Thư Viện Hoa Sen

Đại Bi Trong Duy Thức

ĐẠI BI TRONG DUY THỨC

Nguyễn Thế Đăng

lotus flower (10)Bài kệ mở đầu Kinh Lăng Già do Cầu Na Bạt Đà La dịch, nói rõ Trí Huệ thấy như huyễn như mộng và Đại Bi luôn luôn đi cùng với nhau:

Thế gian lìa sanh diệt

Giống như hoa trong không

Trí chẳng đắc có - không

Mà hưng tâm đại bi.

Tất cả pháp như huyễn

Xa lìa khỏi tâm thức

Trí chẳng đắc có - không

Mà hưng tâm đại bi.

Xa lìa khỏi đoạn thường

Thế gian hằng như mộng

Trí chẳng đắc có - không

Mà hưng tâm đại bi.

Biết nhân pháp vô ngã

Phiền nãosở tri

Thường thanh tịnh vô tướng

Mà hưng tâm đại bi.

Tất cả không niết bàn

Không có niết bàn (của) Phật

Không có Phật niết bàn

Xa lìa giác, chỗ giác.

Hoặc có, hoặc không có

Là tất cả đều lìa

Quán Mâu Ni tịch tĩnh

Đó là xa lìa sanh

Sanh ấy là chẳng nắm.

Đời này đời sau tịnh.

Trí huệ là thấy cuộc đời như hoa trong hư không, tất cả sự vật như huyễn như mộng, biết người và pháp là vô ngã… nhưng “mà hưng tâm đại bi”.

Tại sao thấy như huyễn, như mộng, thấy người và pháp vô ngã mà lại sanh tâm đại bi? Vì thấy chúng sanh sống trong cảnh huyễn mộng, không thật (trong Biến kế sở chấp) mà khóc, cười, khổ vui, tạo ra đủ thứ hành động xấu tốt nên tự nhiên thấy thương xót, nên tự nhiên lòng bi dâng tràn.

Có thể nào thương xót cho những người được thấy trong mộng? Tánh Không như huyễn như mộng và đại bi, hai thực thể tưởng chừng như hoàn toàn mâu thuẫn với nhau lại là hai yếu tố quan trọng nhất phối hợp thành con đường Bồ tát, như hai chân để đi trên đường.

1. – Lòng bi có ngay từ đầu con đường Bồ tát

Muốn vào Đại thừa phải phát Bồ đề tâm. Bồ đề tâm là nguyện và hạnh đạt đến giác ngộ để giúp cho chúng sanh giải thoát, hết khổ. Vế đầu là trí huệ và vế sau là đại bi. Trí huệđại bi được phát nguyện ngay từ đầu và càng ngày càng lớn mạnh; trí huệ đến đâu Bồ tát giúp đỡ chúng sanh đến đó.

Đại biđộng lực để trí huệ phát sáng mạnh mẽ, vì Bồ tát không chỉ tu tập trí huệ cho mình mà còn vì sự tăm tối khổ đau của rất nhiều người khác.

2. – Lòng bi bắt đầu cùng với trí huệ

Trí huệ nhờ chỉ quánnhận ra thế giới mình và mọi người đang sống thì không thật, chỉ do danh tướng (Biến kế chấp) và các thức duyên sanh lẫn nhau (Y tha khởi) mà thành nên như huyễn như mộng.

Như huyễn mộng, sóng nắng

Như thành Càn thát bà

Vô số loại hình tướng

Danh tự và câu cú

Do chấp trước sanh ra

Thành ra tánh Biến chấp.

Căn, cảnh, ý hòa hợp

Huân tập thành hạt giống

Không khác biệt với tâm

Các thức từ đây sanh

Tạo thêm vốn cho nhân

Gọi là Y tha khởi

Trong, chứng trí chân thật

Ngoài, pháp trụ hiện ra

Tức là gọi Viên thành.

Cảnh giới các bậc thánh

Phật và các Phật tử

Chứng pháp này là thánh

Nếu người chứng pháp ấy

Tức thấy được lẽ chân.

(Kinh Đại thừa Mật Nghiêm).

Vậy mà từ bao đời nay người ta không biết, cứ bám nắm, đuổi theo sự hư vọng này để rồi khổ đau, cho đến sanh lão bệnh tử.

Hiểu được, thấy được một phần Biến kế sở chấp thì một phần tâm bi hưng khởi.

3. – Bổn nguyện đại bi của Bồ tát

Con đường Bồ tát là khai mở trí huệ tánh Không, và đại biđộng lực cũng là đích đến của con đường. Đại bi có từ đầu con đường, cho đến cuối cùng, gọi là “bổn nguyện đại bi”. Chính bổn nguyện đại bi này làm thành vị Bồ tátcon đường của ngài.

Đại Huệ! Các đại Bồ tát thấy các lạc của tam muội tịch diệt (Niết bàn) liền nhớ nghĩ bổn nguyện đại bi, tu hành đầy đủ mười câu vô tận, thế nên không liền nhập Niết bàn, vì nhập Niết bàn thì không sanh quả Phật. Lìa năng thủ, sở thủ, rõ thông duy tâm, không phân biệt tất cả pháp, không sa vào tâm, ý, ý thức, vào chấp trước tánh tướng ngoại pháp, nhưng chẳng phải không khởi chánh nhân Phật pháp (Bồ đề tâm), hành theo trí huệ mà khởi như vậy, đắc địa tự chứng của Như Lai”. (Kinh Nhập Lăng Già)

Đại bi phát nguyện từ ban đầu (bổn nguyện) duy trì, giữ gìn con đường Bồ tát cho đến lúc thành Phật mà không “liền nhập Niết bàn, vì nhập Niết bàn thì không sanh quả Phật”.

Trí huệ ‘rõ thông duy tâm” và đại bi bổn nguyện lập thành con đường Bồ tát với Bồ tát hạnh. Công đức của Bồ tát là do đại bi:

Bồ tát khéo quán sát

Nhân - pháp hai vô ngã

Quán rồi liền xa lìa

Không trụ nơi thật tế.

Nếu trụ vào Niết bàn

Thì bỏ tâm đại bi

Công đức không thành tựu

Chẳng đắc thành Chánh giác.

(Đại thừa Mật Nghiêm, Địa Bà Ha La dịch)

Kinh Thâm mật Giải thoát (Bồ Đề Lưu Chi dịch tiếng Hán) nói:

Bồ tát Quán Thế Tự tại bạch Đức Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các ba la mật này những gì là nhân? Những gì là quả? Những gì là lực?

Đức Phật nói

- Đại bi là nhân, ham muốn nắm giữ chúng sanh là quả; có khả năng đầy đủ Bồ đề là lực”.

Con đường Bồ tátđại bi là nhân. Nhân ấy, bằng Bồ tát hạnh, lớn dần, bằng Bồ tát hạnh, trùm khắp để ham muốn nắm giữ, giữ gìn tất cả chúng sanh, đó là quả. Quả là đại bi trùm khắp tất cả chúng sanh.

Đại bi này đi cùng trí huệ hướng đến Bồ đề (Giác ngộ), cả hai càng ngày càng đầy đủ, mạnh mẽ, đó là lực. Năng lực của Bồ táttrí huệđại bi, khiến cho Bồ tát có thể làm việc hiệu quả trong đời. Cụ thể, trong Duy thức, năng lực là do chứng ngộ được mọi sự như huyễn, đạt Như huyễn tam muội, mà Kinh Hoa Nghiêm gọi là “huyễn lực”.

Phật đã chứng ngộ rốt ráo trí huệ như huyễn như mộng và đại bi bao trùm chúng sanh như huyễn để có thể biến hiện khắp các cõi.

Khi nói trí huệđại bi hợp nhất nơi bậc Giác ngộ thì có nghĩa là trí huệđại bi tỏa khắp và thấm nhuần khắp A lại da nền tảng. Và A lại da nền tảng là cái tạo ra sanh tửniết bàn, nên khi ấy trí huệđại bi tỏa khắp, thấm nhuần khắp sanh tửNiết bàn.

Như Lai dùng bi, nguyện

Tùy duyên hiện các cõi

Như vầng trăng trong sáng

Hiện khắp cả mọi nơi.

Tùy căn tánh chúng sanh

Thích nghithuyết pháp

Nếu Niết bàn là diệt

Phật có công đức gì?

(Kinh Đại thừa Mật Nghiêm)

Sự biến hiện khắp các cõi là do năng lực chứng đắc “ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức”, nghĩa là ba cõi và muôn pháp đều như huyễn như mộng.

Thường trụ cõi Mật Nghiêm

Đó là nơi thanh tịnh

Hiện rõ tướng Như Lai

Ví như trăng tròn sáng

Ảnh chiếu các dòng nước.

Phật dùng tất cả thân

Tùy nghiứng hóa

Cảnh tịnh, trí Như Lai

Người quán hạnh điều thấy.

(Kinh Đại thừa Mật Nghiêm)

Người quán hạnh Duy thức thì dần dần thấy hóa thân Phật “ví như trăng tròn sáng, ảnh chiếu trong tất cả các dòng nước”. Đó là ứng hóa thân của Phật: “Phật dùng tất cả thân, tùy nghi mà ứng hóa”. Đó là “cảnh tịnh, trí Như Lai”.

Ở đây, một lần nữa, qua các bài kệ trên, chúng ta có được định nghĩa Ba Thân Phật.

Pháp thântánh Không: “như hư không vượt khỏi có không, thường thanh tịnh vô tướng… (bài kệ đầu bài).

Báo thân là ánh sáng: “trăng trong sáng, trăng tròn sáng”.

Hóa thân là sự hóa hiện của Trí – Bi: “ảnh của mặt trăng tròn sáng, hiện khắp cả mọi nơi, ảnh chiếu trong tất cả các dòng nước”.

“Người quán hạnh đều thấy” là thiền định thiền quán Duy thức, là “kết nối, tương ưng, hợp nhất” (nghĩa của chữ Du già trong Du già hành tông – Yogacàrà) để đến lúc Ba Thân ấy hiển lộ, ở Thông đạt vị hay Kiến đạo vị. Đây gọi là thấy Duy thức tánh hay Chân Như ở cấp độ đầu tiên của Mười Địa.

Tiếp tục thực hành quán hạnh sau khi đã “thấy” là Tu tập vị, tiếp xúc, làm quen, cho đến lúc an trụ hẳn trong Ba Thân, mà Kinh gọi là “thường trụ cõi Mật Nghiêm”.