Sau khi người Aryan xâm chiếm
Ấn Độ1, tạo
thành sự phân biệt tôn ti giữa kẻ
chinh phục và dân bản xứ, từ đó
dần dần diễn
biến thành hiện tượng phân hóa và thế tập về
chức nghiệp. Có lẽ sự xác lập chế độ này kéo dài đến mãi
thời đại Phạm thư (1000 tr.TL-800 tr.TL), vì vào
thời đại này
chủ nghĩa “Bà-la-môn chí thượng” được hình thành.
Giai cấp Bà-la-môn tự cho rằng họ từ miệng
Phạm thiên sinh ra; Sát-đế-lợi từ hai vai
Phạm thiên sinh ra; Phệ-xá từ rốn
Phạm thiên sinh ra và Thủ-đà-la từ chân
Phạm thiên sinh ra.
1. Bà-la-môn (brāhmaṇa): Là tầng lớp cao nhất trong
xã hội, có
nhiệm vụ cố vấn cho
quốc vương và lo việc
cầu nguyện, tế tự. Họ
lợi dụng thế lực tôn giáo để
kiểm soát và
điều hành thế giới tinh thần con người.
2. Sát-đế-lợi (kṣatriya):
Bao gồm vương tộc,
hoàng thân, thủ lĩnh và
dũng sĩ các nước nhỏ. Quyền
thống trị của một
quốc gia do đẳng cấp Sát-đế-lợi nắm giữ. Nhưng trong kinh Phật thì phần nhiều cho Sát-đế-lợi nằm ở
địa vị thứ nhất, tức trên đẳng cấp Bà-la-môn.
23. Phệ-xá (vaiśya):
Bao gồm thợ thủ công,
thương nhân,
nông dân, người chăn nuôi...
Chủng tính này phải nộp thuế cho tầng lớp vua chúa,
quý tộc.
Tuyệt đại bộ phận trong số họ là những người bị
bóc lột và bị
áp bức.
4. Thủ-đà-la (śūdra):
Bao gồm những người
tiện dân và
nô lệ, là
thành phần thấp bé chịu nhiều
thiệt thòi nhất trong
xã hội. Mỗi
chủng tính hoạt động độc lập, theo chế độ nội hôn, là một tập thể người
cùng chung họ hàng, nghề nghiệp truyền đời nhau. Ai sinh trong
chủng tính nào thì được hưởng
thân phận của
chủng tính ấy như là
yếu tố mặc khải của kinh Vệ-đà.
Giai cấp đứng đầu bốn
chủng tính Ấn Độ lúc bấy giờ là Bà-la-môn. Bà-la-môn có nghĩa là
thanh tịnh,
thuần khiết hoặc
thần thánh. Đây là
giai cấp không những nắm
quyền lực về
tôn giáo, mà còn là
giai cấp có
đặc quyền cố vấn cho
quốc vương trong
xã hội. Trên
thực tế, người nắm quyền binh chính trị và quân sự là
giai cấp Sát-đế-lợi. Đối với nền chính trị lúc này, một mặt, Sát-đế-lợi bắt buộc dân chúng cấp dưới
thi hành chính sách của mình đặt ra; nhưng mặt khác, Sát-đế-lợi phải
tuân hành giáo quyền của
giai cấp Bà-la-môn áp đặt. Cho nên Sát-đế-lợi là
giai cấp trung gian nằm giữa Bà-la-môn và tầng lớp thợ thuyền, buôn bán, công nghệ,
nông dân.
Thái tử Tất-đạt-đa sinh ra trong
chủng tính này. Trong khi tầng lớp vương tộc phát động chiến tranh thì thành viên trong
giai cấp tế tự Bà-la-môn không
thể không thực thi công tác thực dân. Lúc bấy giờ, nông nghiệp và chăn nuôi quả là
cần thiết, tầng lớp
thương nhân buôn bán cũng không thể thiếu trong
xã hội chủng tính Ấn Độ. Họ thuộc tầng lớp lao động
bình dân, gọi là Phệ-xá.
Chủng tính này vừa
tuân theo mệnh lệnh
tôn giáo của Bà-la-môn vừa bị
chi phối bởi nền chính trị của Sát-đế lợi.
Theo
Áo nghĩa thư thì
chủng tính Thủ-đà-la bị ba
chủng tính trên
cô lập. Ba
chủng tính đầu có quyền
tụng kinh Vệ-đà và quyền
tự do tế tự. Đến
một lứa tuổi nào đó
thích hợp, họ có thể
xuất gia làm Sa-môn để
thực hiện đời sống tôn giáo; còn
chủng tính Thủ-đà-la không có quyền như vậy, họ chỉ được đọc thơ tự sự trong
văn học dân gian và
tục ngữ để được chút niềm vui thay cho
tôn giáo của họ mà thôi. Thậm chí họ không được quyền ngước nhìn vào mặt những người Bà-la-môn, vì như vậy Bà-la-môn sẽ bị ô uế.
Chứng kiến bao cảnh bất
công tồn tại cố hữu trong
xã hội Ấn Độ do chế độ
chủng tính mang lại và những
mâu thuẫn từ các
quốc gia láng giềng xâm chiếm, đánh phá nhau,
Thái tử Tất-đạt-đa
kiên quyết tìm cho mình một hướng đi
giải thoát thực sự. Sau khi
thành đạo,
Đức Phật phá bỏ
ranh giới phân biệt đẳng cấp
xã hội và làm cuộc đại
cách mạng tư tưởng để xóa tan sự bất công cố hữu ấy. Ngài dùng
tình thương để đối xử tử tế với tầng lớp
nô lệ vốn bị ba đẳng cấp trên
miệt thị.
Đức Phật luôn
kiên trì lập trường của mình khi xem tất cả
chúng sinh đều
bình đẳng. Ngài
thu nạp những người có
tâm nguyện tu tập giải thoát từ tất cả các tầng lớp
xã hội, mà không từ chối bất cứ đẳng cấp nào, dù là
thương nhân,
ngoại đạo,
nô lệ hay
quý tộc, Bà-la-môn,
quốc vương. Trong
Tăng đoàn do
Đức Phật thiết lập, Ngài
hoàn toàn không dựa theo
chức nghiệp,
thành phần xuất thân hoặc
địa vị xã hội của họ để đặt ra bất kỳ
đặc quyền hay sự
hạn chế nào. Ngài
xóa bỏ tất cả những gì có
liên quan đến lễ nghi hoặc pháp lệnh chuyên chế
phân biệt đẳng cấp
xã hội. Chính nhờ
tinh thần bình đẳng không
phân biệt này mà
Đức Phật được
đa số quần chúng cung kính,
đặc biệt là
giai cấp hạ đẳng, như
phụ nữ, người
nghèo khổ, người
nô lệ bị
áp bức,
chà đạp. Họ xem
Đức Phật như là vị “Cứu thế” vĩ đại của
nhân loại,
giải phóng mọi bất công và đem lại
tự do cho
con người.
Trong kinh
Tăng nhất A-hàm,
Đức Thế Tôn đã dạy các Tỷ-kheo: “
Nay có bốn con sông lớn, nước từ nguồn A-nậu-đạt lưu xuất. Thế nào là bốn? Đó là sông Hằng, sông Tân-đầu, sông Bà-xoa, sông Tư-đà. Nước sông Hằng kia từ Ngưu đầu khẩu chảy về hướng Đông, sông Tân-đầu từ Sư tử khẩu chảy về hướng Nam, sông Tư-đà từ Tượng khẩu chảy về hướng Tây, sông Bà-xoa từ Mã khẩu chảy về hướng Bắc. Bấy giờ, nước bốn con sông lớn sau khi uốn quanh dòng A-nậu-đạt rồi, sông Hằng đổ vào biển Đông, sông Tân-đầu đổ vào biển Nam, sông Bà-xoa đổ vào biển Tây, sông Tư-đà đổ vào biển Bắc. Lúc ấy, bốn con sông lớn đổ vào biển rồi, không còn tên gọi trước nữa, mà chỉ gọi là biển. Ở đây cũng vậy, có bốn chủng tính. Những gì là bốn? Đó là Sát-lợi, Bà-la-môn, trưởng giả và cư sĩ. Họ ở chỗ Như Lai, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia học đạo thì không còn dòng họ cũ nữa, mà chỉ gọi là Sa-môn đệ tử Thích-ca. Sở dĩ như vậy là vì đại chúng của Như Lai giống như biển lớn, bốn đế cũng như bốn con sông lớn, trừ bỏ kiết sử, vào thành Niết-bàn vô úy. Cho nên, này các Tỷ-kheo! Các ngươi nếu có ai ở trong bốn chủng tính, cạo bỏ râu tóc, với niềm tin kiên cố, xuất gia học đạo, thì những người ấy sẽ bỏ hết tên gọi trước đây, tự xưng là đệ tử Thích-ca. Sở dĩ như vậy là vì Ta nay chính là con của họ Thích-ca, từ dòng họ Thích xuất gia học đạo. Tỷ-kheo nên biết, muốn bàn về ý nghĩa của đứa con ruột, thì phải gọi là Sa-môn con dòng họ Thích”.
3
Ở
mọi nơi mọi lúc,
Đức Phật đều lấy nhân cách cao thượng của một bậc thầy
giác ngộ làm
sự nghiệp giáo hóa. Nhân cách cao thượng ấy được
thể hiện ở việc
tôn trọng tính thiện lương của
con người mà
bác bỏ tư tưởng ưu liệt về
nhân chủng. Theo cái nhìn
bình đẳng của
Đức Phật, nếu những người
nô lệ được
giáo dục đàng hoàng, biết
tu dưỡng đạo đức thì họ có khả năng
trở thành những
con người vĩ đại, đáng
cung kính. Ngược lại, những kẻ tự cho mình là người cao quý được sinh ra trong
giai cấp vương tộc hay Bà-la-môn,
nếu không được
giáo dục chu đáo, không biết trau dồi
đức hạnh thì
suốt đời cũng chỉ là những kẻ
ngu si,
vô trí,
cống cao,
ngã mạn mà thôi. Khi
đánh giá phẩm hạnh một
con người,
cần phải nhìn nhận về
trí tuệ và
đạo đức của họ chứ không thể xét họ thuộc vào
thành phần chủng tộc nào do
xã hội quy định. Phàm là người thì ai cũng có thể tự
xây dựng cho mình
một đời sống
chân chính để
trở thành người có
trí tuệ và
đạo đức. Việc
xây dựng giáo đoàn bằng
tinh thần từ bi và
bình đẳng đã
công khai phản bác chế độ đẳng cấp theo
định kiến của
xã hội Ấn Độ bấy giờ.
Đức Phật tượng trưng bằng
hình ảnh rất
sống động khi lấy nước trong trăm sông và nước trong biển lớn để
thí dụ. Trăm sông khi đổ vào biển cả đều mang một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, dù cho bất kỳ ai ở vào bốn
chủng tính của
xã hội, nếu
xuất gia tu hành chân chính thì cũng đều
thấm nhuần một vị, đó là vị
giải thoát. Không phải
Đức Phật đưa ra
vấn đề này
để lý luận suông mà chính Ngài đã
triệt ngộ và
thực hành thuần thục tính
bình đẳng trong cuộc sống hàng ngày đối với các thầy Tỷ-kheo.
Đức Phật luôn nghĩ đến
chúng sinh có duyên lành được độ. Ai có duyên trước Ngài độ trước, ai có duyên sau Ngài độ sau.
Chẳng hạn, Ni-đề vốn là một người
nghèo khổ, thuộc
giai cấp không thể
tiếp xúc, hàng ngày sinh sống bằng nghề gánh phân thuê, nhưng
Đức Phật vẫn
tiếp nhận và cho
gia nhập giáo đoàn.
Ban đầu, do
tâm lý tự ti
mặc cảm nên Ni-đề không dám gặp mặt
Đức Phật, vì nghĩ rằng
Đức Phật là
dòng dõi hoàng tộc, các
đệ tử Ngài là
quý nhân, còn ông là kẻ hạ tiện, hèn hạ. Nhưng bằng tấm
lòng từ bi,
Đức Phật thu nhận ông vào
giáo đoàn xuất gia tu học. Sau một
thời gian ngắn
tinh tấn tu tập, Ni-đề đã
chứng đắc thần thông. Bấy giờ, rất nhiều người thuộc
chủng tính Bà-la-môn hoặc vua chúa
phản đối những người hạ tiện được
xuất gia làm Sa-môn, nhưng
Đức Phật vẫn
kiên định lập trường bình đẳng của mình. Ngài luôn dùng
thí dụ dễ hiểu để ví cho
lập trường này: “
Pháp của ta thanh tịnh mầu nhiệm, cũng như nước sạch có thể tẩy trừ được tất cả cấu uế, cũng như ngọn lửa lớn có thể thiêu cháy mọi vật, dù vật lớn hay nhỏ, tốt hay xấu đều có thể cháy thành tro. Pháp của ta cũng vậy, rộng lớn vô biên, dù là người giàu hay nghèo, sang hay hèn, nam hay nữ, nếu ai có khả năng tu tập thì đều dứt sạch hết các ham muốn”
4.
Ưu-ba-li vốn là một thợ cắt tóc trong cung đình thuộc
chủng tộc Thủ-đà-la. Sau khi
xuất gia, ông
tinh thông giới luật, là một vị
trì luật đệ nhất trong
mười đệ tử lớn của Đức Phật. Ưu-ba-li cũng là người trùng tuyên
Luật tạng trong lần thứ nhất
kết tập kinh điển. Cô gái Bát-cát-đế thuộc dân hạ tiện Ma-đăng-già tự nhận mình là hạng người không thể
tiếp xúc, nên không dám dâng nước
cúng dường A-nan. A-nan mang
giáo lý bình đẳng của
Đức Thế Tôn ra
thuyết giảng thì cô ta mới dám hiến cúng. Trong
kinh Lăng nghiêm thường cho
nhân duyên gặp gỡ và
tiếp xúc này là màn kịch
luyến ái phát xuất từ
dục tâm của Bát-cát-đế.
Cuối cùng, Bát-cát-đế cũng
xuất gia làm Tỷ-kheo-ni,
chứng đắc quả vị A-la-hán.
Sở dĩ Đức Phật phủ nhận
hoàn toàn phẩm giá hạ tiện của
giai cấp nô lệ đã được định hình trong
xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, là vì Ngài lấy nhân cách làm
trung tâm để
xây dựng nên
quan điểm bình đẳng nhất như giữa
chúng sinh và Phật, như trong kinh
Hoa nghiêm dạy: “
Tâm, Phật và chúng sanh, ba thứ không sai biệt”.
5 Có thể nói,
quan điểm này không hề có trong
tư tưởng xã hội Ấn Độ trước đây.
Đức Phật đưa ra
quan điểm bình đẳng để
thức tỉnh tính
tự giác của mỗi
con người, vì ai ai cũng có khả năng
trau dồi trí tuệ và
đạo đức. Người nào chưa có
tự do tín ngưỡng tôn giáo thì giờ đây có quyền
tín ngưỡng tôn giáo, người nào chưa có
tự do học hành thì giờ đây có quyền
học hành như bao nhiêu người ở
giai cấp khác. Đây là
chủ nghĩa nhân văn,
chủ nghĩa bình đẳng trong
giáo lý của
Đức Phật.
Tinh thần này được
Đức Thế Tôn vận dụng
trong đời sống
hòa hợp của
giáo đoàn.
Từ những
thành tựu an lạc,
hòa hợp,
giải thoát của
Tăng đoàn do
Đức Phật hướng dẫn, mọi giai tầng
xã hội đã nhìn thấy những
giá trị con người mà lâu nay chế độ
chủng tính đã phớt lờ hoặc phủ nhận.
Tinh thần bình đẳng của
Đức Phật đã vượt lên trên các định chế của
xã hội để mang lại
hạnh phúc,
tự do cho
mọi người, dù họ sinh trong
giai cấp bình dân hay
quý tộc. Tất cả
con người sinh ra trên đời này đều mang dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn nên không thể nói
giai cấp này cao hơn
giai cấp kia, hay
chủng tính kia thấp hơn
chủng tính nọ từ nơi
xuất phát. Tất cả
mọi người đều
bình đẳng về
quả báo của các
hành nghiệp thiện hoặc ác,
bình đẳng về
quyền lợi được
thụ hưởng tất cả những
giá trị phổ quát của
con người.
Sở dĩ có sự
phân chia giai cấp quý tiện trong
xã hội Ấn Độ lúc ấy là do tầng lớp Bà-la-môn tự cho mình có
đặc quyền sinh sát trong tay, bắt buộc những người khác phải phục tùng vô
điều kiện. Thuyết
bình đẳng của
Đức Phật đã phản bác những bất công của
xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ và còn mang
giá trị nhân văn
cho đến hôm nay.
Con người thông minh hay
ngu độn, cao quý hay
thấp hèn là do
hành nghiệp của họ chứ không phải
do nơi chủng tính họ sinh ra, như
Đức Phật trả lời người Bà-la-môn thờ lửa Bà-la-đọa-xà trong kinh
Tiện dân: “
Chẳng phải nơi sinh ra là tiện dân, cũng chẳng phải nơi sinh ra là Bà-la-môn, bởi do hành vi mà con người trở thành tiện dân, và cũng do hành vi mà con người trở thành Bà-la-môn”.
6