THIỀN PHẬT GIÁO
NGUYÊN THỦY VÀ PHÁT TRIỂN
TÁC GIẢ: VIÊN MINH
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Nhà xuất bản Tôn Giáo
Dẫn nhậpThiền (
Trung Quốc) và Zen (
Nhật Bản) có nguồn gốc phiên âm từ Jhāna trong
văn học Pāḷi
Phật Giáo Nguyên Thủy, hay Dhyāna trong
ngôn ngữ Sanskrit
Phật Giáo Phát Triển, nhưng về sau các
tông phái sử dụng từ thiền với nhiều
ý nghĩa khác nhau và thay đổi tùy thờị
Trong
Thiền Tông Đông Độ thiền là
kiến tánh chứ không phải tịnh và định, nhưng trong
văn học Pāḷi,
Phật giáo Nguyên Thủy, Jhāna lại dùng để
chỉ tịnh hay cận hành (upacāra) như
niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng… và định hay an chỉ (appanā) để gọi những
trạng thái thiền chứng theo nội dung các
thiền chi như
đệ nhất thiền (paṭṭhamajjhāna),
đệ nhị thiền (dutiyajjhāna),
đệ tam thiền (tatiyajjhāna), và
đệ tứ thiền (catutthajjhāna) trong các bậc định thuộc
sắc giới thiền (rūpajjhāna). Về sau Jhāna còn dùng để gọi
vô sắc giới thiền (arūpajjhāna), tựu trung vẫn là
thiền định. Từ Pāḷi bhāvanā (
tu tập,
thực hành, tiến hành) được dùng cho cả
thiền định hay
thiền chỉ (samatha bhāvanā) lẫn
thiền tuệ hay
thiền quán (vipassanā bhāvanā).
Đối với
Tịnh Độ Tông thì thiền là
niệm Phật A-Di-Đà và
Mật Tông thiền là
trì chú v.v... cho nên, ngày nay nói tới thiền
chúng ta cần phải xác định đó là loại thiền gì, thuộc
tông phái nào thì mới không
lầm lẫn nội dung mà từ thiền ấy được
sử dụng.
Để có thể
so sánh tính chất đồng dị giữa thiền
nguyên thủy và thiền phát triển,
chúng ta cần
tìm hiểu và
phân biệt từng loại thiền của cả hai
hệ thống nói trên.
1)
Thiền định trong
Phật Giáo Nguyên Thủỵ
2)
Thiền tuệ trong
Phật Giáo Nguyên Thủỵ
3)
So sánh thiền
nguyên thủy và một số
pháp môn thiền phát triển
tiêu biểu theo Giáo Tông:
Lục Diệu Pháp MônNiệm Phật theo
Tịnh Độ TôngThiền
Nhĩ Căn Viên Thông theo
Kinh Lăng Nghiêm.
4)
So sánh Thiền Vipassanā và
Thiền Tông Đông Độ.