Thư Viện Hoa Sen

Ca Tụng Đức Phật Chuyển Hoá Thế

CA TỤNG ĐỨC PHẬT
CHUYỂN HOÁ THẾ-GIỚI TỚI TRÍ-TUỆ VÀ ĐẠI-BI
Bồ Tát Long Thọ - Đặng Hữu Phúc dịch Việt
Trích từ: Master of Wisdom. Writings of the Buddhist Master Nagarjuna.


LỜI GIỚI THIỆU

Bài tụng Lokātītastava (tiếng Phạn: लोकातीतस्तव), thường được dịch qua tiếng Anh là Hymn to the Buddha, the World Transcendent, tiếng Việt là bài tụng ca ngợi Đức Phật Siêu Việt Thế gian. Đây là một tác phẩm ngắn nhưng sâu sắc của ngài Long Thọ (Nāgārjuna), nằm trong bộ sưu tập các bài tụng ca ngợi Đức Phật. Đây là một bản văn đặc biệt, vì nó không chỉ tán thán Đức Phật mà còn trình bày cốt lõi triết học Trung Quán một cách cô đọng và thi vị, một bản tóm lược tuyệt vời về tư tưởng Trung Quán: (1) Tánh Không (Śūnyatā) > Không có tự tính trong ngã, pháp, cảm thọ, nhận thức. (2) Duyên khởi (Pratītyasamutpāda) > Các pháp sinh khởi do duyên, không có bản chất riêng (3) Pháp như huyễn (Māyā) > Ví dụ về ảo ảnh, giấc mơ, thành phố Gandharva, và (4) Phê phán ngôn ngữ > Từ ngữ không thể diễn tả được chân lý tuyệt đối.

Dưới đây là bản dịch Việt của Đặng Hữu Phúc. Xin giới thiệu cùng quý độc giả (BBT)


Bản dịch Việt 2024: Đặng Hữu Phúc
Bản dịch Anh 1997: Lokatitastava. Hymm to [the Buddha] Transcending the World.
Trích từ: Master of Wisdom. Writings of the Buddhist Master Nagarjuna.
Translations and Studies by Chr. Lindtner. Dharma Publishing, 1986, 1997
________________
Ca tụng Đức Phật chuyển hoá thế-giới tới trí-tuệ và đại-bi
1. Thưa Ngài, Ngài vượt ngoài các biên-tế của thế-giới! Kính lễ Ngài đã thuyết-giảng trí-tuệ về tính không. Ngài dốc-lòng lưu-xuất đại-bi cho lợi-ích của thế giới!
2. Ngài xác-định rằng không có chúng-sinh nào tồn-tại bên ngoài các uẩn (các tập hợp), và tuy thấy như thế, thưa Đại Thánh-Chủ, Ngài đã dốc-lòng cho lợi-ích của chúng-sinh!
3. Ngài là một trí-giả! Đối với các trí-giả Ngài đã tuyên bố rằng các uẩn cũng tương-tợ một huyễn-tượng, một ảo-ảnh sóng-nắng, một thành-phố càn-thát-bà, và các chiêm-bao!
4. Các uẩn xuất-hiện do bởi một nguyên-nhân và chúng không tồn-tại mà không có nguyên-nhân. Có phải bởi vì điều này, mà Ngài đã không tuyên-bố rằng các uẩn tương-tợ các phản-chiếu?
5. Bốn đại thì không thể được nhận-thức bằng mắt, vậy thì làm sao “cái thấy được” có thể gồm có các đại? Nói như vậy về sắc Ngài đã bác-bỏ tin-tưởng vào sắc (form; sắc; hình dáng).
6. Bởi vì cảm-thụ không tồn-tại nếu không có đối-tượng để được cảm-thụ, nên cảm-thụ không có thực-ngã. Và Ngài vẫn thường xác-định rằng đối-tượng của cảm-thụ không tồn-tại bằng bản-chất tự-nội.
7. Nếu một khái-niệm [= danh] và đối-tượng của nó [= nghĩa] chẳng dị-biệt, [từ ngữ] “lửa” sẽ đốt cháy cái miệng. Nếu chúng dị-biệt, sẽ chẳng có sự lý-hội thông-hiểu về bất-kỳ sự-vật gì. Ngài là Như-Lý Sư.
8. Tác-giả và tác-hành của kẻ đó đều lệ-thuộc nhân-duyên, Ngài đã giải-thích theo sự-thật thường-nghiệm. Ngài vẫn xác-định rằng chúng thực-sự được thiết-lập trong nhân-duyên.
9. Trên phương-diện siêu-nghiệm tác-giả [của một hành động] không tồn-tại và thọ-giả cũng không tồn-tại. Phúc-đức và phi-phúc đức sinh-khởi theo nhân-duyên. Ngài đã tuyên-bố, thưa Đạo-Sư của ngôn-ngữ, cái gì sinh-khởi theo nhân-duyên là bất-sinh!
10. Không có đối-tượng của nhận-thức nếu nó không được nhận-thức. Nhưng thức-trí không tồn-tại nếu không có đối-tượng của nó! Như vậy Ngài đã nói rằng nhận-thức và đối-tượng của nhận-thức không tồn-tại bằng bản-chất tự-nội.
11. Nếu năng-tướng dị-biệt với sở-tướng, sở-tướng sẽ tồn-tại theo kiểu chẳng cần năng-tướng! Và Ngài đã biểu-thị minh-bạch rằng nếu năng-tướng và sở-tướng được xem là chẳng dị-biệt, cả hai cũng chẳng tồn-tại.
12. Với mắt tuệ của ngài, Ngài thấy thế-giới này tịch-tĩnh chẳng có sở-tướng và năng-tướng, và tịch-lặng vô-ngôn.
13. Một tồn-tại-thể chẳng sinh-khởi, một phi-tồn-tại-thể cũng chẳng sinh-khởi, một tồn-tại-thể và phi-tồn-tại-thể cũng chẳng sinh-khởi: hoặc từ chính nó, hoặc từ một cái khác, hoặc từ chính nó và cái khác. Vậy làm cách nào nó có thể được sinh ra?
14. Điều không hợp-lý là một tồn-tại-thể được giả-thiết là thường-trụ, sẽ bị hủy-diệt. Và làm thế nào một phi-tồn-tại-thể, tỉ-dụ các sừng của con ngựa, bị hủy-diệt?
15. Sự hủy-diệt thì chẳng-dị biệt với thực-thể; nó cũng chẳng thể bị nghĩ là một sự-vật chẳng-dị-biệt. Nếu nó dị-biệt đối với thực-thể bị hủy-diệt, nó sẽ là thường-trụ. Nếu nó là chẳng-dị biệt, nó sẽ chẳng thể xảy ra.
16. Hiển-nhiên sự hủy-diệt là không hợp-lý nếu sự-vật là một nhất-như-thể; hiển-nhiên sự hủy-diệt là không hợp-lý nếu sự-vật là dị-biệt-thể đa-loại.
17. Trước hết, không hợp luận-lý nếu nói, hiệu-quả sẽ sinh-khởi hoặc từ một nguyên-nhân đã bị hủy-diệt hoặc từ một nguyên-nhân cho tới nay chưa bị hủy-diệt. Do thế Ngài xác-định rằng sinh-khởi là tương-tợ một chiêm-bao.
18. Cũng không từ một hạt giống bi hủy diệt hoặc không bị hủy-diệt mà mầm có thể sinh-khởi. Ngài đã xác-định rằng tất cả các sự sinh-khởi đều tương-tợ sự sinh-khởi của một huyễn-tượng.
19. Thế nên Ngài thông-đạt hoàn toàn rằng thế-giới này đã sinh-khởi do bởi sự tưởng-tượng. Nó là phi-thật, và không được sinh-khởi nó không thể bị hủy-diệt.
20. Không có sự lang-thang vĩnh-viễn trong luân-hồi; không có sự chẳng lang-thang vĩnh-viễn trong luân-hồi. Ngài, vị tối-thượng của các vị thông-đạt như-lý, đã xác-định luân-hồi là tương-tợ một chiêm-bao.
21. Các nhà biện-chứng-luận chủ-trương rằng sự đau-khổ được tạo-lập bởi ta, được tạo-lập bởi kẻ khác, được tạo-lập bởi cả ta và kẻ khác, hoặc được tạo-lập không nguyên-nhân; nhưng Ngài xác-định rằng đau-khổ sinh-khởi tùy-thuộc nhân-duyên.
22. Cái gì sinh-khởi tùy-thuộc nhân-duyên thì Ngài nhìn nó là tính không một cách chính-xác. Thưa, tiếng sư-tử-hống bất-khả so-sánh của ngài là không có một sự-sự vật-vật tồn-tại một cách độc-lập!
23. Giáo-pháp cam-lộ của tính không có mục-đích hủy-bỏ hoàn-toàn tất cả các khái-niệm của tưởng. Nhưng nếu kẻ nào tin-tưởng tính không là thực-hữu Ngài đã tuyên-bố rằng kẻ đó lầm-lẫn!
24. Thưa đấng Bảo-Hộ! Bởi vì các hiện-tượng đều là bất-tác, tùy-thuộc, và rỗng-thông, được sinh-khởi một cách tùy-thuộc tương-tợ một huyễn-tượng, Ngài đã giảng-giải rằng tất cả các hiện-tượng đều không có tồn-tại tự-nội.
25. Ngài không đề-nghị một điều gì và không bác-bỏ một điều gì. Ngài thông-đạt Như-thị-tính.
26. Thức-trí sẽ chắc chắn chẳng bao giờ trở thành vô-tướng ở đây trong thế-giới này nếu cá-nhân không chuyển-hướng tu-tập như các hiền-thánh đã tu-tập.
27. Ngài đã công-bố rằng không có giải-thoát nếu cá-nhân không chuyển-hướng tới vô-tướng. Do thế Ngài hiển-thị hoàn-toàn vô-tướng trong Đại-Thừa.
28. Nhờ phúc-đức mà tôi lĩnh-hội do ca-tụng Ngài, vị đáng được cúng-dường, nguyện toàn-thể thế-giới xa-lìa sự trói-buộc vào các tướng.
______________________________________
Nagarjuna. Lokatitastava
Hymn to [the Buddha] Transcending the world
1. O You who are beyond the world! Obeisance to You versed in knowledge of the void. Solely for the benefit of the world You have long shown untiring compassion.
2. You maintain that apart from the mere skandhas no living beings exists, and yet, great sage, You have exhausted yourself for the sake of living beings!
3. You who are the sage! To the sages You have declared that the skandhas also comparable to an illusion, a mirage, a city of gandharvas, and dreams!
4. [The skandhas] occur due to a cause and do not exist in the absence of such: Because of this, have You not clearly maintained that they are like reflections?
5. The [four great] elements are imperceptible to the eyes, so how can the “visible” consist of them? Speaking thus of form You rejected the belief in form.
6. As it does not exist without an object to be felt, feeling is without self. And You maintain that the object of feeling does not exist by own-being either.
7. If a concept [= name] and its object [= meaning] were not different, [the word] ‘fire’ would burn the mouth. If they were different, there would be no comprehension [of anything]. Thus have You spoken as a speaker of truth.
8. That an agent is self-dependent and [his] action is also You have [only] expressed conventionally. Actually You maintain that both are established in mutual dependence.
9. [In the ultimate sense] no agent [of an action] exists and no experiencer either. Merit and demerit originate dependently. You have declared, O Master of words, that what is originates dependently is unoriginated!
10. [There is] no object of knowledge unless it is being known. But the knowing consciousness does not exist without [its object]! Thus You have said that knowledge and the object of knowledge do not exist by own being.
11. If a mark were different from the marked, the marked would exist [as such] without the marked! And You have clearly demonstrated that if [mark and marked] are conceived of as not different, neither exists.
12. With your eye of knowledge You view as calm this world that is devoid of marked and mark and free from the utterance of words.
13. An existent thing does not arise, nor does a non-existent, nor an existent and non-existent: either from itself, [from something] else, or from both. [So] how can it be born [at all]?
14. It is not reasonable that an existent, [which must be] linked to duration, should be destroyed. [And] how can something non-existent, like the horns of a horse, be extinguished?
15. Destruction is not different from the entity; nor can it be thought of as something not-different. If it were different [from the entity to be destroyed, it] would be permanent. If it not-different, it could not occur.
16. Certainly destruction is not reasonable if the thing is a unity; certainly destruction is not reasonable if the thing is manifold.
17. First of all, it is not logical that the effect should arise either from a cause that has been destroyed or from one that has not [yet] been destroyed. [Therefore,] You maintain that origination is like a dream.
18. Neither from the destroyed nor the non-destroyed seed can the sprout possibly arise. You have stated that all arising is like the arising of an illusion.
19. Therefore You have fully understood that this world has arisen due to imagination (Skt. kalpana). It is unreal, [and] not having originated it cannot be destroyed.
20. There is no permanent wandering in samsara; there is no impermanent wandering in samsara. You the best among knowers of truth, have declared samsara to be like a dream.
21. Dialecticians maintain that suffering is created by itself, created by the another, created by both, [or created] without a cause; but You have stated that it arises dependently.
22. What arises dependently is exactly what You regard as sunyata. O, your incomparable lion’s roar is that no independent thing exists!
23. The ambrosial teaching of sunyata aims at abolishing all conceptions. But if someone believes in sunyata You [have declared that] he is lost.
24. O Protector! [Since they] are inactive, dependent, and empty, dependently arisen like an illusion. You have made it clear that all phenomena are without own-being.
25. You have put forward nothing and denied nothing. Now as then You are fully aware of suchness.
26. Unless one resorts to the development practiced by the noble ones, consciousness will certainly never become signless here [in this world].
27. You have proclaimed that there is no liberation unless one resorts to the signless. Therefore You have demonstrated it comprehensively in the Mahayana.
28. By the merit which I have obtained by praising You, a fit vessel of praise, may the entire world become free from the bondage of signs.
___________________________________________
Thuật-ngữ Sanskrit trong bản dịch Việt: Các thuật ngữ Sanskrit có nhiều dấu chữ ở trên, dưới các chữ cái, nay người dịch xin viết đơn giản, không có đủ các dấu chữ này, mong độc giả từ bi hoan hỷ.
Chú thích của bản dịch Anh (chỉ dịch các điểm quan trọng)
Tụng 3. Tụng này xác định các Bồ tát tích hợp nhân vô ngã (pudgalanairatmya), và pháp vô ngã (dharmanairatmya). Xem Kinh Duy ma cật (Vimalakirtinirdesa).
Tụng 4 biện luận về các uẩn nói chung, các tụng tiếp theo về mỗi uẩn: sắc (5), thọ (6), tưởng (7), hành (8-9) và thức (9).
Theo Abhidharma, sắc (rupa) [= hình sắc /samsthana; và hiển sắc /varna] được hình thành bởi tứ đại (catvari mahabutani) phục-vụ như sắc duyên (rupakarana)
Tụng 14. Ở đây an trú đạo lý (sthitiyukta) = chính (sat). Tụng này tương-ứng Trung-luận MK VII, 27.
Tụng 15 và 16, nên so sánh với Trung Luận MK VII, 30-31
Tụng 17. Nhân (karana=hetu) cũng không hiện hữu trước khi hoặc sau khi đối với quả (karya=phala), mà chỉ đồng thời với hiệu quả của nó. Điều này được biểu thị trong Trung Luận XX, 7-14; Vòng hoa quý / Ratnavali RA I, 47.
Tụng 18. Tụng này do cảm-ứng từ Kinh Duyên Sinh (Kinh Đạo cán; Kinh Lúa nếp; Salistambasutra; xem Thư Viện Hoa sen, bản dịch Thích Tâm Châu), được trích dẫn trong Nguyệt Xứng. Nhập Trung Đạo / Madhyamakavatara, p. 97; Panjika, p. 579 (của Prajnakaramati / Bát-nhã thủ-huệ).
Tụng 19. Về biến-kế, parikalpa, xem kinh Nhập Lăng-già / Lankavatarasutra. Xem thêm Trung-Luận MK II, 24; MK XXIV, 38.
Tụng 20. Tụng này tương-ứng với Trung Luận MK XVII. Quán Nghiệp
Tụng 21. Tụng này quan-liên tới Trung-Luận MK XII,1 [= Thập nhị môn/ Dvadasadvaraka X, 1].
Tụng 23. Tương-tợ Trung-Luận MK XIII, 8; MK XVII, 30. Xem Nguyệt Xứng. Giải- thích Bốn trăm tụng Catuhsataka XVI, 7; Nhập Trung-Đạo p.310
24. Xem Panjika p.488 cho tụng này, có thể cảm-hứng từ Kinh Phổ-Diệu, Lalitavistara XIII, 97, 98.
Tụng 26. Vô tướng (Animitta = animitta; trên chữ A có dấu -)(animitta: indeterminable; signless) là đệ nhị giải thoát môn (the second vimoksamukha). Xem Kinh Nhập Lăng-già, Lankavatara, p. 200.
Tụng 28. Tụng này hình-thành hồi-hướng phúc-đức, và cũng là tụng kết-thúc trong các bản ca-tụng khác.
__________________
Từ ngữ
Consciousness: thức-trí
Sugata: the Well-Gone One: Đấng Thiện Thệ; từ ngữ dịch Sanskrit- English (trong In Praise of Dharmadhatu của Karl Brunnholzl.
_____________________
Chú thích của bản Việt
Trong kinh tạng Tạng ngữ Tengur có ghi tên 18 bản Ca tụng do Ngài Long Thọ viết.
Kệ tụng 14. Điều không hợp lý là một tồn-tại-thể được giả-thiết là thường-trụ, sẽ bị hủy-diệt. Và làm thế nào một phi-tồn-tại-thể, tỉ-dụ các sừng của con ngựa, bị hủy-diệt?
Trung Luận. VII. 25. Sự thường-trụ của một hiện thể không thể chứng-minh bằng sự thường-trụ của một hiện thể khác hoặc sự tự thường-trụ. Điều này cũng như sinh của sinh mà nó không thể là tự sinh hay sinh từ một cái khác.
Trung Luận VII, 26. Pháp chưa bị hủy-diệt thì không bị hủy-diệt. Pháp đã bị hủy-diệt thì cũng không diệt. Pháp đang hủy-diệt thì cũng không hủy-diệt. Pháp chưa sinh làm sao có thể tự hủy-diệt?
Trung Luận VII.27. Trong như-lý, pháp đang thường-trụ thì không bị hủy- diệt. Pháp không thường-trụ /không tồn-tại thì cũng không bị hủy-diệt.
Kệ tụng 15. Sự hủy-diệt thì chẳng-dị-biệt với thực-thể; nó cũng chẳng thể bị xem là một sự-vật chẳng-dị-biệt. Nếu nó dị-biệt đối với thực- thể bị hủy-diệt, nó sẽ là vĩnh-viễn. Nếu nó là chẳng-dị biệt, nó sẽ chẳng thể xảy ra.
Kệ tụng 16. Nếu sự-vật là một nhất-như-thể, thì hiển-nhiên, sự hủy-diệt là không hợp-lý; nếu sự vật là những đa-biệt-thể, thì hiển-nhiên, sự hủy-diệt là không hợp-lý.
Trung Luận. VII.30. Trong như-lý, nếu thực-thể thật có thì không bị hủy- diệt. Vì trong thực-tế, nó không thể có hai bản-chất tồn-tại và phi-tồn-tại đồng thời.
Trung Luận VII.31. Một thực-thể không thật có thì không bị hủy-diệt. Nó cũng như cắt cái đầu thứ hai của một người là chuyện không thể có.
Kệ tụng 21. Các nhà biện-chứng-luận chủ-trương rằng đau-khổ do mình tạo-lập, do kẻ khác tạo-lập, do mình và kẻ khác tạo-lập, hoặc được tạo-lập không nguyên-nhân; nhưng Ngài xác-định rằng đau-khổ sinh-khởi theo nhân-duyên.
Trung Luận XII.1. Khổ do mình tạo-lập, do người khác tạo-lập, do mình và người khác tạo-lập, hay khổ được tạo-lập không nguyện-nhân. Các người nói như vậy, đối với khổ-quả là không đúng.
______________________
Phụ bản: Người nói và điều nói, Như vậy cũng là không
(không = duyên hội)
Trong kinh tạng Tạng ngữ Tengur có ghi tên 18 bản Ca tụng do Ngài Long Thọ viết. Nay hân hạnh giới thiệu độc giả bản dịch –“Ca tụng Đức Phật chuyển-hoá thế-giới tới trí-tuệ và đại-bi” (28 kệ tụng).
[1]
26. Thức-trí sẽ chắc chắn chẳng bao giờ trở thành vô tướng ở đây trong thế giới này nếu cá nhân không chuyển hướng tới sự tăng trưởng như các hiền thánh đã tu tập.
27. Ngài đã công bố rằng không có giải thoát nếu cá nhân không chuyển hướng tới vô tướng. Do thế Ngài biểu thị điều này rất trọn vẹn đầy đủ trong Đại Thừa.
Lăng già đại thừa kinh — nói về vô tướng
36. Thực tính của các đối tượng được xem là do người ngu phân biệt; nếu nó là giống như nó được trông thấy thì tất cả đều đang thấy chân lí.
37. Vì tất cả các sự vật là không thực nên không có cấu uế, cũng không có thanh tịnh; các sự vật không giống như chúng được trông thấy, chúng cũng không phải khác thế.
(Lăng già Đại thừa kinh. D.T. Suzuki. Thích Chơn Thiện, Trần Tuấn Mẫn dịch. p. 264)
____________
(Đặng Hữu Phúc: “A rose is a rose is a rose is a rose”, các sự-sự vật-vật không giống như chúng được trông thấy, chúng cũng không phải khác thế, tỉ-dụ, “Kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi” là kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi là kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi)
*
“Giác không xa, không gần
Và không đến, không đi
Trú: được thấy, không thấy
Trong mù sương phiền não”
(LongThọ. Ca tụng Pháp giới. Tụng 49)
[2]
Kinh Nhập Lăng Già. Hán dịch: Bồ đề lưu chi. Việt dịch: Cư sĩ Tuệ Khai
“Đất nước các Thế Tôn
Và những thân Phật đó
Những diệu sự như thế
Nay đều đi về đâu?
Là điều nhớ trong mộng?
Hay việc làm của huyễn?
Hay thành ấp thật chân?
Hay Càn thát bà thành?
Hay bị che thấy dối?
Hay là ngọn lửa khởi?
Là mơ thạch nữ sinh?
Là ta thấy vừng lửa?
Hay thấy khói hỏa luân?
Ta thấy cái gì vậy?
*
Lại tự suy nghĩ rằng:
Thể các pháp như vậy
Cảnh giới chỉ tự tâm
Nội tâm hay chứng biết
Mà các phàm phu nhân…
Bị vô minh che ngăn
Tâm hư vọng phân biệt
Mà chẳng thể biết thông.
*
Năng kiến và sở kiến
Tất cả chẳng vẹn toàn
Người nói và điều nói
Như vậy… cũng là không ( không= duyên hội)
Thể Phật pháp chân thật
Chẳng có cũng chẳng không
Pháp tướng hằng như vậy
Chỉ phân biệt tự lòng
Nay thấy vật là thật
Người đó chẳng thấy Phật!
Chẳng trụ phân biệt tâm
Cũng chẳng thể thấy Phật!
Chẳng thấy có các hành
Như vậy gọi là Phật!
Nếu thấy như vậy được
Thì người đó thấy Phật.
Kẻ trí quán như trên
Tất cả các cảnh giới
Chuyển thân được diệu thân
Tức là Bồ Đề Phật.
Hạnh nhập Đại Thừa này có thể phá đủ thứ màn che, đủ thứ sóng thức của chúng sinh, chẳng rơi vào trong các kiến, hành của ngoại đạo. Này Lăng Già Vương! Đây chính là hạnh vào Đại Thừa, chẳng phải hạnh vào ngoại đạo. Hạnh ngoại đạo thì nương vào “nội thân hữu ngã” mà hành động, thấy hai pháp sắc, thức cho là thật nên thấy có sinh diệt. Hay thay! Này Lăng Già Vương! Tư duy nghĩa này đúng như tư duy của ông tức là thấy Phật”.
Như Lai có thể đốt cháy hết củi phiền não và các Phật tử cũng có thể đốt cháy hết”.
(Kinh Nhập Lăng Già)
*
“Nay thấy vật là thật
Người đó chẳng thấy Phật
Chẳng trụ phân biệt tâm
Cũng chẳng thể thấy Phật”
1. Theo Đức Phật, chỉ một vị Phật là tỉnh-thức toàn-hảo từ chiêm-bao của đời sống (perfectly “awakened” from the dream of life). Trong Kinh Trường Bộ, Đối thoại thứ 54, Đức Phật là Kẻ Tỉnh Thức Từ Chiêm Bao (One who has awakened from the dream; patibuddha). Đặc biệt trong bản kinh Samyutta Nikaya VI, 4, 9 “Kẻ Tỉnh Thức Từ Giấc Ngủ Chiêm Bao” (Awakened from the dream of sleep; suttappabuddha).
[George Grimm. The Doctrine of the Buddha. The Religion of Reason and Meditation. p. 25-- Trích dẫn của Đặng Hữu Phúc]
2. Chẳng trụ phân biệt tâm
Cũng chẳng thể thấy Phật
Nghĩa là:
Nếu chẳng trụ phân biệt tâm,
nếu chẳng thấy “đứng vững trên đất thiện, không đứng vững trên đất thiện”
nếu chẳng thấy “Kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi là kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi là kề lưng hùm sói gửi thân tôi đòi”,
thì cũng chẳng thể thấy Phật,
nghĩa là chẳng thể thấy như-tính của thật-tại, tính duyên-khởi của vạn- hữu, nguyên-nhân của khổ, cách thức chấm-dứt khổ bằng cách chung- sức với mọi người để giúp nhau bớt khổ…
[3]
Tụng 20. Không có sự vĩnh-viễn lang-thang trong luân-hồi; không có sự chẳng-vĩnh-viễn lang-thang trong luân-hồi. Ngài, vị tối thượng của các vị thông-đạt như-lý, đã xác-định luân-hồi là tương-tợ một chiêm-bao.
Không có sự vĩnh-viễn lang-thang trong hùm sói-tôi đòi; không có sự chẳng-vĩnh-viễn lang-thang trong hùm sói-tôi đòi. Nếu các bạn tỉnh-biết về duyên-khởi, tạo-lập các nhân-duyên chuyển-hóa tới trí-tuệ và đại-bi thì hùm sói-tôi đòi tương-tợ một chiêm-bao.