Bộ
Bát thức quy củ tụng của ngài
Huyền Trang đại sư chưa từng thấy chỗ nào biên chép rằng ngài tự
chú giải lời tụng đó.
Mùa hạ năm Đinh Mão, tôi ở nơi chùa Linh Ẩn đất Hổ Lâm. Lúc đó có ngài
Đàm Huyền đường chủ1 , người ở đất Tương, là bậc
học rộng nghe nhiều. Ngài nói với tôi rằng, trong
đại tạng kinh hiện có bản khắc bộ
Bát thức quy củ tăng sao, đời nhà Minh. Trong bộ ấy chép rằng, đời nhà Đường, ngài
tam tạng pháp sư Huyền Trang chú giải lời tụng. Đời nhà Minh, ngài Lỗ Am
pháp sư, hiệu là Phổ Thái, bổ chú thêm2 . Đời nhà Minh, ngài Tử Bá
thiền sư, hiệu là
Đạt Quán, giải rõ lời chú.
Đệ tử thọ giới bồ tát là ông Lý Ngự Phương làm lời tăng sao. Bạn đồng
giới luật là Tạ Phan và Lâm Hữu Thọ cùng
tham cứu,
hiệu đính thêm. Những lời
chú giải và bổ chú thêm trùng lập
lẫn lộn,
rõ ràng là do người đời nhà Minh làm ra. Chỉ có lời
chú giải của ngài
Huyền Trang, tức là bộ
Bát thức quy củ tụng Trang chú này, xét về danh và kiểm lại
sự thật thì câu nghĩa thật là già dặn, quyết chẳng phải là những người sau đời nhà Đường có thể gá mượn được. Tuy chẳng đoan chắc là ngài
Huyền Trang tự chú giải, nhưng những lời
chú giải đó ắt cũng từ những bậc hiền đồ của ngài
Huyền Trang thuật lại. Được như thế thì rất đủ làm
của báu vậy. Trong bộ
Bát thức quy củ tăng sao, tôi thấy nơi lời
chú giải của ngài
Huyền Trang và của ngài Phổ Thái có sự xen tạp
lộn xộn, câu và chữ cũng có đôi lúc
sai lầm.
Vì vậy, tôi bèn
xem xét chính chắn qua một lượt và
vâng theo lời dạy của ngài
Đàm Huyền đường chủ,
gạn lọc sao chép lại, cho ghi vào bộ
Hải triều âm quyển 16, số thứ 8, tháng 8 (1935) để thật chứng vậy.3
__________________________________
1
Đàm Huyền 談玄:
danh tăng Trung quốc, người
Hồ Nam. Sư
xuất gia lúc tuổi nhỏ,
chuyên tâm học tập,
biện tài vô ngại. Sư từng đi du học ở
Nhật bản 2 lần,
tu tập Thai mật và
Đông mật đều được học vị
Truyền pháp quán đảnh. Năm Dân Quốc thứ 24 (1935), sư mang về nước những kinh sách
Mật giáo do sư sưu tập, khoảng 300 loại, hơn 2500 quyển, gồm các bản chép tay, bản in chụp, bản hoàn chỉnh, bản dịch văn Phạn, văn
Tây tạng, và có những bản gồm cả 4 thứ tiếng
Tây tạng, Phạn, Anh, Hán, cùng nhiều sách vở khác. Những sách này được
triển lãm tại
Phật học thư cục Thượng Hải và được cất giữ
cẩn thận ở thư viện
Phật học viện Vũ Xương. Sư đã
thúc đẩy phong trào nghiên cứu Phật học ở
Trung quốc phát triển mạnh mẽ. Sư từng giảng dạy ở Sở
nghiên cứu Phật học viện Vũ Xương,
Phật học viện thế giới.
2 Đại chánh tân tu, T45, No.1865,
Bát thức quy củ bổ chú 八識規矩補註, 2 quyển. Lược bỏ những lời bổ chú của ngài Phổ Thái thì là bản
Bát thức quy củ tụng Trang chú này.
Tuy nhiên vẫn còn có nhiều chỗ
lầm lẫn, chấm câu
lộn xộn, cho nên
đại sư Thái Hư đã bỏ
công hiệu đính lại cho hoàn chỉnh.
3
Hải triều âm 海潮音: Tạp chí
Phật giáo Trung quốc, do các vị
Thái Hư, Tưởng Tác Tân, Trần Nguyên Bạch, Hoàng Bảo Thương, v.v...
sáng lập.
Lúc đầu, tạp chí này có tên là Giác Xã Tùng Thư, số 1 được phát hành vào ngày 10 tháng 10 năm 1918, 3 tháng ra một kỳ, chuyên
nghiên cứu và hoằng dương
Phật giáo. Sau khi phát hành kỳ thứ 5, vào năm 1920, tạp chí quí san được đổi làm nguyệt san và lấy tên là
Hải Triều Âm, nghĩa là tiếng nói
thức tỉnh giữa trào lưu
tư tưởng của
loài người. Lấy việc phát huy
nghĩa chân thực của
Phật pháp Đại thừa để hướng
dẫn nhân tâm và
tư tưởng chân chính trong thời
hiện đại làm
tông chỉ.
Đại sư Thái hư là vị chủ biên quyển 1 trong kỳ phát hành lần đầu tiên của tạp chí này.
Tiếp theo, có những
biên tập viên
nổi tiếng như:
Đường Đại Viên, Trương Hóa Thanh, Pháp Phường,
Chi Phong, Phúc Thiện, v.v... Năm Dân quốc 37 (1948), sư
Đại Tỉnh làm chủ biên. Năm sau (1949) chiến tranh
bùng nổ, tòa soạn tạp
chí phải dời ra
Đài loan, ngài
Ấn Thuận làm chủ nhiệm,
Lý Tử Khoan là người phát hành. Năm 1988, tòa soạn được đặt tại chùa
Thiện Đạo ở Đài bắc và
Diệu Nhiên là người phát hành.
Hải triều âm số 16 phát hành năm 1935.
4
Thái Hư (1889-1947):
Cao tăng Trung quốc, người huyện Sùng Đức, tỉnh
Chiết Giang, họ Trương, tên Kiềm Sâm,
pháp danh Duy Tâm, hiệu là Hoa Tử, Bi Hoa,
Tuyết Sơn Lão Tăng, Tấn Vân Lão Nhân. Sư là người
đề xướng phong trào đổi mới
Phật giáo từ thời Dân Quốc về sau. Sư
xuất gia năm 16 tuổi,
thọ giới Cụ túc năm 18 tuổi với
hòa thượng Ký Thiền chùa
Thiên Đồng ở Ninh Ba. Năm 19 tuổi, nhân
đọc kinh Bát nhã mà có sở ngộ. Năm 1912, sư đến Quảng Châu
tuyên dương giáo pháp,
trụ trì chùa Song Khê, núi
Bạch Vân. Sư là người
sáng lập Trung quốc Phật giáo Hiệp tiến hội tại
Nam Kinh, sau sát nhập vào
Trung quốc Phật giáo Tổng hội.
Sư chủ trương 3 cuộc
cách mạng lớn về
giáo lý, giáo chế và giáo sản, cổ súy
phong trào chấn hưng Phật giáo,
kiến lập chế độ Tân
tăng đoàn. Năm 1914,
nhập thất ở núi
Phổ Đà, một đêm nọ, nghe tiếng
đại hồng chung mà có
tâm niệm dứt bặt,
trải qua ngộ cảnh lần thứ 2. Năm 28 tuổi, sư lại
trải qua ngộ cảnh lần thứ 3. Năm 29 tuổi, sau khi ra thất, sư
tham gia Đài Loan pháp hội, du lịch
Nhật bản,
sáng lập Giác xã tại Thượng Hải, làm chủ biên Giác xã tùng thư, năm sau đổi thành
Hải Triều Âm nguyệt san. Dù là người có
quan điểm cách tân
Phật giáo, nhưng sư luôn
phản đối quan điểm khảo chứng
lịch sử của các
học giả Nhật bản cho rằng luận
Đại thừa khời tín,
kinh Lăng nghiêm là ngụy thư. Năm 1924, sư
tham dự đại hội Nhật bản Đông á
Phật giáo,
đồng thời khảo sát
Phật giáo Nhật bản. Người Nhật
tôn sư là
minh chủ giới
Phật giáo Dân quốc. Năm 1927, sư
trụ trì chùa
Nam Phổ Đà ở Hạ môn, kiêm Viện trưởng viện
Phật học Mân Nam. Năm 1928, sư
sáng lập Hội
Phật học Trung quốc tại
Nam Kinh,
đồng thời hoằng hóa ở các nước: Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Bỉ, Mỹ, là vị tăng
Trung quốc đầu tiên
truyền bá Phật giáo đến
Âu Mỹ. Năm 44 tuổi, sư
trụ trì chùa
Tuyết Đậu ở Phụng Hóa. Năm 49 tuổi, sư soạn Ngã đích
Phật giáo cách mạng thất bại sử, trình bày
nguyên nhân phải đổi mới
Phật giáo. Năm 1947, sư
thị tịch tại Trực Chỉ Hiên, chùa
Ngọc Phật, Thượng Hải, thọ 59 tuổi.
Một đời sư khởi xướng và tận lực đổi mới
Phật giáo, theo
chủ nghĩa tam Phật:
Phật tăng, Phật hóa,
Phật quốc. Sư coi trọng
giáo dục Tăng tài,
thiết lập nhiều viện
Phật học,
sáng tác nhiều
tác phẩm Phật giáo có
giá trị, mà sau này được
đệ tử là ngài
Ấn Thuận gom chép thành bọ
Thái Hư toàn thư, 64 tập.