Thư Viện Hoa Sen

TỪ BI

TỪ BI

Trần Tuấn Mẫn

tu-bi-trong-dao-phat
Từ thuở xuất hiện trên hành tinh địa cầu này đến nay đã hai ba trăm ngàn năm, loài người đã không có đủ tình thương. Do đó mà bạo lực, chiến tranh, hận thù, tham lam, giành giật, lừa đảo, đói kém, bệnh tật, bất an, sợ hãi, lo lắng… vẫn luôn đe dọa con người. Các vị chức sắc, các tín đồ của các tôn giáo vẫn cầu nguyện, van xin đấng Thiêng liêng cứu khổ cho loài người nhưng chẳng có kết quả gì! Niềm tin đối với các đấng Thiêng liêng, đối với các nhà lãnh đạo, đối với người này người kia cũng đã suy giảm. Người ta thường bảo vậy nhưng thật ra không phải vậy, không phải vậy nhưng thật ra lại là vậy. Làm sao để chúng ta tin nhau? Chỉ có tình thương mới giải quyết những bất ổn này được.

Một cách tổng quát, Phật giáo gọi tình thươngTừ bi. Từ bi vốn bao gồm trong bốn tâm vô lượng là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Từ là sự thông cảm, chia sẻ, gần gũi với mọi chúng sinh. Bi là lòng yêu thương, buồn khi thấy chúng sinh khổ và tìm cách làm cho chúng sinh bớt khổ. Hỷ là thái độ vui vẻ, an lạc, gây niềm vui , sự an ổn cho chúng sinh. Xả là xả bỏ những phiền bực, giận hờn, không nóng giận, hận thù người chê bai mình, gây khổ cho mình. Xả còn là sự bình đẳng, xem mọi người đều như nhau, bình đẳng, không có sự phân biệt nào. Trong Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la, (Maha Rahulova Sutta) số 62, Trung Bộ Kinh, Đức Phật dạy:

“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng Từ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng bi. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng Bi, cái gì thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về Hỷ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về Hỷ, cái gì thuộc bất lạc sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về Xả. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về Xả, cái gì thuộc hận tâm sẽ được trừ diệt.”

Một đoạn kệ rất quan trọng trong kinh Pháp Cú (Dhammapada, phẩm Song yếu, số 5) về tâm xả trong tứ vô lượng tâm mà hầu như ai cũng biết:

“Với hận diệt hận thù,

Đời này không có được.

Không hận diệt hận thù,

định luật ngàn thu”.

Kinh Jivaka, số 55, Trung Bộ Kinh cũng ghi:

“Này Jivaka, Tỳ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn nào, vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng từ, và an trú; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy biến mãn với tâm câu hữu với Từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú.”

Từ bi là lòng yêu thương rộng lớn đối với hết thảy chúng sinh, không đối xử hung bạo, không giết hại bất cứ chúng sinh nào. Chúng sinh có nghĩa là tất cả sinh vật trên đời: người, muông thú sống trên đất, dưới đất, trong nước, trên không như thú vật, côn trùng, giun dế, chim cá, rắn rết… Một vấn nạn được nêu ra: Có nên ăn thịt chúng sinh không? Tức là có nên lấy thịt cá làm thức ăn không? Cũng như một số tôn giáoẤn Độ, Phật giáo cũng chủ trương ăn chay, tức là không ăn thịt của bất cứ sinh vật nào. Thực ra, Phật giáo Nguyên thủy không quá nghiêm khắc về việc không ăn thịt. Cũng trong kinh Jivaka, Đức Phật có nêu ra ba loại thịt mà Tỳ-kheo có thể ăn được gọi là tam tịnh nhục: Không trông thấy con vật bị giết, không nghe tiếng nó kêu, con vật bị giết không nhằm cho mình ăn. Về sau, Phật giáo còn chấp nhận thêm hai trường hợp được ăn thịt là con vật tự chết hoặc con vật bị con thú khác ăn thịt nhưng thịt còn thừa. Như vậy là có 5 trường hợp một Tỳ-kheo được ăn thịt, gọi là ngũ tịnh nhục. Lại nữa, có 10 loại thịt dù thuộc tam tịnh nhục hay ngũ tịnh nhục, Tỳ-kheo cũng không được ăn. Đó là thịt của người, voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, cọp, báo, gấu và linh cẩu vì đấy là những sinh vật thông minh và hung dữ.

Kinh điển Đại thừa ngăn cấm ăn thịt, phê phán gay gắt sự ăn thịt. Kinh Lăng Nghiêm, nhất là kinh Lăng-Già dành cả một phẩm dài, Phẩm 16, Ăn thịt. Trong đó có đoạn:

“Này Đại Huệ! Ta quan sát chúng sinh luân hồi sáu đường, đồng ở tại sinh tử, chun nhau nuôi sống, đắp đổi làm cha mẹ, anh em, chị em, hoặc nam, hoặc nữ trúng vào số người lục thân quyến thuộc nội ngoại, hoặc sinh vào đường khác, đường thiện, đường ác, thường làm quyến thuộc. Do nhân duyên đó, ta quan sát chúng sinh ăn thịt lẫn nhau thì không ai là chẳng phải người thân! Do tham vị thịt, họ đắp đổi ăn lẫn nhau, thường sinh tâm ác hại, tăng trưởng nghiệp khổ, lưu chuyển trong sinh tử, chẳng được ra khỏi.”… “Đại Huệ! Ta có khi phương tiện nói giáo pháp, cho ăn năm thứ tịnh nhục hoặc là mười thứ, nay ở kinh này xóa bỏ tất cả phương tiện: bất cứ lúc nào, chủng loại nào, phàm thuộc loài thịt chúng sanh, thảy đều đoạn dứt. Đại Huệ! Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác còn chẳng ăn phi thời và tạp thực, huống là ăn cá thịt ư? Tự mình không ăn cũng chẳng bảo người khác ăn. Dùng tâm Đại bi dẫn đầu, xem tất cả chúng sanh như con một của mình, do đó chẳng ăn thịt con.”

Như trên vừa nói, Phật giáo Nguyên thủy không quá khắc khe về việc ăn thịt. Ngoài việc dùng tam tinh nhục, ngũ tịnh nhục, chư Tỳ-kheo còn dùng bữa, dùng thịt mà tâm không để ý đến mùi vị ngon dở. Đó là những vị đã đạt trình độ tu chứng cao trong thiền địnhtâm từ bi rộng mở. Xin trích dẫn lại kinh Jivaka:

“Ở đây, này Jīvaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng nào hay một thị trấn nào. Vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng bi … với tâm có lòng hỷ … với tâm có lòng xả và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy, biến mãn với tâm có lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỳ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai. Và này Jīvaka, Tỳ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia, hay con của người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Tỳ-kheo ấy không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng vị cư sĩ này, hay con vị cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị như vậy”. Tỳ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly.”

Như vậy, ăn thịt hay không ăn thịt không phải là quan trọng mà quan trọng chính là ở thái độ của người ăn. Ở đây chính từ bi là quan trọng. Chúng ta hãy tu tập, nuôi dưỡng, thể hiện từ bi khắp mọi phương, với mọi chúng sinh.

Tôi xin trích một đoạn quan trọng trong Kinh Từ Bi (Metta Sutta) trong Kinh Tập (Sutta Nipata) thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya):

“Mong sao tất cả chúng sinh đều cảm thấy an lạc,

Mong sao tất cả chúng sinh đều đạt được niềm vui tự nội!

Tất cả chúng sinh, dù là chúng sinh nào đi nữa,

Không kể mạnh hay yếu,

Ở cõi thấp, cao, cõi trung, thô hay tế, vô hình hay hữu hình, ở gần hay ở xa,

Đã sinh ra hay chưa sinh ra.

Mong sao tất cả chúng sinh đều đạt được niềm vui tự nội.

Mong sao không có kẻ nào lừa gạt kẻ khác,

Cũng không hề chút nào lừa gạt kẻ khác,

Không vì ác tâm, thù hận,

Mà muốn kẻ khác sầu khổ.

Như một người mẹ suốt đời chăm sóc đứa con,

Đứa con độc nhất,

Đối với mọi chúng sinh cũng thế, Tâm mình phải quảng đại,

Lòng từ đối với toàn cõi thế gian,

Quảng đại, khởi lên từ tâm mình, bên trên, bên dưới và xuyên suốt.

Không ngăn ngại, không vì thù hận và ác tâm.

Đi, đứng, ngồi hay nằm, hay trong giấc ngủ,

Vẫn giữ chặt chánh niệm này.

Vì đây là thể cách cao thượng, tránh mọi tà kiến,

Đức hạnh, tràn đầy trí tuệ,

Thắng vượt mọi tham dục khổ đau, và sẽ không bao giờ tái sinh nữa.”

Hiệu năng của việc thực hiện Tứ vô lượng tâm:

Suy gẫm cho cùng, Tứ vô lượng tâm là một khối, một tổng thể không tách rời nhau, Trong Từ có Bi, Hỷ và Xả, trong Bi có Từ, Hỷ và Xả…, Một chi phần mang đủ ý nghĩa của tổng thể bốn chi phần. Đó là tình thương bao la, rộng lớn, không có bóng dáng của người thực hiện tình thương bao la, rộng lớn ấy và nghĩ rằng không có bóng dáng của bất cứ chúng sinh nào thọ nhận tình thương ấy. Như vậy có nghĩa là Vô ngã (Anatman). Nghĩa là không hề có cái Tôi, không có gì trường tồn, tất cả đều do duyên sinh, biến đổi không ngừng… Thực hiện Tứ vô lượng tâmthực hiện Vô ngã. Một cách nào dó, ta có thể nhận thấy rằng thực hiện Tứ vô lượng tâm thì không đủ để đạt giác ngộ mà chính là tu tập, thực hiện Vô ngã mới có thể đạt trí tuệ tối thượng.

Đức Phật đã dạy về Tam Pháp ấn (Trilaksana) là Khổ, Vô thường, Vô ngã. Thế gian là Khổ, Vô thườngVô ngã. Thực hiện Vô ngã càng nhiều thì Khổ và Vô thường càng ít ảnh hưởng đến chúng ta.

------------------------------------------