Thư Viện Hoa Sen

Hạnh Phúc Là Khi Thấy Cõi 84.000

HẠNH PHÚC LÀ KHI THẤY CÕI 84.000
Nguyên Giác

hanh phuc la khi thay
Trong Phật giáo, con số 84.000 có một ý nghĩahình ảnh vô lượng phiền não của chúng sinh và cũng là vô lượng pháp mônĐức Phật mở ra để đối trị. Con số này không mang tính toán học, mà diễn tả sự bao la của trí tuệphương tiện thiện xảo. Cũng như gương tâm của chúng ta: vô lượng phiền não tới sẽ được hiện ra, và vì nó vô tự tánh nên sẽ biến mất khi trí tuệ hiển lộ, nơi đó tánh chiếu sáng vẫn tịch lặng, không thêm, không bớt. Cho dù nói rằng có 84.000 cửa pháp, mục đích vẫn là một: hành giả nương vào Bát Chánh Đạo để thấy rõ thực tướng các pháp là vô ngã, là vô tự tánh, là do duyên và do vậy là hư ảo. Thấy như thế, trí tuệ giải thoát sẽ sinh khởi. Từ đó, nhìn đâu cũng sẽ thấy giải thoát.

Đọc những kinh văn xưa nhất, chúng ta sẽ gặp con số 84.000 ở rất nhiều nơi. Có một thành kiến tại Việt Nam từng nói nhầm lẫn rằng câu chuyện “84.000 pháp môn” là do các sư Trung Hoa vẽ thêm ra. Bên cạnh ý nghĩa về một số lượng nhiều tới mức như dường vô hạn, nhiều truyện tích Kinh Pháp Cú nói nhiều lần rằng khi Đức Phật thuyết xong lời dạy Pháp Cú xong, liền có 84.000 chúng sinh thấu triệt Chánh pháp. Đức Phật và quý Thánh tăng nhìn thấy như thế, nhưng các vị khác không nhìn thấy cõi 84.000 vị kia. Các bản chú giải rút ngắn thường cắt bỏ con số “84.000 chúng sinh thấu triệt Chánh pháp” này; nhưng khi chúng ta đọc các bản đầy đủ, sẽ thấy rõ con số này.

Trong Kinh AN 9.20, Đức Phật ca ngợi hạnh bố thí, hạnh từ tâm, hạnh quán vô thường, đã dùng con số 84.000 để nói là nhiều vô cùng, vô tận. Bản dịch của Thầy Minh Châu viết như sau: “Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau: Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải với da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng. Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc... [...] và có ai bố thí một vị Độc giác Phật, và có ai bố thí trăm vị Độc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng… và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.” (1)

Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, nơi bài Thag 17.3 do ngài Anada đọc lên, có bài kệ, nơi đây chúng ta dịch theo các bản Anh văn, rằng:

Tôi đã nhận được 82.000 lời dạy của Đức Phật; Thêm 2.000 lời dạy từ các đệ tử của Ngài; Giờ đây, cả 84.000 lời dạy ấy đều đã trở nên quen thuộc với tôi.”

(Bản của Hellmuth Hecker & Sister Khema: 82,000 Teachings from the Buddha I have received; 2,000 more from his disciples; Now, 84,000 are familiar to me.) (2)

(Bản của ngài Sujato: 82,000 from the Buddha, and 2,000 more from the monks: 84,000 teachings I’ve learned, and these are what I promulgate.)(2)

Chúng ta có thể tìm thêm các bản tiếng Anh có cách dịch tương tự như trên, như từ Suttafriends. Bản tiếng Việt của ngài Indacanda cũng có nghĩa tương tự, nhưng chữ “pháp uẩn” xa lạ với độc giả bình thường, cần chú giải thêm, nên không trích vào đây. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu rằng 84.000 lời dạy, bài pháp, cửa pháp chỉ có nghĩa là lời Đức Phậtchư Tăng dạy để chúng ta cần học nhiều tới mức không đếm nổi, và không phải do ai phóng tác ra. Đó cũng là cách hiểu của các vị sư Theravada Thái Lan.

Thí dụ, như trong sách “Making the Dhamma Your Own: Teachings of Phra Ajaan Khamdee Pabhaso” (Biến Giáo pháp thành của riêng bạn: Lời dạy của Phra Ajaan Khamdee Pabhaso) do ngài Thanissaro Bhikkhu dịch từ tiếng Thái sang tiếng Anh, có câu: “Giáo pháp trên phương diện lý thuyết đề cập đến những lời dạy của Đức Phật: các bài Kinh, Luật, Luận và toàn bộ 84.000 chi phần [section] thuộc Tạng Pali. Các giáo pháp này là tài sản chung của tất cả mọi người.” (3)

Tương tự, trong sách “Dhamma Teachings of Looang Boo Sim Buddhacaro” của Looang Boo Sim viết trong truyền thống Theravada Thái Lan cũng nói tới “toàn bộ có 84.000 lời dạy” (In all it is said there are 84,000 teachings). (3)

Tương tự, trong sách “Gifts He Left Behind: The Dhamma Legacy of Phra Ajaan Dune Atulo” do ngài Thanissaro dịch sang Anh văn, cũng viết “Tất cả 84.000 phần giáo pháp chỉ là những cách để hướng con người quay lại quán sát tâm mình” (All 84,000 sections of the Dhamma are simply strategies for getting people to turn and look at the mind). (3)

Trong khi đó, dò lại các tích truyện Pháp Cú, nơi các bản Anh dịch đầy đủ, con số 84.000 là sau khi Đức Phật thuyết bài Kệ đó, liền có 84.000 chúng sinh thấu triệt Chánh pháp. Tiếc rằng các bản Anh dịch rút ngắn đã xóa mất các con số đó. Nơi đây, xin ghi lại một số tích truyện cho các độc giả quan tâm.

TÍCH TRUYỆN PHÁP CÚ 182

Tích truyện Pháp Cú 182 dịch ra tiếng Việt như sau.

“Thật hiếm thay khi được sinh ra làm người” – đây là lời dạy của Đức Thế Tôn khi Ngài đang trú ngụ dưới bảy gốc cây keo gần Bārāṇasī, liên quan đến câu chuyện về Erakapatta, vị Long Vương.

Tương truyền rằng, vào thời Đức Phật Kassapa (Ca-diếp), Erakapatta từng là một nhà sư trẻ. Một ngày nọ, khi đang đi thuyền trên sông Hằng, nhà sư đi ngang qua một bụi cây Eraka và đưa tay nắm lấy một chiếc lá. Dù con thuyền đang lướt đi nhanh chóng, nhà sư vẫn không chịu buông tay, khiến chiếc lá bị bứt đứt lìa hoàn toàn. “Chỉ là chuyện nhỏ thôi mà!” – nhà sư thầm nghĩ. Mặc dù đã dành hai mươi ngàn năm tu tập thiền định trong rừng mà không hề sám hối lỗi lầm ấy, nhưng khi lâm chung, nhà sư lại có cảm giác như thể chính chiếc lá Eraka kia đang túm lấy cổ mình. Mong muốn sám hối nhưng lại không thấy vị tỳ-kheo nào ở gần, nhà sư tràn ngập nỗi ân hận và thốt lên: “Giới hạnh của ta đã bị tổn hại!” Rồi sư qua đời.

Sau khi từ bỏ kiếp sống đó, nhà sư tái sinh làm một vị Long Vương với thân hình to lớn tựa như một chiếc thuyền độc mộc. Ngay khi vừa tái sinh, nhìn lại thân xác mình, vị này vô cùng hối hận và tự nhủ: “Sau bao năm tháng tu tập thiền định, nay ta lại tái sinh vào một cảnh giới thiếu vắng thiện căn, một nơi chốn chỉ dành cho loài ếch nhái.”

Thời gian sau, vị này sinh được một người con gái. Thế là, ông thường nằm trên mặt nước giữa dòng sông Hằng, nâng chiếc màng cổ to lớn của mình lên, đặt con gái vào đó rồi cho nàng ca hát và nhảy múa. Ý định của ông là: “Làm như vậy, nếu có một vị Phật xuất hiện ở đời, ta sẽ hay biết. Và nếu có ai hát đối lại bài ca của ta, ta sẽ gả con gái cho người ấy, đồng thời trao cả quyền uy lẫn của cải của một vị Long Vương.” Cứ thế, vào mỗi dịp lễ Uposatha (ngày Bát quan trai giới) cách nhau hai tuần, ông lại đặt con gái vào chiếc màng cổ của mình. Và người con gái, đứng vững chãi trên đó, vừa nhảy múa vừa cất tiếng hát bài ca sau:

Vị vua nào được gọi là bậc quân vương?

Vị vua nào bị chi phối bởi dục vọng?

Làm thế nào để trở thành người không còn dục vọng?

Ai được gọi là kẻ ngu si?

Khắp cõi Diêm Phù Đề (Jambudīpa), người ta tự nhủ: "Hãy để chúng ta chinh phục nàng tiên Rồng (Nāga)." Theo đó, tùy theo khả năng của mình, họ soạn ra những lời đối đápcất tiếng hát, nhưng con gái của Long Vương đều khước từ tất cả. Cứ mỗi nửa tháng, nàng lại múa và hát ngay trong chiếc mũ trùm đầu của cha mình. Thời gian cứ thế trôi qua trong khoảng giữa hai thời kỳ xuất hiện của các vị Phật.

Sau khi bậc Đạo Sư xuất hiện ở đời, vào một buổi sáng nọ, khi quán chiếu thế gian, Đức Thế Tôn nhận thấy rằng Long Vương Erakapatta và chàng thanh niên Bà-la-môn Uttara, cùng những người khác, đã lọt vào lưới trí tuệ của Ngài. Ngay lập tức, Ngài tự suy xét: "Điều gì sẽ xảy ra đây?" Và Ngài thấu suốt sự việc như sau: "Hôm nay là ngày Long Vương Erakapatta đặt con gái vào trong mũ trùm đầu của mình và để nàng múa. Chàng thanh niên Bà-la-môn Uttara này sẽ học một bài ca mà Ta sẽ truyền dạy, chứng đắc quả Nhập Lưu, và ghi nhớ bài ca ấy để đến gặp Long Vương. Khi nghe bài ca đó, Long Vương sẽ biết rằng Đức Phật đã xuất hiện ở đời và sẽ tìm đến Ta. Khi Long Vương đến gặp Ta, Ta sẽ thuyết một bài kệ giữa đại chúng, và khi bài kệ kết thúc, 84.000 chúng sinh sẽ chứng ngộ Giáo pháp."

Cách thành Bārāṇasī không xa có bảy cây keo; bậc Đạo Sư liền đến và an tọa dưới một trong những gốc cây ấy. Người dân khắp Jambudīpa đã soạn sẵn lời đối đáp cho bài ca và tụ họp lại. Không xa nơi đó, bậc Đạo Sư nhìn thấy chàng thanh niên Bà-la-môn Uttara đang đi tới và gọi: "Uttara!" – "Dạ, bạch Ngài?" – "Hãy lại đây." Khi Uttara đã đến, đảnh lễ bậc Đạo Sư và ngồi xuống, Ngài hỏi: "Con định đi đâu?" – "Con đang đến nơi con gái của Long Vương Erakapatta hát bài ca của nàng." – "Nhưng con có biết lời đối đáp cho bài ca đó không?" – "Dạ có, bạch Ngài; con biết lời đối đáp cho bài ca của nàng." – "Hãy đọc cho Ta nghe xem." Uttara đọc cho Đạo Sư nghe bài đáp lại bài ca mà chàng đã soạn. Nghe xong, Đạo Sư bảo: “Đó không phải là lời đáp thích hợp. Ta sẽ cho con một bài đáp. Con có nhận lấy và mang đến cho nàng không?” – “Dạ bạch Ngài, con xin nhận.” Rồi Đạo Sư bảo chàng: “Uttara, khi nàng ấy hát bài ca của mình, con hãy hát bài sau đây để đáp lại:

Kẻ cai quản sáu cánh cửa giác quan chính là vị vua.

Khi dính mắc, vị vua ấy bị chi phối bởi dục vọng.

Khi không dính mắc, vị ấy thoát khỏi dục vọng.

Kẻ dính mắc bị gọi là người ngu muội.

Sau khi truyền dạy bài đáp này, Thế Tôn bảo chàng: “Uttara, khi con hát xong bài này, nàng ấy sẽ hát bài sau đây để đáp lại bài ca của con:

Điều gì cuốn trôi kẻ ngu muội?

Người trí xua tan nó bằng cách nào?

Làm sao để thoát khỏi các ách trói buộc?

Hãy nói cho ta biết, hãy giải đáp câu hỏi của ta.

Khi ấy, con hãy hát bài đáp sau đây:

Dòng lũ cuốn trôi kẻ ngu muội.

Người trí xua tan nó bằng sự nỗ lực.

Khi đã thoát khỏi mọi ách trói buộc,

người ấy được gọi là kẻ đã giải thoát khỏi các ách trói buộc.

Uttara ghi nhớ câu đáp này, và ngay khi ấy, chàng chứng đắc quả Dự lưu. Sau khi trở thành bậc Dự lưu, chàng mang theo bài kệ đó và lên đường. "Này!" chàng reo lên: "Ta mang theo câu trả lời cho bài hát của nàng; hãy nhường đường cho ta." Đám đông chen chúc đông đúc đến nỗi khi bước đi, chân của chàng va chạm vào đầu gối của những người xung quanh.

Con gái của vua Long vương đứng bên dưới chiếc mũ trùm (phần cổ bạnh) của cha mình; tại đó, nàng vừa múa vừa hát bài ca: "Vị vua cai trị là bậc vua chúa như thế nào?" Uttara hát lên câu đáp: "Kẻ cai trị sáu giác quan chính là vua." Cô gái lại hát tiếp: "Vị vua nào bị chi phối bởi dục vọng?" Uttara liền hát bài kệ đáp lại: "Khi khởi tâm dính mắc, vị vua ấy bị chi phối bởi dục vọng."

Khi nghe những lời ấy, vua Long vương biết rằng Đức Phật đã xuất hiện ở đời. Ông tự nhủ: "Suốt khoảng thời gian giữa hai vị Phật, ta chưa từng nghe bài ca nào như thế." – "Quả thực, một vị Phật đã xuất hiện trên thế gian!" ông nghĩ thầm. Lòng ông tràn ngập niềm hoan hỷ. Ông dùng đuôi quất mạnh xuống mặt nước, tạo nên những con sóng lớn cuốn trôi đất ở cả hai bên bờ; người dân ở hai phía, trong phạm vi 640 mét, đều bị hất văng xuống nước. Vua Long vương liền nâng chiếc mũ trùm của mình lên, đỡ lấy những người ấy và đặt họ lên đất liền. Sau đó, ông đến gần Uttara và hỏi: "Thưa Ngài, Đức Thế Tôn đang ở đâu?" – "Ngài đang ngồi dưới một gốc cây, tâu Đại vương." – "Nào, thưa Ngài, chúng ta hãy cùng đi," vua Long vương nói và cùng Uttara lên đường. Một đám đông lớn đã nhập cùng Uttara và đi theo ông.

Vua Long vương đi đến nơi Đức Thế Tôn ngự; sau khi bước vào giữa luồng hào quang sáu sắc, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên, lệ tuôn rơi. Đức Thế Tôn liền hỏi ông: "Chuyện này nghĩa là sao, hỡi Đại vương?" – “Thưa Tôn giả, con từng là đệ tử của một vị Phật, và đã tu tập thiền định suốt hai mươi nghìn năm. Nhưng sự tu tập hai mươi nghìn năm ấy vẫn không đủ để đảm bảo sự cứu rỗi cho con. Chỉ vì con bẻ một chiếc lá Eraka nhỏ bé, con đã tái sinh vào một trạng thái không có gốc rễ tốt lành, vào tình trạng phải bò bằng bụng. Trong suốt khoảng thời gian giữa hai vị Phật, con không đạt được cả trạng thái con người, cũng không có đặc ân được nghe Pháp, cũng không có đặc ân được thấy một vị Phật như ngài.” Nghe lời ông ta nói, Đức Phật đáp: “Đại vương, thân người quả thật khó đạt được; cũng khó có được đặc ân được nghe Pháp; cũng như sự xuất hiện của một vị Phật khó khăn. Bởi vì điều sau này được thực hiện bằng tinh tấngian nan.”

Nói xong, Đức Phật giảng dạy Pháp, đọc bài thơ sau:

182. Hiếm thay được sinh làm người,

hiếm thay kiếp sống của chúng sinh,

hiếm thay được nghe Chánh Pháp,

hiếm thay sự xuất hiện của chư Phật.

Vào cuối buổi giảng dạy, 84.000 chúng sinh đã hiểu biết về Pháp. (4)

TÍCH TRUYỆN PHÁP CÚ 354

Tới đây, chúng ta sẽ dịch tích truyện Kinh Pháp Cú 354, nơi đây cũng có hình ảnh 84.000 chúng sinh hiểu thấu pháp sau khi nghe Đức Phật tuyên thuyết rằng bố thí pháp hơn tất cả các bố thí. Bản dịch như sau.

“Sự ban tặng Giáo pháp vượt trội hơn mọi sự ban tặng khác” – lời dạy này được Đức Thế Tôn đưa ra khi Ngài đang ngự tại tu viện Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá), liên quan đến Sakka, vị Vua của chư Thiên.

Chuyện kể rằng, có lần chư Thiên tụ họp tại cõi trời Ba Mươi Ba (Đao Lợi Thiên) và đặt ra bốn câu hỏi như sau: “Đâu là sự ban tặng tối thượng? Đâu là hương vị tuyệt hảo nhất? Đâu là niềm hoan hỷ tột cùng? Vì sao diệt trừ tham ái lại được coi là điều tối thượng hơn tất cả?” Không một vị Thiên nào có thể giải đáp được những câu hỏi này; họ cứ hỏi lẫn nhau, người này hỏi người kia, cho đến khi tất cả đều đã hỏi nhau. Suốt mười hai năm ròng rã, họ đi khắp mười ngàn thế giới nhưng vẫn không tìm được lời giải đáp.

Cuối cùng, tất cả chư Thiên từ mười ngàn thế giới cùng nhau đến gặp Tứ Đại Thiên Vương. Tứ Đại Thiên Vương hỏi: “Này các bạn, vì sao chư Thiên lại tụ họp đông đảo thế này?” Chư Thiên đáp: “Chúng tôi có bốn câu hỏi nhưng không thể tự giải đáp, nên mới tìm đến các ngài.” – “Này các bạn, đó là những câu hỏi nào?” – “Đâu là sự ban tặng, hương vị và niềm hoan hỷ tuyệt hảo nhất? Vì sao sự diệt trừ tham ái lại là điều tối thượng hơn tất cả? Đó là những câu hỏi mà chúng tôi không thể giải đáp, và vì thế chúng tôi mới đến gặp các ngài.”

Tứ Đại Thiên Vương nói: “Này các bạn, chúng tôi không biết câu trả lời cho những câu hỏi này. Tuy nhiên, Vua của chúng tôi chỉ cần suy ngẫm về những vấn đề mà cả ngàn chúng sinh cùng suy ngẫm là có thể biết ngay câu trả lời. Ngài vượt trội hơn chúng tôi về trí tuệ và phước báu. Nào, hãy cùng đến gặp Ngài.” Thế rồi, cùng với đông đảo chư Thiên, Tứ Đại Thiên Vương đến gặp Sakka, Vua của chư Thiên.

Sakka, Vua của chư Thiên, hỏi: “Này các bạn, vì sao chư Thiên lại tụ họp đông đảo thế này?” Họ trình bày lý do chuyến viếng thăm cho Sakka nghe. Sakka nói: “Này các bạn, không ai có thể giải đáp những câu hỏi như vậy ngoại trừ chư Phật. Những vấn đề này thuộc về phạm vi trí tuệ của chư Phật. Hiện nay Đức Thế Tôn đang ngự ở đâu?” – “Ở Jetavana.” – “Nào, chúng ta hãy đến gặp ngài.”

Vậy là, cùng với toàn bộ đám đông thần linh đông đảo ấy, Sakka đi vào ban đêm, thắp sáng cả Jetavana, ông đến gần vị Thầy, cúi chào ngài và đứng sang một bên. Vị Thầy nói: “Đại vương, tại sao ngài lại đến đây với một đoàn thần linh đông đảo như vậy?” – “Thưa Tôn giả,” Sakka nói, “những câu hỏi này do đoàn thần linh này đặt ra, và không ai khác ngoài ngài có thể hiểu được chúng; xin hãy giải thích rõ nghĩa của chúng cho chúng tôi.”

Đức Phật nói: “Thưa đại vương, ngài nói rất đúng! Chính vì để giải đáp những nghi ngờ của những người như ngài mà ta đã viên mãn các Ba La Mật, bố thí năm điều răn lớn và đạt được toàn tri. Về những câu hỏi mà ngài đã hỏi, thì giáo pháp là điều tốt nhất trong tất cả các điều tốt, hương vị của giáo pháp là hương vị tuyệt vời nhất trong tất cả các hương vị, niềm vui trong giáo pháp là niềm vui tuyệt vời nhất trong tất cả các niềm vui; còn về việc diệt trừ tham ái, vì nó là điều giúp con người đạt được quả vị A La Hán, nên nó là điều tối thượng trong tất cả mọi thứ.” Nói xong, Đức Phật đọc bài kệ sau:

354. Bố thí Chánh Pháp vượt hơn tất cả bố thí

hương vị Chánh Pháp vượt hơn mọi hương vị khác,

yêu thương Chánh Pháp vượt hơn mọi yêu thương khác,

diệt trừ tham ái vượt qua mọi khổ đau.

Như vậy, với bài thơ này, Đức Phật giải thích ý nghĩa, và rồi 84.000 chúng sinh đã thấu hiểu Chánh Pháp. Khi Sakka nghe Đức Phật giảng giải về Phật pháp, ông liền kính lễ Đức Phật và thưa rằng: “Thưa Đức Phật, nếu giáo pháp quý giá đến vậy, sao Đức Phật không ban công đức cho chúng con? Từ nay về sau, khi Đức Phật giảng dạy Phật pháp cho Tăng đoàn, xin Đức Phật hãy ban công đức cho chúng con.”

Khi nghe lời thỉnh cầu của Sakka, Đức Thế Tôn triệu tập Tăng chúng và bảo rằng: “Này các Tỳ-kheo, từ nay về sau, bất cứ khi nào thuyết giảng bài pháp dịp lễ hội, bài pháp thông thường, hay có buổi đàm đạo, hoặc thậm chí khi đọc lời tán thán công đức, các thầy hãy hồi hướng phước báu ấy đến tất cả chúng sinh.” (5)

TÍCH TRUYỆN PHÁP CÚ 348

Tới đây, chúng ta sẽ đọc về chàng Uggasena trong tích truyện Pháp Cú 348 và 397. Truyện kể như sau.

Dường như cứ mỗi năm hoặc sáu tháng một lần, một đoàn gồm năm trăm nghệ sĩ nhào lộn thường đến thành Rājagaha để biểu diễn trước nhà vua trong suốt bảy ngày. Nhờ những màn trình diễn này, họ kiếm được rất nhiều vàng bạc; quả thực, những món quà được khán giả ném tặng họ nhiều đến mức không sao kể xiết. Người dân đứng trên những hàng ghế xếp chồng lên nhau để chiêm ngưỡng các nghệ sĩ thi triển tài nghệ.

Một ngày nọ, có một cô nữ nghệ sĩ nhào lộn leo lên một cây sào, thực hiện các động tác lộn nhào, rồi giữ thăng bằng trên đỉnh sào, vừa múa vừa hát trong khi bước đi giữa không trung. Lúc bấy giờ, con trai của một gia đình giàu có cùng một người bạn đang đứng trên chồng ghế để xem cô biểu diễn. Sự uyển chuyển và điêu luyện trong từng cử động tay chân của cô đã thu hút sự chú ý của chàng trai, khiến chàng lập tức đem lòng yêu mến cô. Chàng trở về nhà và nói: "Nếu có được nàng, con sẽ sống tiếp; còn nếu không, con thà chết ngay tại đây." Nói đoạn, chàng gieo mình xuống giường và tuyệt thực.

Cha mẹ chàng hỏi: "Con trai, chuyện gì đã xảy ra với con vậy?" Chàng đáp: "Nếu con có được cô nàng nghệ sĩ nhào lộn kia, con sẽ sống; nếu không, con sẽ chết ngay tại đây." Cha mẹ chàng khuyên nhủ: "Đừng làm như vậy. Cha mẹ sẽ tìm cho con một cô gái khác có gia thếtài sản tương xứng với nhà ta." Thế nhưng, chàng vẫn giữ nguyên ý định và cứ nằm lì trên giường. Người cha đã cố gắng thuyết phục chàng rất nhiều nhưng không thể làm chàng thay đổi suy nghĩ. Cuối cùng, ông cho gọi người bạn của con trai đến, trao cho anh ta một nghìn đồng tiền vàng và dặn dò: "Hãy bảo người nghệ sĩ nhào lộn nhận số tiền này và gả con gái ông ta cho con trai ta."

Người nghệ sĩ nhào lộn trả lời: "Ta sẽ không gả con gái vì tiền bạc. Tuy nhiên, nếu quả thực chàng trai ấy không thể sống thiếu con gái ta, thì hãy để chàng cùng đi lưu diễn với đoàn chúng ta; nếu chàng chịu làm vậy, ta sẽ gả con gái cho chàng." Cha mẹ chàng trai liền truyền đạt lại lời này cho con mình. Chàng trai lập tức đáp ngay: "Tất nhiên là con sẽ đi cùng họ rồi." Cha mẹ đã van xin anh đừng làm vậy, nhưng anh chẳng mảy may bận tâm đến lời họ nói mà vẫn quyết định đi theo người nghệ sĩ nhào lộn kia.

Người nghệ sĩ nhào lộn gả con gái cho anh, và cả hai cùng đi khắp các làng mạc, thị trấn, kinh thành để biểu diễn. Chẳng bao lâu sau khi chung sống với chồng, người vợ sinh được một cậu con trai. Khi nô đùa cùng con, cô thường gọi cậu bé là "con trai gã đánh xe", "con trai kẻ đi kiếm củi gánh nước", hay "con trai gã khờ khạo chẳng biết gì". Chuyện là người chồng thường lo liệu mọi việc liên quan đến xe cộ của họ. Mỗi khi dừng chân, anh lại đi cắt cỏ cho đàn bò. Tại mỗi nơi biểu diễn, anh lo tìm kiếm, lắp đặt và thu dọn các dụng cụ cần thiết.

Chính vì những công việc mà chồng mình đảm nhận như vậy nên người vợ mới dùng những từ ngữ đó khi nô đùa với con. Người chồng nhận ra rằng những lời cô hát là đang ám chỉ mình, liền hỏi: "Có phải nàng đang nói về ta không?" – "Phải, thiếp đang nói về chàng đấy." – "Nếu vậy thì ta sẽ bỏ đi và rời xa nàng." – "Chàng đi hay ở thì có khác gì đối với thiếp chứ?" – người vợ đáp. Và cô cứ hát đi hát lại mãi bài ca ấy. Dường như nhờ vào nhan sắc và số tiền lớn kiếm được, cô hoàn toàn chẳng còn coi trọng anh nữa.

"Tại sao nàng lại kiêu ngạo đến thế?" – người chồng tự hỏi. Ngay lập tức, anh nhận ra: "Đó là nhờ tài nghệ nhào lộn của nàng." Thế là anh nghĩ thầm: "Được thôi! Ta cũng sẽ học các kỹ năng nhào lộn." Anh liền tìm đến cha vợ và học tất cả những ngón nghề mà ông biết. Sau đó, anh đi biểu diễn tài nghệ khắp các làng mạc, thị trấn và kinh thành, cho đến khi đặt chân tới Rājagaha. Anh cho người loan báo khắp thành: "Bảy ngày nữa, Uggasena – con trai của một phú hộ – sẽ biểu diễn tài nghệ cho dân chúng trong thành xem." Người dân trong thành cho dựng lên những khán đài cao tầng và tập trung đông đủ vào ngày thứ bảy ấy. Uggasena leo lên một cây sào cao sáu mươi khuỷu tay và giữ thăng bằng trên đỉnh sào.

Vào ngày hôm đó, khi Đức Thế Tôn quán sát thế gian vào lúc bình minh, Ngài nhận thấy Uggasena đã lọt vào lưới trí tuệ của mình. Ngài tự suy xét: "Số phận của người này sẽ ra sao?" Ngay lập tức, Ngài thấu suốt sự việc: "Người con trai nhà phú hộ ấy sẽ giữ thăng bằng trên đỉnh sào để phô diễn tài nghệ, và một đám đông lớn sẽ tụ họp lại để chứng kiến ​​màn trình diễn. Vào thời điểm đó, Ta sẽ xướng lên một bài kệ gồm bốn câu. Khi nghe bài kệ này, 84.000 chúng sinh sẽ chứng ngộ Chánh pháp, và chính Uggasena sẽ đắc quả A-la-hán." Thế là vào ngày hôm sau, chọn đúng thời điểm, Đức Thế Tôn cùng chư Tăng lên đườngđi vào thành Rājagaha để khất thực.

Ngay trước khi Đức Thế Tôn bước vào thành, Uggasena ra hiệu cho đám đông vỗ tay; rồi giữ thăng bằng trên đỉnh cột, anh nhào lộn bảy vòng giữa không trung, tiếp đất bằng hai chân và lại giữ thăng bằng trên đỉnh cột một lần nữa. Đúng lúc ấy, Đức Thế Tôn tiến vào thành và khiến cho đám đông không còn chú ý đến Uggasena nữa mà hướng mắt về phía Ngài. Khi nhìn xuống khán giả và nhận thấy họ hoàn toàn không còn nhìn mình, Uggasena vô cùng thất vọng. Anh thầm nghĩ: "Đây là tuyệt kỹ mà ta đã mất cả năm trời mới luyện thành thục, vậy mà khi Đức Thế Tôn bước vào thành, đám đông lại chẳng thèm nhìn ta mà chỉ hướng về Ngài. Màn trình diễn của ta coi như thất bại hoàn toàn." Thấu suốt suy nghĩ trong tâm trí anh, Đức Thế Tôn bảo Trưởng lão Moggallāna (Mục Kiền Liên): "Này Moggallāna, hãy đến bảo người con trai nhà phú hộ kia rằng Ta muốn xem anh ta biểu diễn tài nghệ." Vị Trưởng lão đi đến đứng dưới chân cột, cất tiếng nói với người con trai nhà phú hộ bằng bài kệ sau:

Hãy nhìn kìa, hỡi Uggasena,

Người nhào lộn với sức mạnh phi thường,

Hãy dựng sân khấu cho đám đông,

Hãy mang lại tiếng cười cho muôn người!

Nghe những lời của vị Trưởng lão, lòng Uggasena tràn ngập niềm hoan hỷ. Anh nghĩ thầm: "Chắc hẳn Đức Thế Tôn muốn tận mắt chứng kiến ​​tài nghệ của ta." Và ngay khi đang giữ thăng bằng trên đỉnh cột, anh cất tiếng đáp lại bằng bài kệ:

Xin hãy nhìn, hỡi Ngài Moggallāna,

Bậc trí tuệuy lực phi thường,

Con dựng sân khấu cho đám đông,

Con mang lại tiếng cười cho muôn người.

Nói xong, anh phóng mình từ đỉnh cột lên không trung, nhào lộn mười bốn vòng, rồi tiếp đất bằng hai chân và lại giữ thăng bằng trên đỉnh cột một lần nữa. Đức Thế Tôn bảo anh: "Này Uggasena, người trí tuệ cần phải buông bỏ sự dính mắc đối với các uẩn thuộc về quá khứ, hiện tạivị lai; nhờ đó mà đạt được sự giải thoát khỏi sinh, lão, bệnh và tử." Nói xong, Đức Phật đọc bài kệ sau:

348. Hãy xa lìa khỏi quá khứ, vị laihiện tại,

sau khi vượt qua mọi sự hiện hữu,

với tâm được giải thoát hoàn toàn,

ngươi sẽ không còn trở lại vòng sinh già.

Kết thúc bài thuyết pháp, 84.000 chúng sinh đã thấu hiểu Chánh pháp. Người con trai nhà phú hộ, ngay khi đang đứng thăng bằng trên đỉnh cột, đã chứng đắc quả A-la-hán cùng với các tuệ phân tích.

Người con trai nhà phú hộ lập tức bước xuống khỏi cột, tiến về phía Bậc Đạo Sư, đảnh lễ Ngài bằng năm vóc sát đất và xin Ngài cho phép xuất gia. Bậc Đạo Sư đưa tay phải ra và bảo anh: "Hãy đến đây, hỡi Tỳ-kheo!" Ngay khoảnh khắc ấy, anh được ban cho tám món vật dụng một cách thần kỳ và mang hình dáng của một vị trưởng lão sáu mươi tuổi. Các Tỳ-kheo hỏi anh: "Này hiền giả Uggasena, khi bước xuống từ cây cột cao sáu mươi khuỷu tay kia, ông có sợ hãi không?" Uggasena đáp: "Các hiền giả, tôi không hề sợ hãi."

Khi ấy, các Tỳ-kheo thưa với Bậc Đạo Sư: "Bạch Thế Tôn, Uggasena nói rằng: 'Tôi không hề sợ hãi'; chắc chắn ông ấy nói điều không thật, nói dối." Bậc Đạo Sư đáp: "Này các Tỳ-kheo, những ai đã đoạn tận các kiết sử như con trai Ta, thì không còn sợ hãi nữa." Nói xong, Ngài đọc bài kệ sau:

397. Ai đã đoạn tận mọi

phiền não, chắc chắn không run sợ,

vượt qua mọi dính mắc, thoát khỏi trói buộc,

Ta gọi người ấy là Bà-la-môn.

Kết thúc bài thuyết pháp, nhiều người đã chứng đắc quả Dự lưu và các quả vị cao hơn.(6)

Như thế, chúng ta thấy Trưởng Lão Tăng Kệ, và Theravada Thái Lan nói rằng có 84.000 lời dạy, hay chi phần Giáo pháp, trong khi trong nhiều tích truyện Pháp Cú ghi rằng sau khi Đức Phật thuyết pháp, liền có 84.000 chúng sinh thấu hiểu Chánh pháp. Hạnh phúc thay cho người nào nhìn thấy cõi của 84.000 chúng sinh thính pháp như thế. Và hạnh phúc thay cho những ai nhìn thấy 84.000 cửa pháp như thế.

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 9.20: https://suttacentral.net/an9.20/vi/minh_chau

(2) Bản Hecker & Khema https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/thag/thag.17.03.hekh.html

Bản Sujato: https://suttacentral.net/thag17.3/en/sujato

(3) Making the Dhamma Your Own: https://www.accesstoinsight.org/lib/thai/khamdee/yourown.html

Dhamma Teachings of Looang Boo Sim Buddhacaro: https://www.accesstoinsight.org/lib/thai/sim/simplyso.html

Gifts He Left Behind: https://www.dhammatalks.org/books/GiftsHeLeftBehind/Section0056.html

(4) Truyện Pháp Cú 182, hi Đức Phật nói xong, 84.000 chúng sinh liền thấu hiểu Giáo pháp (nhiều dịch giả viết ngắn gọn, đã cắt bỏ con số này):

https://ancient-buddhist-texts.net/English-Texts/Dhamma-Verses-Comm/14-03.htm

(5) Truyện Pháp Cú 354, khi Đức Phật nói xong, 84.000 chúng sinh liền thấu hiểu Giáo pháp:

https://ancient-buddhist-texts.net/English-Texts/Dhamma-Verses-Comm/24-10.htm

(6) Truyện Pháp Cú 348 và 397 về ngài Uggasena, kể rằng sau khi Đức Phật đọc bài Kệ 348, liền có 84.000 chúng sinh thấu hiểu Giáo pháp:

https://ancient-buddhist-texts.net/English-Texts/Dhamma-Verses-Comm/26-14.htm