắt và
tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này,
kiết sử sinh khởi, vị ấy
tuệ tri như vậy; và với
kiết sử chưa sinh nay
sinh khởi, vị ấy
tuệ tri như vậy; và với
kiết sử đã sinh nay được
đoạn diệt, vị ấy
tuệ tri như vậy; và với
kiết sử đã được
đoạn diệt, tương lai không còn
sinh khởi, vị ấy
tuệ tri như vậy”.
Đối với tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp… vị ấy cũng chỉ cần
tuệ tri một cách
tự nhiên như vậỵ
(
Một sinh viên hỏi:)
- “Kiến tánh” trong Thiền Phát Triển và “Pháp nhãn xa trần ly cấu” trong Thiền
Nguyên Thủy giống nhau hay khác nhaủ
- Về
tính chất thì giống nhau, nhưng về mức độ thì có đồng có dị. Khi
phàm phu kiến tánh, và khi bậc
hữu học kiến tánh thì chưa thể gọi là “Pháp nhãn xa trần ly cấu”, nhưng khi
kiến tánh trong A-la-hán Đạo tuệ thì mới thật sự là “Pháp nhãn xa trần ly cấu”.
Kiến tánh thì có thể kiến đi kiến lại nhiều lần mới có thể
triệt ngộ, chứ
pháp nhãn xa trần
ly cấu nơi tâm A-la-hán thì không
cần phải kiến tánh,
đơn giản chỉ vì tánh đã hiện toàn chân thì cần gì phải kiến nữạ
(
Một sinh viên khác hỏi:)
- Sư vừa nói “Kiến tánh thì có thể kiến đi kiến lại nhiều lần”, sư cũng nói
kiến tánh là thấy thực tánh, vậy có bao nhiêu thực tánh để kiến, nếu một thì không cần kiến nhiều lần, nếu khác thì sao gọi là thực tánh?
- Nói một không có nghĩa chỉ có một cái
duy nhất, mà ngay nơi một
pháp không thấy haị Nếu bạn đã thấy tánh được
một lần là đã không còn lầm với tướng khái niệm, nhưng vì
tập khí của bạn quá sâu dày nên
mặt trăng vừa ra khỏi mây lại bị mây đen che phủ. Dẫu sao bạn cũng đã
một lần thấy
mặt trăng để
không tưởng mình
mãi mãi trong đêm tốị
Tuy nhiên tội gì mà bạn không thấy trăng nhiều lần nữa để biết rằng dù mây có che thì “Ngàn xưa từ ngàn xưa chưa
một lần trăng lặn” và “Ngàn sau ngàn sau nữa
lồng lộng giữa trời mây”.
Bạn hãy nhớ rằng: “Một cũng không phải mà khác cũng không phải” (Bất nhất, bất dị: Luận
Tánh Không của
Long Thọ). Đừng thắc mắc, hãy thấy đi (Ehipassiko) ở đó mọi thứ đã tròn đầỵ
2)
Thực Tại Hiện Tiền: Cả Thiền
Nguyên Thủy lẫn
Thiền Tông Trung Hoa đều
nhất trí rằng
bản nguyên (
trạng thái hiện hữu tự nhiên) của các pháp (thực kiện) vốn là thực tánh pháp (sabhāva dhamma) nhưng vì cái dụng của
con người mà hình thành pháp khái niệm (paññatti dhamma), bên cạnh những
lợi ích của những
pháp chế định này,
vọng thức (vipallāsa viññāṇa),
tà kiến (micchā diṭṭhi),
ảo tưởng (mayā saññā), và những
bất thiện (akusala) cũng phát sinh, từ đó rời xa thực tánh
pháp chân đế (paramattha dhamma). Vậy pháp vẫn nguyên đó,
vận hành theo thực tánh của nó,
độc lập với khái niệm,
tư tưởng,
quan niệm, chủ thuyết hay bất kỳ
kiến chấp nào do
con người qui định.
Pháp được
Đức Thế Tôn khéo
tuyên thuyết, chỉ bày (Svākkhāto Bhagavato Dhammo) có những yếu tính sau đây:
- Sandiṭṭhiko là
thực tại hiện tiền, tự thân cái thực mà
mọi người có thể thấy
lập tức, ngay đó, một cách
toàn diện. Không chia cắt manh mún, không thông qua bất cứ một lăng kính nào của
ngôn ngữ,
ý niệm.
Thiền Tông gọi sandiṭṭhiko này là “đương xứ tức chân”, hoặc “kiến tức
mục hạ tiện kiến, nghĩ tư tức sai”.
- Akāliko là
phi thời gian hay
độc lập với khái niệm
thời gian (kālapaññatti), nhất là
thời gian tâm lý. Đó là cái đang là, cái bây giờ, không phải đã là, sẽ là, hay cái
giả định lý tưởng nàọ Nhưng cái đang là cũng không cố định, luôn luôn
trôi chảy, nên
Đức Phật dạy “Như Lai không
bước tới (tương lai), không dừng lại (
hiện tại,
quá khứ) mà
thoát khỏi bộc lưụ Vì saỏ Vì
bước tới thì bị cuốn trôi, dừng lại thì bị chìm đắm”.
Bước tới là bị cuốn trôi trong
thời gian nhân quả vô định ở tương lai, và dừng lại là
lập tức sát-na
hiện tại đã chìm vào
quá khứ.
- Ehipassiko là hãy đến, hãy
quay về hay hãy hồi đầu (ehi) mà thấy (passiko, passati), nghĩa là
pháp tánh luôn
hiện hữu ở đó, chỉ cần quay đầu là thấy ngay chứ không
bí ẩn, mật truyền gì cả. Quay đầu cũng hàm
nghĩa không bị cuốn theo paññatti mà phải
trở về thực tánh paramattha của pháp.
Thiền Tông nói “Hãy quay lại mà thấy tánh ngay nơi tâm mình” hay “Hồi đầu thị ngạn” chính là
ý nghĩa của ehipassikọ
- Opanayiko là
dẫn nhập chân đế, dẫn vào
sự thật nội tạị Trong Pāḷi, Opa (upa) là trên hay lên trên. Nayiko (Nayati, neti) là dẫn đến, hướng đến, trực chỉ.
Thiền Tông nói “Trực chỉ nhân tâm” mới là “cước căn điểm địa” vì mảnh đất thực tánh (
chân đế) đã có sẵn ở đó, như Tổ
Huệ Năng nói “Nào ngờ
tự tánh vốn tự đầy đủ”, không
cần phải hướng ngoại cầu huyền trên một
chân tánh lý tưởng giả định nào khác.
- Paccattaṃ Veitabbo Viññūhi là bậc trí mỗi người
tự chứng nghiệm,
tự ngộ nhập chứ không ai có pháp gì để trao cho người khác cả.
Tổ Đạt-ma nói với
Huệ Khả: “Pháp ấn của Phật không thể từ người ngoài mà được”. Và khi có một tăng nhân đến xin trao
truyền pháp, Tổ
Huệ Năng cũng xác định: “Ta không có một pháp nào để trao truyền cả”. Bởi vì tất cả pháp đều đã có sẵn nơi mỗi người, hãy tự mình
chứng nghiệm “như nhân ẩm thủy
lãnh noãn tự tri”.
Bùi Hưu thấy hình vẽ một vị
cao tăng, hỏi
Hoàng Bá:
- Hình ở đây còn vị
cao tăng này ở đâủ
Hoàng Bá gọi:
- Bùi Hưu!
Bùi Hưu liền “Dạ”.
Hoàng Bá bảo:
- Ở đâủ
Bùi Hưu chợt ngộ.
Hoàng Bá chỉ cái gì?
Bùi Hưu ngộ cái gì?
Đơn giản đó là
thực tại ở ngay đây (sandṭṭthiko), và bây giờ (akāliko), chỉ cần hồi đầu là thấy (ehipassiko) và ngay trên
chân tánh (opanayiko) đó mà
tự mình thể nghiệm (paccattaṃ veitabbo viññūhi) chứ đừng
chạy theo bất cứ
ảo ảnh nàọ Tâm người thế phần đông say mê đi tìm
thỏa mãn trong
ngũ dục và
tri thức, còn người tu thì mãi miết tầm cầu một
mục tiêu lý tưởng. Cả Thiền Vipassanā
Nguyên Thủy lẫn
Thiền Tông đều
đánh thức họ ra khỏi cơn mơ
lý tưởng đó để
trực nhận chân tánh (sabhāva) ngay nơi
thực tại như nó đang là (yathābhūta).
Thiền Tông có nhiều “phương tiện thiện xảo”,
nói đúng hơn và
dễ hiểu hơn chỉ là những “mẹo vặt” như
im lặng, hét, đánh, một
cử chỉ nhỏ nhặt như
nheo mắt, nhéo mũi, một động tác
chỉ thẳng những
sự kiện hiển nhiên như ba cân mè, cây bách trước sân, cây
thiền trượng hay cái phất trần…, một thiền ngữ hàm
thị thực tánh, như “đem tâm ông ra đây ta an cho”, một
công án vượt ngoài
lý luận, như “tiếng vỗ của một bàn tay” v.v... tất cả chỉ để tuyệt đường
lý trí và mở bày cho thấy
sự thật ngay nơi
sự thật ấy là (yathātathatā).
(
Một sinh viên hỏi:)
- “Thực tại hiện tiền” trong
thiền tuệ và “hiện tại lạc trú” trong
thiền định giống nhau hay khác nhaủ
- Vừa giống vừa khác. Thứ nhất, nếu là
hiện tại lạc trú của các bậc Thánh thì cũng là
thực tại hiện tiền. Thứ hai, trên
phương diện thực tánh pháp thì cả hai đều giống nhaụ Thứ ba,
thực tại hiện tiền là đối tượng của
thiền tuệ, còn
hiện tại lạc trú thuộc
thiền định nên khác nhaụ Thứ tư,
thực tại hiện tiền là duyên cho
trí tuệ, còn
hiện tại lạc trú là quả của
thiền định nên khác nhaụ
3)
Đốn tiệm không hai:
Một số người
cố chấp,
bảo thủ cho rằng
Thiền Tông hay
Tổ Sư Thiền là thiền đã phát triển lên tới đỉnh cao của
đốn ngộ, còn Thiền
Nguyên Thủy hay
Như Lai Thiền là thiền
tiệm tu của hạng người
căn cơ thấp kém. Ngược lại, một số khác cho rằng Thiền
Nguyên Thủy mới là
chân thiền còn
Thiền Tông là quái thai của sự hòa nhập giữa
Triết Học Tánh Không với Ấn Giáo và Lão Trang. Đây là những
kết luận quá
vội vàng hời hợt mà
chúng ta chắc rằng những người này không những chẳng biết gì mấy về thiền của người khác, ngoài một số
thành kiến nông cạn, mà
thực ra cũng chẳng nắm được gì nhiều về
thiền pháp của môn hộ mình.
Tăng Ni,
Phật tử ngày nay nên có cái nhìn
phóng khoáng hơn, cởi mở hơn để có thể nắm được
cốt lõi của Phật Pháp nhờ sự
đối chiếu rộng rãi, nghiêm túc,
chính xác và không
thiên lệch do
thành kiến hay
tự ái tông môn.
Trước hết,
chúng ta dễ dàng thấy rõ cả hai dòng Thiền
Nguyên Thủy và
Thiền Tông đều có một
mục tiêu chung: Trực tiếp là
kiến tánh, và
rốt ráo là
thành Phật. Trong
Thiền Tông, hai
mục tiêu này có thể là hai, cũng có thể chỉ là một.
Trường hợp “lý
đốn ngộ, sự tiệm tu” là hai, vì một bên là lý, một bên là sự; một bên là đốn, một bên là tiệm; một bên là ngộ, một bên là tụ Nhưng trong
trường hợp ngay khi ngộ cũng
đồng thời dứt sạch
tập khí sinh tử thì hai
mục tiêu là một, vì lý – sự, đốn – tiệm, ngộ – tu
thành tựu đồng thờị
Kinh Điển Nguyên Thủy cũng
ghi nhận hai
trường hợp: Tu trước chứng sau và
tu chứng đồng thời như có rất nhiều vị
chứng quả Alahán ngay khi được Phật
khai ngộ. Trong Thiền Vipassanā có một
thành ngữ biểu thị hai
mục tiêu này là “yathàbhùtà ñāṇaassanà”: như tánh
tri kiến.
Tri kiến như thật này
mục tiêu trước tiên trong
pháp hành thiền tuệ là thấy tánh đế (
kiến tánh), và sau đó trong
pháp thành là thấy
Thánh đế (
thành Phật). Như vậy,
đốn tiệm không hai:
trí tuệ chánh niệm tỉnh giác là ngay nơi pháp thấy tánh nên gọi là đốn,
trải qua tuần tự 16 tuệ chứng nên gọi là tiệm. Đạo – Quả
lập tức (akàliko) nên đốn,
hành trì ba-la-mật nên tiệm. Ngược lại, trong
Thiền Tông phải
thực hiện mục tiêu thứ nhất: lý
đốn ngộ trước để khỏi rơi vào vết xe hướng ngoại cầu huyền, rồi mới
thực hiện mục tiêu thứ hai: sự
tiệm tu để
hoàn thành cứu cánh Phật Đạọ Phương án này rất
phù hợp với bối cảnh
lịch sử Phật Giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Mới xem tưởng như hai hướng,
thực ra đốn tiệm chẳng thể tách rờị
Bởi vì,
chúng ta đều biết rằng không một người nào chưa từng tu mà
thành Phật cả, những người có thể
tu chứng đồng thời hay
kiến tánh thành Phật ngay đều đã
tu hành từ vô lượng kiếp (tiệm), đến khi đó
căn cơ đã được chín mùi,
ví như hoa sen đã vươn khỏi mặt nước sẵn sàng chờ
ánh nắng bình minh là khai hoa nở nhụỵ Đó là
lý do vì sao chư Phật, chư Thánh và các vị Tổ đều chỉ có thể
tế độ những người
hữu duyên nên
tế độ mà thôị Hơn nữa, dù đốn thì cũng phải mất một
thời gian để tham
công án, rồi sau khi ngộ nếu còn
tập khí sinh tử thì cũng phải tiệm tụ
Tóm lại, không nên
phân biệt đốn tiệm, cứ ngay đó
soi sáng thì sẽ thấy ngay
bản lai diện mục.
4) Tánh ở Đâủ Thông thường
chúng ta có
thói quen thấy pháp bằng tưởng tri (sañjānāti) hoặc thức tri (vijānāti), nghĩa là thấy qua ký ức hay
kiến thức mà phần lớn là thủ đắc từ vay mượn bên ngoài, nên chỉ thấy được nghĩa khái niệm (attha paññatti) hay danh khái niệm (nāma paññatti)
lắm khi chỉ là
ảo tưởng không thật, chứ không thấy được thực tánh hay
chân diện mục của pháp. Trong khi đối tượng của
trí tuệ thiền tuệ (Vipassanā ñāṇa), dưới
hình thức tuệ tri (pajānanā) trong
chánh niệm (sati),
tỉnh giác (sampajaññā) thì
tuyệt đối phải là thực tánh pháp (paramattha dhamma). Điều này khác hay không khác với
kiến tánh của Thiền Tông? Nói như
Khổng Tử “Tánh tương cận, tập tương viễn” thì tánh chỉ có một, nói khác là do
ý niệm (tập) bất nhất của
con người mà thôị
Thực ra, tánh đế (
hiện tiền) hay
Thánh đế (
rốt ráo) đều là thực tánh pháp, nên
hành giả thiền Vipassanā chỉ cần ngay nơi
thực tại hiện tiền (sandiṭṭhiko dhammo) mà
quán chiếu, còn đối tượng là tánh đế hay
Thánh đế gì thì cũng phải tại đây và bây giờ chứ không chỉ là
ảo tưởng hay một
giả định của
niềm tin siêu hình hoặc
lý luận triết học.
Lăng Già Sư Tử Ký kể
câu chuyện lúc Tổ Đạt-ma chưa sang Trung Hoa có cho một
đệ tử tên Ba-la-đề đi độ một ông vua
tà kiến.
Vua hỏi Ba-la-đề:
- Tánh ở chỗ nàỏ
Đề nói:
- Tánh tại
tác dụng.
Nói rõ hơn là tánh ấy:
“Biến hiện đầy khắp
thế giới“Thu lại trong
hạt bụi trần
“Người trí biết là
giác tánh“Mê nhân gọi đó tinh hồn”
Vua nghe kệ xong tâm liền tỏ ngộ.
Như vậy, Ba-la-đề đã chỉ rõ tánh là tánh giác hiển dụng khắp
mọi nơi, trong tất cả
sự tướng, trong sự tương giao giữa căn và trần chứ không phải là một
Linh Hồn,
Bản Thể hay
Đại Ngã thường hằng vĩnh cữu, cũng không phải một “Thượng Đế ở khắp mọi nơi”.
Trong
Huyết Mạch Luận, Tổ cũng nói: “Tâm lượng rộng lớn,
ứng dụng không cùng, ứng mắt thấy sắc, ứng tai nghe tiếng, ứng mũi ngửi mùi, ứng lưỡi nếm vị,
cho đến mọi
cử chỉ hành động đều là
tự tâm, ở trong tất cả thời chỉ dứt đường
ngôn ngữ, chính là tự tâm”.
Tánh trong
Thiền Tông bao hàm cả
Giác tánh (cũng gọi là
Phật tánh: Buhacarita) và
Pháp tánh (Dhammatā), vì cả hai đồng
một thể chân nhự
Có vị tăng hỏi
Thiền sư Vân Môn:
- Thế nào là Phật?
Vân Môn đáp ngay:
- Que cứt khộ
Đơn giản chỉ vì đã là giác thì giác bất cứ cái gì, và đã là tánh thì cái gì cũng tánh. Thiền Vipassanā, đoạn giác niệm tất cả sự (sabbaṭṭhāna) trong kinh Satipaṭṭhāna,
Đức Phật dạy: “Khi đi đại,
tiểu tiện,
tuệ tri việc đang làm” (Uccāra passāva kamme sampajāna kārī hoti). Hễ
chánh niệm tỉnh giác thì ngay nơi cục phân cũng thấy thực tánh. Một
hành giả quán niệm thọ thì ngay khi rặn, đau… đều
cảm giác trung thực tánh trạng ấy là chuyện
hết sức bình thường nên chẳng ai
ngạc nhiên về câu nói của
Vân Môn cả.
Dĩ nhiên cả vị tăng lẫn
thiền sư Vân Môn đều không có ý
xúc phạm một Vị Phật nào, họ chỉ muốn mở bày
Giác Tánh và
Pháp Tánh.
Nhưng cũng không
cần phải kết luận giác tánh hay
pháp tánh có
thường hằng vĩnh cữu hay không để khỏi rơi vào
tà kiến đoạn thường. Tánh thì thấy chứ không phải tin vì tin thì vẫn còn là
giả định, không phải
thực tại hiện tiền. Dù ta có tin hay không tin có một tánh giác thường tri thì quan trọng vẫn là ngay nơi động dụng hàng ngày (thân, thọ, tâm, pháp) có đủ
chánh niệm tỉnh giác hay bị
chìm đắm trong mê mờ,
thất niệm.
Thiền sư nói “không sợ vọng khởi, chỉ sợ không giác kịp” là thế.
Có một du sĩ
ngoại đạo khi nghe
Đức Phật thuyết về sự
tỉnh giác, khoe với Phật rằng thầy của ông ta lúc nào cũng
thường giác không
gián đoạn và hỏi Phật có
thường giác được như vậy không. Phật nói Ngài không
cần phải luôn luôn khi nào cũng
thường giác. Như
Khổng Tử nói “Tùy cảm nhi ứng, tùy ngộ nhi an”. Và
Thiền sư nói “Sự đáo nhi tâm thỉ hiện, sự khứ nhi tâm tùy không”. Giống như lửa, không
cần phải nói nó
thường hằng hay
gián đoạn, quan trọng là khi cần
chúng ta có biết cách lấy lửa hay không.
Người ta có cái tật ưa luận đông luận tây để xác
định tánh này tánh nọ, nhưng đã có
kết luận thì giác liền mất mà tánh cũng chẳng còn.
Thiền sư nói “Chân bất lập” hay “Bất dụng cầu chân” vì “Người mê nói
Viên giác tánh thì đó cũng chỉ là tánh mê” (Kinh
Viên Giác).
Trong Vi Tiếu,
câu chuyện “Hãy để yên” kể rằng:
Một giáo sư
triết học muốn biết
đạo Phật chủ trương “Thường tại luận” hay “Vô thường luận”.
Sư nói:
- “Chân lý nằm ngoài chủ trương và
lý luận, cho nên
đạo Phật không chủ trương luận nào cả. Cái gì
vô thường hãy
để yên cho nó
vô thường, cái gì thường tại hãy
để yên cho nó thường tại”.
Sở dĩ trong
Phật Giáo Nguyên Thủy,
Đức Phật không khẳng định
chân tánh là gì vì không muốn người sau đem làm trò chơi
hý luận cho
ngôn ngữ,
ý niệm. Chân thì tự nó vốn chân, không cần ai lập. Thấy biết đã bị đóng khung trong
kết luận chính là gốc của
vô minh, thấy biết không bị
lệ thuộc vào bất kỳ
kiến thức nào mới thấy được
thực tại đang là, như
kinh Lăng Nghiêm nói: “Tri
kiến lập tri tức
vô minh bổn,
tri kiến phi kiến tức kiến Như Lai”. Vậy khi
chúng ta khẳng lập rằng có một cái tánh vĩnh hằng để mà đến thì
chúng ta đã đánh mất
thực tại rồi, và vô tình rơi vào
hai lỗi: một là bị
vô minh che lấp (lập tri) khó thấy được tánh thật, hai là còn có chỗ lý tưỏng để
bản ngã bám níu, không thể buông tay trên đầu sào trăm trượng.
Ngay
thực tại hiện tiền, chẳng cần
phân biệt vọng chân mà chỉ cần thấy tánh. Nguyên tắc của thiền Vipassanā là để cho các
pháp tự nhiên
vận hành, chỉ
lặng lẽ soi chiếu trong
chánh niệm tỉnh giác,
tuyệt đối không để cho
lý trí vọng thức xen vào, không
đánh giá,
kết luận, không tham ưu, thủ xả thì
trước mắt không gì không phải là đạo (sandiṭṭhiko: xúc mục
vô phi thị đạo).
Đức Phật dạy rằng: “Khi một người
thanh tịnh thì thấy tất cả các pháp đều thanh tịnh”.
Tổ
Huệ Năng cũng nói: “Nếu ở tất cả chỗ mà không
trụ tướng, ở tướng ấy mà
không sinh yêu ghét, chẳng nghĩ việc
lợi ích, thành hoại…
an ổn thanh tịnh gọi là
nhất tướng tam muộị Nếu ở tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm, ròng một
trực tâm, không dời khỏi
đạo tràng, liền thành
tịnh độ, gọi là
nhất hạnh tam muội”. Nhưng khi tâm đã vọng động thì thấy cái gì cũng động, nên khi nghe hai ông đạo
cãi nhau về phướn động hay gió động, Tổ
Huệ Năng nói “Không phải phướn động, không phải gió động, mà tâm
nhân giả động”.
(
Một sinh viên hỏi:)
- Trong hai câu “Chân bất lập, vọng bổn vô” và “Bất dụng cầu chân, duy tu tức vọng” thì vế đầu
hoàn toàn giống nhau, nhưng vế sau câu trên đã nói là vọng vốn không sao câu dưới lại nói chỉ tu ngưng vọng, như vậy có
mâu thuẫn nhau không? Cái nào đúng cái nào saỉ
- Vế đầu của cả hai câu đều rất
chính xác, vì chân thì tự nó chân, còn đã lập, đã dụng cầu thì
bản ngã và
tư tưởng đã
xen vào rồi làm sao mà chân được? Vế sau vọng bổn vô cũng rất
chính xác vì vọng tự nó không có thật, ví dụ
ý niệm bản ngã chỉ lả
ảo tưởng làm sao có thực được! Riêng vế chỉ tu ngưng vọng thì có thể đúng có thể saị Nếu như vì
chánh niệm tỉnh giác hay liễu liễu thường tri mà vọng tự ngưng thì đúng, còn nếu đem tư ý của
bản ngã mà toan ngưng vọng là saị
Vì vậy mới có câu:
Đoạn
trừ phiền não trùng tăng bệnh
Xu hướng chân như tổng thị tà.
5) Trong và ngoài: Đối với thiền, trong ngoài, tâm vật, nhân cảnh hay chủ thể đối tượng có một mối quan hệ, tương giao
tự nhiên khi xúc sự, cho nên tùy
trình độ,
căn tính,
hoàn cảnh mà ứng cơ tiếp vật chứ không lấy bên này, bỏ bên kiạ
Trong
tinh thần thiền vipassanā, hai yếu tính của
tuệ giác là
nội tâm thanh tịnh và thấy rõ các pháp, như vậy mối quan hệ trong ngoài rất chặt chẽ
tự nhiên. Trong kinh Đại
Tứ Niệm Xứ đức Phật dạy: “Như vậy, vị ấy sống
quán tâm trên
nội tâm, hay sống
quán tâm trên ngoại tâm, hay sống
quán tâm trên
nội tâm, ngoại tâm” (Iti ajjhattam… bahihā…ajjhatta-bahihā và citte cittānupassī viharati).
Pháp môn Tứ Liệu Giản của phái
Lâm Tế cũng vận dụng bốn cách
tùy duyên ứng xử trong ngoài:
-
Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh: có lúc dẹp người không dẹp cảnh.
-
Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân: có lúc dẹp cảnh không dẹp ngườị
-
Hữu thời nhân cảnh câu đoạt: có lúc người cảnh đều dẹp.
-
Hữu thời nhân cảnh bất câu đoạt: có lúc người cảnh đều không dẹp.
Nói theo
kinh Tứ Niệm Xứ là khi thì
quán chiếu thân thọ
tâm pháp bên trong, khi thì
quán chiếu thân thọ
tâm pháp bên ngoài, khi thì
quán chiếu cả hai, khi thì
buông xả thanh tịnh rỗng rang trong ngoài, đó là khi “nội
tâm thanh tịnh thì thấy tất cả các pháp đều thanh tịnh” chẳng cần
gia tâm quán chiếụ
(
Một sinh viên hỏi:)
- Thưa thầy, khi con chăm chú nghe giảng thì con hiểu được lời giảng, nhưng khi con quay lại biết con đang nghe thì con không hiểu thầy giảng gì. Như vậy, có phải hoặc là
nghe pháp hoặc là nghe lại chính mình, chứ không thể cả hai cùng một lúc được?
- Chính vì điều này mà
đức Phật mới dạy khi thì quán bên trong (ajjhattam, khi thì quán bên ngoài (bahihā), khi thì quán cả hai (ajjhatta-bahihā), và phái
thiền Lâm Tế cũng vận dụng cách này thành
Tứ liệu giản. Tức là khi
thuận quán bên trong (nhân) thì toàn tâm
chánh niệm tỉnh giác bên trong, khi
thuận quán bên ngoài (cảnh) thì toàn tâm chảnh niệm
tỉnh giác bên ngoài, nhưng khi tầm nhìn của
chánh niệm tỉnh giác rộng hơn thì đối tượng có thể cả trong lẫn ngoài đều thấỵ Ví dụ như khi nghe giảng thì cứ
chuyên tâm nghe giảng thôi, khi có cơ hội nhìn lại mình thì cứ
chuyên tâm nhìn lại mình, nhưng nếu trong khi nghe giảng vẫn không
quên mình thì càng tốt. Đây cũng chính là “Duyên chủng bất tương phương” hay “Ư duyên bất tương ngại” vậỵ
6)
Vô tâm:
Yếu tố vô tâm đóng một
vai trò quan trọng trong Thiền Vipassanā cũng như trong
Thiền Tông. Nói
vô tâm chỉ để
cảnh giác những người hành thiền vì cơ tâm, trước ý, có ý đồ, có
dụng tâm mà rơi vào tham ưu (abhijjhā domanassa),
chấp thủ (upādāya) như kinh Mahā Satipaṭṭhāna đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trong thiền vipassanā
chánh niệm tỉnh giác phải
tự nhiên, không nên
cố ý dụng tâm kiểm duyệt, mong cầu hay thoả mãn, vì như vậy cái tôi tham ưu đã có cơ hội xen vàọ Đối tượng cũng phải
tự nhiên, không nên
cố ý dựng đối tượng thế này thế kia theo ý mình để
cố gắng an tâm hay
lăng xăng kiếm tâm, tìm pháp. Một khi đã dựng đối tượng thì
lập tức nó đã
biến thành khái niệm paññatti, không còn là thực tánh paramattha nữạ
Nếu không thông suốt điều này thì hành
thiền chỉ để
phí công làm trò chơi cho
bản ngã.
Cũng chính vì
lý do này mà
Thiền Tông nhấn mạnh yếu tố vô tâm, như nói “Vô
tâm đạo dị tầm”, “Học đạo quí vô tâm” (
Thiền sư Hương Hải), “Đối cảnh
vô tâm mạc vấn thiền” (Cư Trần
Lạc Đạo).
Đôi khi vô tình cũng được dùng với nghĩa này, ví dụ như trong câu:
“Cố ý xem hoa hoa chẳng nở
Vô tình tiếp liễu liễu xanh um”
Như ngài A-nan
cố gắng mãi vẫn không
thực chứng đạo quả A-la-hán, nhưng khi vừa nằm xuống nghỉ ngơi thì
đạo quả Vô Sanh lại đến.
Chứng ngộ không thể lập trình mà được, nó chỉ đến trong lúc
hốt nhiên hay
tự nhiên bất chợt mà thiền gọi là hoát nhiên
đại ngộ.
Krishnamurti nói: “Bạn hãy mở toang cánh cửa
tâm hồn thì
chân lý sẽ tự tràn đầy”. Bởi vậy
Tổ Tăng Xán nói: “Tương tâm
dụng tâm, khởi phi đại thố”, đem tâm
dụng tâm chẳng phải là lầm lớn hay saỏ Huống
chi dụng tâm
vô tâm thì thật là một
sai lầm quá đáng.
Không ít người
hiểu lầm hai chữ
vô tâm nên hoặc là
cố ý giữ tâm trống rỗng
không không, hoặc cứ buông xuôi cho tâm tùy tiện rong ruổi, hoặc
mặc kệ chuyện đời chẳng màng
quan tâm gì cả, và họ tưởng là đã
tùy duyên thong dong thỏng tay vào chợ! Có
một sinh viên đã hỏi rằng: “Nếu đối cảnh
vô tâm, thì chẳng lẽ gặp chuyện gì cũng phớt lờ
xem như không có?”. Thật là một
hiểu lầm nguy hại!
Vô tâm, tất nhiên, không phải là cái tâm đầy mưu kế đã bị
bản ngã xen vào lập trình, lại càng không phải là
trạng thái si mê vô ký, lờ đờ mông muội, ngái ngủ hôn trầm… mà là một “Tâm địa nhược
không tuệ nhật tự chiếu”. Nếu có một
vô tâm thiếu
chánh niệm tỉnh giác, thiếu
sáng suốt trong lành, thiếu liễu liễu thường tri hay
thất niệm bất giác thì
cần phải nghe
thiền sư Trần Nhân Tông cảnh báo:
“Mạc vị
vô tâm vân
thị đạoVô tâm do cách nhất
trùng quan.”
(Chớ bảo
vô tâm là phải đạo
Vô tâm còn cách mấy ngăn rào).
Tôi có
bài kệ để
minh giải hai chữ
vô tâm theo
tinh thần thiền
Nguyên Thủy:
“Học đạo quí vô tâm”
Làm, nghĩ, nói không lầm
Sáng, trong và
lặng lẽGiản dị mới
uyên thâm.
Vô tâm (câu 1) nhưng trong đó hành động, nói năng,
suy nghĩ không tương ngại, không
lầm lẫn (câu 2), mà luôn
sáng suốt, định tĩnh, trong lành (câu 3). Tâm càng giản dị, càng ít bị mây
lý trí vọng thức che mờ thì càng
thâm sâu tận thực tánh của tâm và pháp (câu 4).
C)
Vị trí của định trong Thiền Vipassanā và
Thiền Tông:
C.1) Định trong thiền Vipassanā:
Theo
Phật giáo Nguyên Thủy,
hành giả có thể hành thiền Vipassanā mà không
cần phải trải nghiệm bất kỳ một bậc thiền an chỉ (appanā) nào trong
thiền sắc giới hay
vô sắc giới,
tuy nhiên yếu tố định thì tất yếu phải có mặt trong
thiền tuệ,
tối thiểu cũng là sát-na định (khanika samādhi).
Nếu không có
yếu tố định này thì cũng không thể có
thiền tuệ. Kệ
kinh Pháp Cú dạy rằng “không có
trí tuệ nơi người không có định” (Natthi paññā ajjhāyino).
Tuy định là
yếu tố không thể thiếu, nhưng cũng không
cần phải đi quá xa vào sở đắc các bậc định như sơ định, nhị định,
tam định,
tứ định sắc giới hoặc
vô sắc giớị Định đúng mức,
chính đáng,
thích ứng sẽ là nền tảng cho
trí tuệ. Ngược lại, quá thiên về định hay không biết
sử dụng đúng
lợi thế và
chức năng cho phép của định thì nó có thể
trở thành chướng ngại cho
tuệ giác, như
ham thích hỷ lạc, say mê
quyền lực thần thông, hoặc
sử dụng vào những
lãnh vực bất thiện, ngược với nguyên lý
nhân quả v.v...
Trong năm
yếu tố công năng cơ bản: Tín, tấn, niệm, định, tuệ,
Đức Phật dạy nếu định trội hơn các
yếu tố khác, phá vỡ sự cân đối,
quân bình, hài hòa thì tâm sẽ nghiêng về tĩnh chỉ, thiếu hoạt dụng, do đó dễ sinh
thụ động,
tiêu cực đối với tướng dụng của pháp,
đồng thời hôn trầm cũng phát sinh ngăn che thực tánh pháp, do đó không học được những pháp
cần thiết cho sự
giác ngộ toàn triệt mà phần lớn phải học từ
cõi dục giới, nhất là
cõi người, hơn là cõi
hữu sắc hay
vô sắc.
Mặc dù Bồ-tát Sihattha, sau khi
xuất gia tầm sư
học đạo, đã
đạt được những
thiền chứng cao nhất mà các bậc
đạo sư thời bấy giờ
mong ước, nhưng ngài sớm thấy ra rằng đó không phải là
cứu cánh của sự
giác ngộ giải thoát hoàn toàn, nên
cuối cùng ngài đã
từ bỏ để tự mình
tìm ra con đường tuệ giác.
Chúng ta cần
lưu ý một điều là định và tịnh tuy có
trạng thái tĩnh chỉ, lắng đọng, an ổn… nhưng không có nghĩa là tâm đã
thoát khỏi thế giới ý niệm (paññatti), thậm chí nó còn là sản phẩm của tưởng ở mức độ cao thâm
vi tế, chỉ có
trí tuệ (ñāna, paññā)
chánh niệm tỉnh giác thấy rõ thực tánh (paramattha) mới có thể
thoát khỏi sự
ràng buộc của
thế giới tư tưởng,
quan niệm.
C.2) Định đối với
Thiền Tông:
Hầu như
Thiền Tông không hoan nghinh định, cho đó là thiền của Giáo Tông (điển hình là thiền
sổ tức) hay tịnh của
Tịnh Độ (điển hình là
niệm Phật A-di-đà).
Câu chuyện đối đáp giữa
Hoài Nhượng và
Đạo Nhất biểu hiện khá rõ nét
ý hướng nàỵ
Thấy
Đạo Nhất, một vị sa-môn, hàng ngày
thường tinh tấn ngồi
tu thiền,
Hoài Nhượng hỏi:
- Ông
ngồi thiền để làm gì?
Đạo Nhất nói:
- Tôi
ngồi thiền để
làm Phật.
Hoài Nhượng nhặt một viên gạch đem mài trên tấm đá trước am.
Đạo Nhất ngạc nhiên hỏi:
- Ngài mài gạch để làm gì?
Hoài Nhượng đáp:
- Mài gạch để làm gương.
- Mài gạch sao thành gương được?
-
Ngồi thiền cũng đâu
thành Phật được?
- Vậy làm thế nào mới đúng?
- Nếu trâu kéo xe, xe không chạy, thì đánh xe hay đánh trâu mới đúng?
Đạo Nhất không nói được.
Hoài Nhượng nói tiếp:
- Ông học
ngồi thiền hay ngồi Phật? Nếu học
ngồi thiền thì thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật thì Phật
không tướng, không trụ, không thủ xả. Nếu ngươi ngồi Phật tức
giết Phật, nếu
chấp tướng ngồi thì không
thể đạt.
Trong
câu chuyện trên có vẻ như chỉ
bài xích tướng ngồi chứ không nói gì đến định,
tuy nhiên chúng ta dễ dàng
nhận ra trọng tâm của đối tượng bị
chỉ trích chính là định, biểu hiện rõ nét trong các dụng ngữ
không tướng, không trụ, không thủ xả.
Trong
Pháp Bảo Đàn, Tổ
Huệ Năng không những chê tướng ngồi chỉ
hành hạ thân xác, làm cho “đầu xương thối” mà còn nói rõ
cố gắng định tâm chính là bệnh: “Trụ
tâm quán tịnh là bệnh chứ không phải thiền”. Và rõ nhất là khi Tổ
đối đáp bài kệ của Ngọa Luân. Ngọa Luân nói:
“Ngọa Luân có
biệt tàiCắt đứt trăm
tư tưởngĐối cảnh
tâm không khởi
Bồ-đề ngày ngày tăng”
Tổ
Huệ Năng đối lại:
“Huệ Năng chẳng
biệt tàiChẳng dứt trăm
tư tưởngĐối cảnh tâm khởi nhiều
Bồ-đề làm sao tăng”
Biệt tài của Ngọa Luân chính là định (dứt
tư tưởng,
tâm không khởi) nên có sở đắc (hữu kỹ lưỡng). Còn Tổ
Huệ Năng lại không cần định (không dứt
tư tưởng, tâm cứ khởi nhiều) nên cũng không có sở đắc (một kỹ lưỡng), không có chỗ trụ, bởi vì ngay khi nghe
Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn đọc câu “Ưng
vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong
kinh Kim Cang thì Tổ
Huệ Năng đã ngộ rồị
Thật ra,
Thiền Tông chỉ muốn
cảnh báo những người quá ham mê
tọa thiền chỉ tịnh, rất dễ rơi vào
trầm không trệ tịch, làm mất tính
linh động của tánh giác
tự nhiên, nên không khuyến khích
tọa thiền quán tịnh.
Vô niệm của
Lục Tổ chính là không còn rơi vào
tư tưởng,
ý niệm, mà tổ gọi là
niệm niệm kế tục, tức là
tư tưởng đuổi theo
tư tưởng không bao giờ dứt.
Vô niệm được Bách Trượng,
Mã Tổ nói một cách khác là “Tâm địa nhược không,
tuệ nhật tự chiếu”. Nhưng cả
vô niệm lẫn
tâm địa nhược không
hoàn toàn không phải là định,
đơn giản là vì định phát xuất
từ ý niệm.
Tâm địa nhược không,
tuệ nhật tự chiếu chính là
ý nghĩa đích thực của
chánh niệm tỉnh giác mà
đức Phật dạy trong kinh Nguyên Thủỵ
Tâm sự thay lời tạ bạch:
Chúng tôi làm công việc
đối chiếu Thiền
Nguyên Thủy và Thiền Phát Triển này là
việc làm vô cùng mạo hiểm, chỉ vì
đáp ứng nhu cầu
chính đáng và bức thiết hiện nay của
thế hệ Tăng Ni Phật tử trẻ là muốn biết
cốt lõi chung của thiền là gì để không còn phân vân khi chọn lựa
pháp môn tu tập phù hợp với
căn tính của mình. Chính
vì vậy Học Viện
Phật Giáo Việt Nam Thành Phố Hồ
Chí Minh đã đưa vào
chương trình giảng dạy
môn học này cho lớp
cử nhân Phật học bắt đầu từ khoá 6, khoá 7.
Khi được Học Viện mời giảng môn này tôi thật sự không dám nhận nhưng quí thầy trong
Hội Đồng Điều Hành Viện động viên khuyến khích nên tôi đành phải khẩn trương
biên soạn giáo án cho kịp thời biểu của các khoá học. Vì
thời gian cấp bách, nên tôi phải vận dụng
trí nhớ nhiều hơn là
tham khảo tài liệụ Đó là một khuyết điểm lớn,
tuy nhiên tôi tự
an ủi rằng thiền cốt ở chỗ thấy chứ không
lệ thuộc nhiều vào sách vở, nên cứ
chân thành nói ra cái gì mình thấy rồi sẽ
tham khảo bổ chính saụ
Có
một sinh viên Tăng
thành thật hỏi: “Sư đã ngộ chưả Nếu ngộ chúng con mới tin, còn nếu chưa ngộ làm sao chúng con biết sư giảng đúng hay saỉ”
Thật ra, dù người giảng có ngộ, có nói rất đúng, rất tận tình thì cũng không chắc gì có mấy người tin hay ngộ. Ngược lại, có khi người giảng không ngộ, thậm chí còn giảng sai mà người nghe vẫn nhân đó
tỏ tường. Chính vì nhân
bài kệ chưa ngộ của
Thần Tú mà ngài
Huệ Năng tỏ rõ thiền cợ Trong khi đó Tổ
Hoằng Nhẫn là người đã ngộ, giảng câu “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong
kinh Kim Cang biết bao lần mà chưa ai
liễu giải, chỉ có ngài
Huệ Năng mới thấy được tức thì.
Tinh thần đại học là cứ khách quan mà nghe trình bày và
tiếp thu có
sáng tạo, chứ không nên
lệ thuộc giáo điều hay
uy tín của thầy, như kinh Kalama
đức Phật đã cảnh báọ
Tôi
thành thật cám ơn những sinh viên
Tăng Ni trong các lớp
cử nhân khoá 7 đã
chân thành nêu lên những câu hỏi rất hữu ích để
vấn đề được mổ xẻ
rõ ràng và
thiết thực hơn.
Trong tập giáo án này, những chỗ
đối chiếu còn rất nhiều
thiếu sót, chưa nói được hết ý hoặc thậm chí còn
lầm lẫn nữa,
phạm vi đối chiếu cũng còn rất hạn hẹp, chỉ nói
đại cương v.v...
vì vậy chúng tôi rất mong được sự góp ý bổ sung của
chư tôn thiền đức để
cung cấp cho sinh viên
Tăng Ni một
tài liệu tham khảo tương đối hoàn chỉnh hơn.
Học Viện, ngày 30 – 11 – 2007
Viên Minh