Dân Chủ Và Phật Giáo
Nếu hiểu
dân chủ theo
ý nghĩa sâu xa và
rộng rãi nhất của danh từ thì nó phải bao hàm
ý niệm tự do của tâm. Nơi đây
vấn đề này được khảo sát, không phải với
mục đích đề cập đến
dân chủ trong mọi sắc thái của nó trong đó cái tâm là nền tảng, mà với
ý định hạn chế là chỉ rõ rằng
lý tưởng dân chủ và
lý tưởng tự do suy tư chằng chịt
liên hệ mật thiết với nhau trong cơ cấu của
Phật Giáo.
Nguyên tắc của
dân chủ là gì? Một nền
dân chủ thật sự phải có
tự do ngôn luận; chánh quyền do dân làm chủ, một
chánh phủ thay mặt dân, một
quốc gia trong đó chánh quyền do dân bầu cử. Chánh thể
dân chủ trong toà án tạo
công lý bình đẳng cho tất cả
mọi người: công minh,
bình đẳng,
quyền lợi, bằng nhau trên bình diện
chánh trị.
Danh từ "
Democracy" (
dân chủ) bắt nguồn từ chữ Greek (Hy Lạp): demos (dân) + krateein (cai trị), do đó là một
hình thức chánh phủ trong đó người dân có quyền và
được xử dụng quyền
chánh trị. Như vậy, một người
dân chủ là người chủ trương, hay binh vực, một
hình thức chánh phủ như vậy. Theo Harry Emerson Fosdick: "Dân chủ đặt
căn bản trên
niềm tin chắc rằng bên trong người dân thường, có những khả năng
phi thường."
"Trong
thế giới Tây Phương dân chủ bắt đầu tại Greece (Hy Lạp) khoảng năm 450 trước D.L., tức độ 2,500 năm trước đây, vào thời
Đức Phật đản sanh ... giờ đây, bởi vì chánh thể
dân chủ được
thảo luận trong thời xa xưa Hy Lạp, nhiều người lầm tưởng rằng chế độ
dân chủ khởi phát từ Hy Lạp. Đứng về mặt
lịch sử, điều này không đúng. Đó chỉ là những
ý niệm trong
hiến pháp của họ ... Những đại
tư tưởng gia nòng cốt, Socrates, Plato và Aristotle,
thảo luận về
dân chủ, nhưng
bác bỏ, xem đó là không
thích hợp cho một
chánh phủ. Những
ý niệm tân thời về
đại diện dân chủ được
phổ biến tại vùng Tây Âu vào thế kỷ mười chín và hai mươi và
chúng ta thấy nhiều chế độ
dân chủ đã được phát triển tại Âu Châu trong
thời kỳ gần đây hơn. Đây không phải là một ghi chép
rộng rãi lắm. Trên bình diện
lịch sử, những người nghĩ rằng
dân chủ đến từ Phương Tây đã
sai lầm ...
"Những chế độ
dân chủ không-phải-Tây-Phương đã bắt đầu tại
Ấn Độ, trong làng 'Panchayats' ở nhiều nơi
xa cách nhau
vào khoảng 2300, 2400 hay 2500 năm trước đây. Vài nơi được phát triển do
ảnh hưởng của
Phật Giáo. Nhưng trong một
thời gian lâu dài, các
quốc gia Á Đông này do những nhà vua
độc tài và chế độ thuộc địa cai trị
cho đến thế kỷ hai mươi. Như vậy ta phải
kết luận rằng nói
rộng rãi về những
hình thức chánh phủ, chế độ
dân chủ có một
lịch sử rất hạn hẹp bất cứ đâu trên
thế giới, ở Á Đông cũng vậy. ở Á Đông có nhiều
văn minh to lớn nhưng không có bao nhiêu
dân chủ.
"Dầu sao, ngày nay bỗng nhiên nổi lên một làn sóng
dân chủ trong
thế giới Tây Phương. Nền
dân chủ đã
phát khởi trong nhiều
thành phần thuộc
Thế Giới Thứ Ba của vùng Đông Âu, và
thời đại này đang
trở thành thời đại dân chủ.
"Ta có thể
nhận thấy trong
giáo huấn của
Đức Phật những điểm giống nhau giữa
Phật Giáo và
dân chủ. Ngài khuyên dạy lòng
khoan dung đại lượng,
ý niệm khơi dậy những cuộc
thảo luận, quyền
tự do lựa chọn rộng rãi,
bình đẳng,
bất bạo động,
vô thường -- mỗi
ý niệm ấy đều đi ngược dòng những tập tục thông thường vào thời của Ngài. Đó là những khái niệm
cách mạng mà
Đức Phật đưa vào từ 2,500 năm trước. Đó là những
cải tiến trí thức trọng đại ... Nhưng tất cả đều có tánh cách
dân chủ, trong nội dung cũng như
tác ý."
(Trích từ một bài giảng của Giáo Sư Ralph Buultjens với đề tài "Buddhism and Democracy," được đăng trong Sunday Observer, ngày 15, tháng Bảy, năm 1990)Một cuộc
đàm thoại hứng thú giữa
Đức Phật và vị
thị giả Ànanda của Ngài được ghi trong Mahà Parinibbàna Sutta (
Kinh Đại Niết Bàn), Dìgha Nikàya (
Trường A Hàm) ii. 74.
Đức Phật dạy người Vajjians bảy điều để
ngăn ngừa quốc gia khỏi
suy đồi.
Ngỏ lời với Đức Ànanda Ngài nói như sau: "Này Ànanda, con có nghe rằng người dân Vajjian
thường xuyên và
đều đặn gặp nhau trong những
buổi họp mặt không?" "Vâng,
Bạch Đức Thế Tôn, con có nghe như vậy." "Này Ànanda, ngày nào người Vajjian còn
đều đặn và thường
gặp nhau trong những
buổi họp mặt, thì họ sẽ còn hưng thạnh và không
suy đồi. Con có nghe rằng những người Vajjian họp mặt và giải tán ôn hoà
thuận thảo và làm tròn
nhiệm vụ trong
tinh thần đoàn kết không?" "Bạch
Đức Thế Tôn, con có nghe như vậy." "Này Ànanda, ngày nào mà người Vajjian họp mặt và giải tán
ôn hòa thuận thảo và làm tròn
nhiệm vụ trong
tinh thần đoàn kết thì họ sẽ còn hưng thạnh, không
suy đồi." (Để có thêm
chi tiết, xin đọc Thus Have I Heard -- một bản dịch Dìgha Nikàya của Maurice Walshe, Wisdom Publication, London, trang 231 và Last Days of the Buddha, Kandy, BPS.)
Đây là
tuyên ngôn xác định
rõ ràng giá trị của một
hình thức dân chủ mới mẻ trong những ngày cổ xưa.
Xứ
Ấn Độ có những nhà vua
Phật Giáo xuất chúng: Đại Đế Asoka vào thế kỷ thứ ba trước D.L., Kanishka vào thế kỷ thứ hai trước D.L., Harsha (Shìlàditya) vào thế kỷ thứ tám. Có những
hệ thống chánh phủ Phật Giáo và những
văn minh Phật Giáo quan trọng được phát triển.
Quả thật rõ ràng dân chủ có nghĩa là một
hình thức chánh phủ trong đó mỗi tầng lớp dân chúng đều
tham dự vào bằng cách chọn cử người
đại diện; hoặc một
quốc gia có loại
chánh phủ tương tợ,
đặc biệt là một xứ trong đó có
tự do tư tưởng và
tự do ngôn luận. Theo nghĩa
phổ thông ngày nay
dân chủ thường có nghĩa là một
quốc gia xã hội trong đó tất cả
mọi người đều có quyền như nhau.
Như vậy, chế độ
dân chủ hoàn toàn đối nghịch với chế độ
độc đoán, vốn là một
chánh phủ trong đó một người
duy nhất nắm
trọn quyền hành trong tay. Nói cách khác, là chuyên chế
độc tài. Một chánh quyền chuyên chế
độc tài bao hàm
kiểm soát tất cả mọi sự việc dưới quyền mình và không
cho phép đối nghịch. Trong quyển Why I am not a Christian, trang 135 Bertrand Russell viết:
Nguyên tắc của nền
dân chủ tự do đã gợi cảm cho những người
sáng lập hiến pháp Hoa Kỳ là những
vấn đề tranh chấp nên được
giải quyết bằng cách
biện luận thay vì bằng bạo lực. Những người
dân chủ luôn luôn chủ trương rằng
ý kiến phải được thâu nhận
xuyên qua cuộc
tranh biện không bị ngăn trở, chớ không phải chỉ một bên được phép
phát biểu. Các
chánh phủ độc tài,
thời xưa cũng như trong thời
hiện đại, thì hành động ngược lại ... Nếu tôi nắm quyền hành tôi không nên
tìm cách ngăn cản, không cho tiếng nói của những người đối nghịch được nghe. Tôi phải
tìm cách cung ứng mọi dễ dàng cho tất cả những
ý kiến, và để cho
hậu quả của cuộc
thảo luận và
tranh biện tự nó xảy diễn.
Hai
đặc tính quan trọng của
thời đại chúng ta là khoa học và
dân chủ. Hai
đặc tính ấy lan tràn trong
thế giới Tây Phương và hiện đang mạnh mẽ
du nhập vào các
quốc gia Á Châu. Nó đến, và sẽ ở đó. Không thể tống xuất. Dân chúng, nhất là
thế hệ trẻ, lấy hai
đặc tính ấy làm
tiêu chuẩn để nhìn sự vật. Họ muốn biết sự vật
thích hợp với khoa học và
dân chủ đến mức độ nào. Chí đến
tôn giáo, họ cũng nhìn với hai "con mắt" đó.
Tôn giáo có khoa học không? Cơ cấu
tôn giáo này có
dân chủ không? Đó là những
vấn đề mà họ nêu lên.
Trong một
quốc gia dân chủ, nền
giáo dục phải được
mở rộng. Dầu sao,
giáo dục không
cần phải chỉ có
tính cách lý thuyết không mà thôi. Dân chúng còn phải trau giồi
tình thương,
đức hạnh nhẫn nhục,
chịu đựng, ngay thẳng và
thanh liêm.
Nói rằng trong tất cả
tôn giáo,
Phật Giáo đề cập nhiều nhất đến
vấn đề tự do của tâm thì
quả thật không
quá đáng, bởi vì
Phật Giáo đặt nặng phần
tâm linh hơn tất cả các
tôn giáo.
Tâm lý học chiếm phần quan trọng trong
Phật Giáo và
Đức Phật rất chú trọng đến tâm, trong
chương trình thành tựu giải thoát của Ngài.
Giải thoát cái tâm là
toàn thể giáo huấn của
đạo Phật.
Đức Phật dạy: "Như Lai hướng dẫn các con đến
giải thoát;
chân lý phải tự mình
chứng ngộ. Chư Phật chỉ là những người
soi sáng con đường" (Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 276). "Giáo lý này chỉ có một hương vị, đó là hương vị
giải thoát." (Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, iv, 203). Khúc ca khải hoàn của chư vị
đệ tử của
Đức Phật khi
thành đạt tuyệt đỉnh thanh tịnh và
thanh bình an lạc chỉ là: Tâm ta đã
giải thoát; ta đã
tháo gỡ các trói buộc" (cittam me vimucci, muttosmi bandhanà).
Để
thông hiểu đầy đủ
lý tưởng tự do của tâm
cần phải nhận định tầm quan trọng của tâm.
Nếu không hiểu biết thích nghi tâm của
con người trọng yếu như thế nào ắt không bao giờ có thể
nhận định đúng mức tại sao
cần phải gìn giữ tự do của tâm.
Chính câu đầu của Dhammapada,
Kinh Pháp Cú,
nhấn mạnh đến tánh cách quan trọng này:
"Tất cả các trạng thái tâm đều do tâm dẫn đầuNhư người lãnh đạo; và do tâm tạo tác."Đức Phật không bao giờ lẫn
xen vào tự do tư tưởng của người khác, vì
tự do suy tư là quyền của mỗi
cá nhân từ lúc ra đời.
ép buộc người khác đi lệch ra khỏi
lối sống thích hợp với
tâm tánh,
hiểu biết và khuynh hướng suy tư của họ là
sai lầm.
Cưỡng bách,
lôi cuốn người
ta ra khỏi bất luận gì cũng không tốt. Bắt buộc người ta phải nuốt vào những
tín ngưỡng mà họ không thích
quả thật là
đen tối nhất;
phương cách dồn ép cho ăn như thế không tốt cho bất cứ ai, bất luận ở nơi nào.
Trong sự
hiểu biết sự vật,
đức tin và nỗi niềm lo sợ suông không có
vai trò trong
tư tưởng Phật Giáo. Mỗi người phải được phép
trưởng thành theo
phương cách mà sẽ đưa đến mình những gì
tốt đẹp nhất. Bất luận
cưỡng bách nào để
ép buộc, khép
tư tưởng của người khác vào khuôn khổ của mình là
xen vào cuộc sống
tinh thần thầm kín của người. Người
Phật tử xem sự
xen lẫn như vậy là loại
cố chấp hẹp lượng tệ hại nhất.
Cả hai,
tự do của tâm và
dân chủ là hai điều
thân yêu nhất của người
Phật tử, là những gì
chúng ta yêu chuộng nhất. Đàng khác,
trói buộc, chuyên chế hay
độc tài, là những gì mà người có mắt để thấy và có tâm để
hiểu biết sẽ ghê tởm,
chán ghét. Cũng như bản
tuyên ngôn nhân quyền của
Liên Hiệp Quốc, United Nations Universal Declaration of Human Rights, viết: "Mỗi người đều có quyền
tự do tư tưởng và
ngôn luận."
Ý Nghĩa Thật Sự
Mặc dầu chữ "democracy",
dân chủ, ngày nay được
thông dụng ở nhiều nơi trên
thế giới,
ý nghĩa thật sự của danh
từ không được
nhận định đầy đủ.
Dân chủ là một
lối sống có nhiều
ảnh hưởng đến dân bổn xứ bằng nhiều cách khác nhau. Chính
năng lực tích cực đã vượt lên như một tiến trình.
Một
đại thi hào người Mỹ, Walt Whitman, nói:
"Có
phải chăng, này bạn, bạn cũng nghĩ rằng
dân chủ chỉ là những cuộc bầu cử, những gì có tánh cách
chánh trị và để đặt tên cho một chánh đảng? Tôi nói
dân chủ chỉ
ứng dụng thích nghi ở nơi nào mà nó có thể trao truyền và đi đến mức trổ hoa kết trái bằng nhiều cách, trong
hình thức cao cả nhất của sự tương phản giữa người và người, và
niềm tin của họ -- trong
văn hóa tôn giáo,
đại học và các trường học --
dân chủ trong tất
cả đời công và
đời tư ..."
Khi
con người sống trong chế độ thật sự
dân chủ, họ
biết điều đó, cảm nhận và
hô hấp điều đó. Trong
bức thơ cuối cùng của Thomas Jefferson, cố tổng thống Hoa Kỳ, ông viết: "Đám đông
nhân loại không phải được sanh ra với bộ yên ở phía sau, cũng không có đôi giày ống
quen thuộc và đinh thúc ngựa gắn trong giày, sẵn sàng lên yên, với phước lành của Chúa."
Trong không khí
dân chủ chắc chắn không thể có chủ và tớ.
Dân chủ là
cứu tinh cho
cá nhân mà cũng là
cứu tinh cho
quốc gia. Để
thành tựu điều này phải
thông hiểu giá trị và tầm quan trọng của tất cả
mọi người, không
phân biệt giai cấp, màu da,
tín ngưỡng,
nam nữ hay lối
phân chia nào khác. Khi nói đến
tình trạng tốt đẹp của
xã hội,
phải chăng ta muốn đề cập đến sự
tốt đẹp của tất cả những
cá nhân cấu tạo nên
xã hội ấy?
Chúng ta phải cho
cá nhân chỗ đứng đúng của nó và nâng họ, từ thấp lên những tầng lớp cao hơn.
Những người sống thiên về
vật chất sẽ nói rằng có những vật
cần thiết mà
nếu không có
chúng ta không thể sống. Rất đúng.
Đức Phật cũng chú trọng đến nhu cầu
vật chất khi Ngài đề cập đến bốn món
cần thiết cho
đời sống của chư tỳ khưu, các
đệ tử Ngài, tức: y, vật thực, chỗ ở và thuốc men. Trên
căn bản, đó cũng là những nhu cầu chánh yếu của người
tại gia cư sĩ.
Mặc dầu Đức Phật không
đặc biệt chú trọng đến
tiến bộ vật chất theo
ý nghĩa mà hiện nay người ta hiểu, không chú trọng đến
tình trạng an lành trần tục, Ngài cũng không
hoàn toàn lờ hẳn, không
lưu tâm đến, bởi vì đó là nền tảng của mọi
tiến bộ,
tinh thần và
vật chất, của
con người.
Nếu không có bốn
vật dụng cần thiết, những nhu cầu
tối thiểu không
thể không có, hoặc nếu thiếu kém, nhất là vật thực, thì tâm của ta cũng không an.
Ta không thể và không nghĩ đến
đời sống đạo đức, cũng không nghĩ đến phưong
cách sinh sống như thế nào cho được
thích hợp với
chánh mạng.
Con người là một
thành phần của
xã hội, phải
hoạt động mạnh mẽ để sống và
tăng trưởng tình trạng kinh tế và
địa vị xã hội,
nếu không sẽ
trở thành gánh nặng cho mình và cho kẻ khác; nhưng
đồng thời phải tránh lối nuôi mạng
sai lầm và
gian xảo, không lệch xa
con đường trách nhiệm và ngay thẳng. Theo
Phật Giáo,
động cơ thúc đẩy đưa đến hành động và
hậu quả của hành động, cả hai phải được
cân nhắc thận trọng.
Dầu động cơ xem có thể tốt như thế nào nhưng
hậu quả sẽ không
lành mạnh thì ta phải tự chế,
kiêng cữ những hành động và
lời nói trá hình ấy. Ta cũng nên
thận trọng giữ mình,
tránh khỏi phải
sai lầm vì chỉ nhìn sắc thái
vật chất của
đời sống và quá thiên về nó trong khi nhiệt thành
phục vụ kẻ khác.
Phải thấy cả hai sắc thái của
đời sống,
vật chất và
tinh thần đạo đức, nếu muốn giữ cho sự phát triển của ta được
quân bình, không nên nghiêng hẳn về một bên.
Dân chủ thật sự phải có
căn bản thực tiễn, triết lý và
tôn giáo. Những người
hiểu biết, những người
trí não sáng suốt, sẽ
nhận thức rằng trong khi có vài vật
cần thiết mà
nếu không có ta không thể sống, cũng có những
giá trị tinh thần và
đạo đức mà
nếu không có ta không cần sống.
Nhiệm Vụ Của Một Ông Vua
Có sự giống nhau rất gần giữa
Phật Giáo và
Dân chủ.
Đức Phật thị hiện vào thời mà chế độ chuyên chế
độc tài rất thạnh hành tại
Ấn Độ. Phần lớn các
quốc gia là
phong kiến, nằm trọn dưới quyền cai trị của một vị ràjà, (vua), như
trường hợp dòng Sakyans (
Thích Ca) của
Đức Phật. Cũng có những nước cộng hòa như Licchavi, của người dân Vajjian, do một Thượng Nghị Viện gồm những
Trưởng Lão cai trị. Trong các vương quốc, vị ràjà (vua) là người trị dân mà
mọi người khép nép vâng lịnh và hết dạ
trung thành.
Đời sống hình như yên tĩnh, so với nhiều lãnh thổ ngày nay.
Tuy nhiên giáo huấn của
Đức Phật có phần là một
đe dọa cho những chế độ chuyên chế trong nước.
Đức Phật không
xen vào chánh trị và chánh quyền trong xứ, vì Ngài không bao giờ thích
xen vào chuyện của người khác khi mà làm như vậy không
ích lợi gì. Dầu sao, điều này không
ngăn cản Ngài nói
lên tiếng nói của những
tư tưởng và quan kiến
dân chủ của mình.
Trong
kinh điển Phật Giáo có những bài giảng chỉ rõ một nhà trị dân phải như thế nào để
lãnh đạo quần chúng. Kể ra sau đây là Mười Bổn Phận hay Nguyên Tắc
chỉ đạo cho một vị Vua (dasa-ràjà-dhamma):
Rộng lượng bố thí,
giới đức,
hy sinh hay không
vị kỷ,
thanh liêm,
hiền hòa, không
xa hoa phung phí, sống tự chế, không nóng giận, không hung bạo, nhẫn nại và dễ mến (Jàtaka, Túc Sanh Truyện I. 260). Nên
đặc biệt chú trọng đến danh từ "dễ mến" vì nó chỉ rằng nhà vua phải
tôn trọng ý muốn của dân. Như
Đức Phật chỉ dạy, nhà cầm quyền trị dân phải tự mình
củng cố trong
Giáo Pháp, trong nhiệt tâm sùng đạo và trong
đức hạnh chánh trực,
cố tránh những thói hư tật xấu, và như vậy làm gương lành để dẫn dắt dân chúng.
Vua Asoka
Về điểm này Đại Đế Asoka của
Ấn Độ được xem là nhà trị dân công minh,
sáng suốt và
hiền hòa hơn tất cả trong các
thời đại. Điều này được
sáng tỏ trong những sắc lịnh của ông:
"Tất cả thần dân là con của tôi."
"Cũng giống như tôi ước muốn cho con cái của chính tôi được hưởng mọi
sở hữu và
hạnh phúc trong đời này và trong kiếp sống tới, cùng thế ấy tôi ước muốn cho
mọi người."
"Tôi phải là niềm
an ủi cho
thế gian. Nơi tôi
thế gian phải cảm nhận
hạnh phúc, không phải
sầu muộn." (Sắc lịnh I)
"Không có
nhiệm vụ nào cao cả hơn là
nhiệm vụ tạo
hạnh phúc cho
toàn thể thế gian."
"Tôi phải
hoạt động vì sự
tốt đẹp của
toàn thể thế gian." (Sắc lịnh II)
Ta có thể nói mà không chút
hoài nghi, rằng Vua Asoka (A Dục) đã hành đúng theo
lời khuyên dạy của
Đức Phật, luôn luôn giữ mình công minh
chánh trực trong việc trị nước an dân, là một nhà trị dân
gương mẫu, và như H.G. Wells viết: "Giữa hằng chục ngàn những vua chúa ... choán đầy những cột trang
lịch sử, tên của Asoka
rực rỡ sáng ngời hầu như
đơn độc, một ngôi sao." (The Outline of History, London: Cassel & Co, 1934, trang 402).
Trong khi
ngỏ lời với Quốc Hội
Ấn Độ Jawaharlal Nehru, vị cố
thủ tướng xứ
Ấn Độ, có lần nói: "Tôi có đủ
đức tin để khấu đầu
đảnh lễ khi được nhắc đến tên
Đức Phật.
Con đường mà
Đức Phật và Asoka đã chỉ vạch không thể bị
bỏ quên, và bề nào cũng còn lưu lại trong những
tâm hồn của xứ
Ấn Độ. Trong thời của
chúng ta Mahatma Gandhi cũng noi theo
con đường ấy, và noi theo
con đường ấy,
uy tín và
sức mạnh của
quốc gia tăng trưởng. Nếu có
vấn đề cần phải được
xem xét, ta phải
xem xét một cách
ôn hòa và
dân chủ, theo đường lối mà
Đức Phật dạy."
Những
Tư Tưởng Dân ChủNhững lời dạy của
Đức Phật khẳng quyết khuyến khích những
tư tưởng và tổ chức
dân chủ. Ngài
sáng tạo Sangha (
Giáo Hội Tăng Già),
cộng đồng của những
nhà sư, một cơ cấu
tuyệt đối dân chủ. Hầu Tước của Zetland, một Phó Vương xứ
Ấn Độ, viết trong phần nhập đề của quyển The Legacy of India:
Có thể khuynh hướng thiên về
chánh phủ tự trị,
hiển lộ trong những
hình thức khác nhau của
sinh hoạt hiệp hội, đã
tiếp nhận một sự
thúc đẩy mới mẻ từ sự
bác bỏ chế độ chuyên chế
trong đời sống các
nhà sư và hơn nữa, từ
giáo lý bình đẳng, được
thể hiện qua
sự kiện cự tuyệt không chấp nhận
giai cấp.
Quả thật vậy, ta phải dở ra những trang sách
Phật Giáo để
tìm hiểu phương cách mà các
cơ quan đại dhện chánh quyền tự trị trong thời xa xưa ấy
giải quyết vấn đề. Và nhiều người có thể
ngạc nhiên, biết rằng hơn hai ngàn năm trăm năm về trước
hội nghị của những người
Phật tử có đủ những
thủ tục, những
nghi thức thực hành, chánh yếu cho quốc hội của
chúng ta ngày nay. Phẩm giá của Quốc Hội được
bảo tồn do sự
chỉ định một viên chức
đặc biệt -- thai bào mà ngày nay nở sanh ra vị 'Chủ Tịch' Quốc Hội (Mr. Speaker) của
chúng ta. Một viên chức thứ nhì được đề cử có
nhiệm vụ là
trông chừng giữ mức định số
tối thiểu khi cần -- theo kiểu mẫu vị 'Chief Whip' của Quốc Hội trong
hệ thống của
chúng ta. Một hội viên đề khởi
chương trình nghị sự dưới
hình thức kiến nghị rồi mở cuộc
thảo luận. Trong vài
trường hợp, điều này chỉ làm
một lần, trong những
trường hợp khác phải lặp lại ba lần, như vậy đã
đi trước thủ tục của Quốc Hội, buộc phải đọc quyết nghị ba lần mới
trở thành luật. Nếu cuộc
thảo luận cho thấy có những
quan điểm bất đồng,
vấn đề phải được
quyết định bằng cách bỏ phiếu,
thiểu số phục tùng
đa số.
Chí đến
quan niệm thủ tục về "người
vắng mặt ủy quyền cho một người khác bỏ thăm" cũng có trong
giới luật, Vinaya, mà
Đức Phật ban hành. Khi ban truyền lời dạy này cho các
đệ tử,
Đức Phật không có bất
luận sự phân biệt nào giữa hàng
môn đệ, vì không có những
đệ tử ưu tú được
đặc biệt chọn lựa.
Đức Phật không bao giờ
ban cho ai ưu quyền hay
ưu thế. Như Ngài Upali chẳng hạn, sanh trưởng từ một
gia đình thợ cạo, được chọn làm
tăng trưởng trong những
vấn đề giới luật, trong khi ấy có nhiều vị
xuất thân từ
giai cấp quý phái và chiến sĩ. Đây thật sự là
dân chủ,
xứng với ý nghĩa của danh từ.
Không có dấu hiệu nào cho thấy rằng trước khi
nhập diệt Đức Phật giao quyền
lãnh đạo cơ
bản Phật sự lại cho vị nào. Ngài không đề cử người
kế vị.
Về điểm này
chúng ta có thể hứng thú
ghi nhận rằng trước khi
nhập diệt Đức Phật minh bạch nói rõ rằng không bao giờ Ngài có ý
kiểm soát Giáo Hội.
Ngỏ lời với
chư Tăng, Ngài dạy: "Giáo Pháp và
Giới Luật (Dhamma-Vinaya) mà
Như Lai trao truyền cho các con, hãy lấy đó làm thầy khi
Như Lai nhập diệt."
Ngài
công bố giáo lý một cách
tự do và
bình đẳng cho tất cả
mọi người. Ngài không giữ lại gì. Ngài không có cái chi giống như "bàn tay nắm lại" để giấu
đệ tử một vài
kiến thức chánh yếu; và Ngài không bao giờ vắt ép các
đệ tử để
lấy ra một
đức tin mù quáng, luôn luôn phải
vâng dạ phục tùng Ngài hay
giáo lý của Ngài.
Ngài
nhấn mạnh đến sự khảo sát
sáng suốt và phân biện. Bằng những
ngôn từ khẳng quyết Ngài khuyến khích
công trình khảo sát với
tâm trí phê bình sáng suốt khi
ngỏ lời với người Kàlàma muốn
tìm hiểu, trong
bài kinh được gọi rất đúng là
hiến chương tự do khảo sát (xem phần trên, trang 148).
Điểm Chủ Yếu
Điểm chủ yếu của
Phật Giáo là
tình trạng châu toàn
tối thượng. Nhắm đến
mục tiêu cứu cánh ấy
Đức Phật dạy
nhân loại giá trị của
tự do tư tưởng. Ngày nào mà
con người còn bị
ràng buộc dính kẹt trong những quan kiến,
tư tưởng và
ý thức hệ thì
tâm không thể
trưởng thành to lớn và mạnh mẽ. Như vậy, ta có thể nói, chế độ
dân chủ có
ảnh hưởng san bằng giá trị trong những phân hạng và những
giai cấp khác nhau trong
xã hội. Người nam phải được
tôn trọng vì là người nam. Người nữ phải được
tôn trọng vì là người nữ. Những hàng rào chia cách
giai cấp, màu da,
chủng tộc, hàng rào
tài sản và
uy tín gia đình, những hàng rào
quyền thế và
địa vị, đều bị phá vỡ và
giá trị cố hữu của người nam là người nam, hay của người nữ là người nữ, phải được
thừa nhận. Đúng
quan điểm của
Phật Giáo là vậy.
Những
điều kiện xã hội tại
Ấn Độ trước
thời kỳ Phật Giáo thật rất nhơ bẩn và uế trược vì quá chú trọng đến sự
phân chia giai cấp và
chủng tộc. Một vị
Bà La Môn mà được
xã hội xem là thuộc
giai cấp cao sẽ nhìn xuống với cặp mắt khinh rẻ một người không-phải-Bà
La Môn. Chính
Đức Phật đã
bác bỏ ưu thế tối cao của
giai cấp Bà La Môn. Những bài giảng như kinh Vasala (Sutta Nipàta trang 21) v.v...
minh bạch chỉ rằng
Đức Phật phải
trải qua nhiều
công phu để giảng dạy
tình trạng bình đẳng giữa
con người. Nếu có chi làm cho người này cao hơn hay thấp hơn người kia, đó là hành động của người ấy. Cũng trong
bài kinh trên
Đức Bổn Sư dạy:
"Bằng hành động ta trở thành Bà La Môn; bằng hành động ta trở thành cùng đinh."Trong một
xã hội tự do dân chủ điều
cần phải có là
tình trạng hợp hòa thuận thảo, không phải phân tranh, cãi lẫy và
thù hằn.
Dân chủ là hòa bình và đoàn kết, không phải chiến tranh và chia rẽ.
Toàn thể thế gian hình như đang
trải qua những thời điểm khó khăn. Có quá nhiều
xung đột,
ác ý và
ngờ vực lẫn nhau trong bầu không khí của
thế gian. Trong
tình trạng căng thẳng và
tranh chấp tâm ta phải hướng về
thông điệp tình thương và
thông cảm nhau của
Đức Phật.
Vấn đề là bằng cách nào
thế gian có thể sống chung hòa bình.
Thế gian đã
tiến bộ nhiều trong việc
sáng tạo vũ khí có tánh cách
tiêu diệt, nhưng
con người vẫn chưa có thể
kiểm soát đầy đủ tâm mình. Nhu
cầu khẩn thiết nhất là đào luyện
tâm tánh con người. Nếu muốn
cứu vãn văn hóa của ta, phải
biến cải bản chất của ta.
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc chỉ vang âm những lời của
Đức Phật khi vạch tỏ rằng tất cả những
tranh chấp,
xung đột và chiến tranh đều bắt nguồn từ trong tâm của
con người, và chính tại nơi đó mà ta phải
ngăn ngừa.
Nghiên cứu lịch sử, ta thấy rằng tất cả những tàn phá trên
thế gian đều do những người không có tập luyện để giữ tâm yên lặng,
quân bình và
trầm tĩnh. Tâm trạng
yếu kém ấy là do sự
bộc phát những cơn cuồng điên
giận dữ,
cố chấp, thiếu lượng khoan hồng và
bạo động, và
tâm tính hung bạo có thể gây
án mạng giữa người và người. Chí
đến nay ta còn thấy
tình trạng thù ghét lẫn nhau,
cố chấp, chia rẽ và
căng thẳng ngày càng
tăng trưởng mà không được
kiểm soát. Người ta bị danh, lợi,
tài sản,
quyền thế và
dục vọng đầu độc.
Kỷ Luật
Vài
chánh phủ khai thác tính lo sợ
phức tạp cố hữu dính liền với
con người để
thiết lập tình trạng thanh bình và ổn định, nhưng người
sáng suốt đã
tin chắc vào
giá trị sâu xa của chế độ
dân chủ không thể
chấp nhận lối chữa trị như vậy. Không
quốc gia nào có thể
tiến hóa nếu không có kỷ luật, và kỷ luật phải được trau giồi từ bên trong, không thể từ bên ngoài áp đặt vào. Không thể dùng
thế lực ép buộc và
cưỡng bách thiết lập kỷ luật, dầu bằng khoa học cũng không nên, mà chỉ bằng cách
thành thật theo chân một
tôn giáo binh vực hoà bình, chủ trương
trạng thái trong sạch và
hạnh phúc. Một
quan điểm đạo đức về
đời sống rất
cần thiết để
kiến tạo tình trạng thuận thảo hòa hợp và
an lành. Ngày nay, hơn bất cứ lúc nào,
chúng ta cần ánh sáng của
Giáo Pháp (Dhamma),
chân lý và tánh
thanh liêm chánh trực,
tình thương và sự
thông cảm lẫn nhau.
Phải
nhận thức rằng
chúng ta sống ở đây không phải để chỉ lo cho chính mình, mà phải
thương yêu và
phục vụ người khác bất cứ
chủng tộc,
giai cấp, màu da và
tín ngưỡng nào. Không ai có thể sống lẻ loi
một mình.
Chúng ta tùy thuộc lẫn nhau.
Chúng ta phải sống chung
với nhau, phải nhìn nhau với cặp mắt
hiền hòa và
từ ái bi mẫn, thay vì lạnh lẽo
lãnh đạm và hung dữ
trừng mắt nhìn nhau với tâm bất
thân thiện.
Dân chúng
cần phải hội họp,
gặp nhau thường xuyên, để gieo
thiện tâm và
cảm tưởng tốt đẹp đến nhau. Điều này được
Đức Phật chú trọng nhắc nhở người Vajjian như có ghi trong kinh Mahà Parinibbàna Sutta (
Đại Niết Bàn).
Nói đến chế độ
dân chủ, Tổng Thống xứ Sri Lanka, Ranasinha Premadasa,
ghi nhận:
"...
Dân chủ là dân chúng. Dân chúng phải có quyền vào những cơ
sở lập pháp và hành pháp".
"Và nói dân chúng, không phải tôi chỉ muốn đề cập đến những vị nghị viên được dân cử, năm hay sáu năm
một lần. Dân chúng, tôi muốn nói là người dân nặc danh thông thường, sống trong thành phố hay ở đồng quê. Tôi muốn nói đám đông thầm lặng. Họ phải được có cơ hội
tham gia chánh phủ."
"Phần lớn
văn hóa và những
giá trị mà tôi
thừa hưởng là
di sản chung với
Ấn Độ. Vua Dharmasoka (A Dục), vị
Sơ Tổ của
triều đại Mauryan đã cho tôi nguồn
cảm hứng lớn lao. Như vậy, nói tôi là người chống
Ấn Độ có thể là nghĩa gì?" -- (A Charter for Democracy in Sri Lanka)
"Khẩn thiết kêu gọi giới trẻ chiến đấu chống chế độ kỳ thị người da đen ở South Africa (Nam Phi), Đức Giám Mục Anh Giáo người da đen, Desmond Tutu nói với đám đông
im lặng lắng nghe: 'Thượng Đế đúc khuôn
con người bằng đất sét, đặt cái lố đầu vào lò rồi đi làm công việc khác. Đến lúc nhớ lại, Ngài dở lò ra thì khuôn đất sét đã bị nướng
quá mức -- sậm màu và đen. Đó là dân của
chúng ta.' Đức Giám Mục ngưng một lúc. Rồi người kể chuyện
trứ danh, người
sáng suốt lanh trí và khôi hài, giữa đám đông nhân viên cảnh sát giữ
an ninh, Đức Giám Mục, nói tiếp 'Lần thứ nhì
Thượng Đế không dám bỏ liều. Sợ e lỡ quên, Ngài sớm sủa lấy khuôn đất ra và thấy "đất chưa đủ chín. Đó là những người da trắng,' Ngài
nói trước một
cử tọa vổ tay như sấm.
Đức Giám Mục Tutu, vị
lãnh đạo của hai triệu người Anh Giáo Nam Phi, và Đệ Nhất Tổng Thơ Ký của Nhà Thờ Nam Phi,
nhấn mạnh đến
tự do, nói với những
thính giả trẻ tuổi của Ngài rằng thà Chúa để cho
con người tự do đi
địa ngục, còn hơn là
ép buộc họ lên
thiên đàng ... 'Quý vị đã đi đến
tự do, đã hát bài ca
tự do, đã đứng lên và binh vực
tự do và quý vị đã đem lại niềm
hy vọng kỳ diệu trong quả tim của nhiều người." (Among My Souvenirs, Kirthie Abeysekera, trang 377, 379, 380).
Ngày nay có những
hoạt động không ngừng ở mọi phương trời để
cải thiện thế gian. Những nhà khoa học không ngừng thí nghiệm và
nghiên cứu những
phương pháp khoa học một cách
cương quyết, với lòng hăng say
không thối chuyển, và nhiệt tâm bền chắc. Những
phương tiện truyền thông và
tiếp xúc hiện tại đã
thành tựu nhiều kết quả
phi thường;
tiến bộ khoa học đã đem lại nhiều
tốt đẹp cho
nhân loại. Tất cả những
cải tiến ấy --
mặc dầu có những
lợi ích và những phần thưởng --
hoàn toàn vật chất và ở bên ngoài.
Tình Trạng Hạn Định Của Chế Độ
Dân ChủMặc dầu có những phát triển và
cải thiện vật chất và ở bên ngoài, phần lớn dân chúng vẫn không châu toàn. Họ luôn luôn bị những
tai ương và nạn
tiêu diệt đe dọa. Người dân trên
thế giới ngày nay sống không
yên ổn,
chán ngán mệt nhọc, luôn luôn lo sợ và
bất mãn, và ta phải
yên lòng với niềm
hy vọng rằng ngày nào đây một chiếc đủa thần sẽ làm cho
mọi việc trở lại ngay ngắn
bình thường.
Nếu thế gian phải
vượt qua tình trạng khuấy động
hiện tại, không những
chúng ta chỉ cần đến các khoa học gia, mà cũng cần những người chú trọng mạnh mẽ đến, và
lo lắng cho,
tình trạng an lành,
giá trị và phẩm giá
con người. Nếu chỉ có tiếng đập nhảy của
tâm từ và
tâm bi xuyên qua những lời dạy của bậc
Toàn Giác từ thời xa xưa làm khuôn vàng thước ngọc cho hành động của
con người ngày nay, ắt
chúng ta không sống trong bầu không khí
ngờ vực, lo sợ,
ganh tỵ,
tham vọng, thù hận và
si mê.
Nếu
dân chủ là
đại diện của lòng dân,
ý muốn không bị trở ngại và không bị
ràng buộc của người dân có đủ
tự do tư tưởng, thì còn gì để
bảo đảm rằng
ý muốn của dân là chánh đáng? Còn gì để
bảo đảm rằng những gì họ mong muốn là điều chân chánh để muốn? Và đó là những gì
tốt đẹp nhất cho họ.
Tự do của tâm là tốt, nhưng tâm có thể chạy loạn.
Cần phải có vài
giới hạn cho
dân chủ. Là một chế độ do
con người tạo ra, chế độ
dân chủ phải chia sẻ với
con người tánh cách
giới hạn và
tình trạng hữu hạn của tâm.
Phật Giáo không đặt
tự do của tâm là
mục tiêu tối thượng.
Phật Giáo trèo lên cao hơn.
Phật Giáo nhắm đến
mục tiêu vượt lên khỏi
tình trạng tự do của sự vật, nhắm đến
tự do ngoài cái tâm nữa.
Lẽ dĩ nhiên, đó là cái gì ngoài
quan điểm tại thế.
-ooOoo-
Phật Giáo Và Hòa Bình Thế Giới
Cách nay hơn chín mươi năm, Tướng Sherman nói, "Tôi đã
mệt mỏi và
chán ngán chiến tranh.
Vinh quang của nó chỉ như ánh
mặt trăng ... Chiến Tranh là
địa ngục." Hơn một trăm năm trước đó, Benjamin Franklin đã nói: "Không bao giờ có một chiến tranh tốt hay một hoà bình xấu."
Một trăm năm trước, john Milton
tuyên bố: "Chiến tranh có thể sanh ra gì,
nếu không phải là chiến tranh
vô tận." Hai ngàn năm trước Milton, Thucidides, sử gia người Hy Lạp, trong quyển History, thấy rằng "chiến tranh là một điều xấu, là cái gì mà tất cả
chúng ta đều biết, và
liệt kê tất cả những tệ hại dính liền với nó là
vô ích."
Và hai trăm năm trước đó nữa, cách nay gần hai mươi sáu thế kỷ,
Đức Phật Siddhattha Gotama, Vua Hòa Bình (Santiràjà), đã
thuyết giảng nhiều lần để chỉ rõ tệ hại của chiến tranh.
Huấn lịnh mà Ngài ban truyền cho những vị
đệ tử kế cận chứa đựng
ý niệm hòa bình: Hãy đi đó đây, này chư
đệ tử, vì
tình trạng an lành và
hạnh phúc của
chư thiên và
nhân loại. Hãy ban rải bức
thông điệp đượm nhuần
ý niệm hòa bình của Giáo Pháp" (Vinaya Mahàvagga, phẩm Mahàvagga của Tạng Luật).
Chiến tranh mà có một thời nào là
phương tiện để giành thị trường, ngày nay chính nó là cuộc giao dịch có lợi. Kỷ nghệ chế tạo vũ khí giết người và chất độc đem lại những
mối lợi khổng lồ, và một phần các
mối lợi này
được xử dụng để mua chuộc những người
ủng hộ "chiến tranh vì lẽ này, hay chiến tranh vì điều kia", luôn luôn có
lý do biện giải mới mẻ và một loại
ma quỷ mới để làm cho người
phản đối nhút nhát phải
rụt rè kinh sợ.
Có một thời nhiều
quốc gia tin tưởng nơi toa thuốc cho rằng nếu anh muốn hoà bình anh phải chuẩn bị chiến tranh, nhưng một cuộc
quan sát tình hình quốc tế trong vài thập niên qua cho thấy rằng toa thuốc ấy không
công hiệu.
Một toa thuốc
chắc chắn công hiệu hơn nằm trong ánh sáng của những gì
Đức Phật Gotama
công bố 2,500 năm về trước:
"Trong thế gian này hận thù không bao giờ làm suy giảm hận thù, chỉ có tình thương mới làm giảm bớt lòng thù hận. Đó là nguyên tắc từ ngàn xưa." (Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 5).
Liên Hiệp Quốc được
ủy thác gìn giữ hòa bình trên
thế giới và
đại diện cho niềm
hy vọng của
nhân loại.
Liên hiệp này được
sáng lập với
mục đích chánh là
duy trì và
thiết lập hòa bình. Tổ chức này
đặc biệt có nhiều
ý nghĩa trong những lúc
căng thẳng và khủng hoảng.
Ngày nay
toàn thể thế gian đang
trải qua những
thời kỳ khó khăn.
Thế gian của
chúng ta bị phủ vây tứ bề giữa những
vấn đề khó khăn đang làm
hao mòn nền tảng hòa bình và
thiện ý của
mọi người. Có tệ nạn ghiền
ma túy và
ô nhiễm xã hội ngày càng
tăng trưởng trong giới trẻ mà không có dấu hiệu nào
chận đứng tình trạng phá sản này.
Người ta càng ngày càng
ý thức hơn và
quan tâm đến
ô nhiễm biển cả,
ô nhiễm không gian và
ô nhiễm đất đai. Nhưng
con người có hay biết đến nạn
ô nhiễm đạo lý đang tràn ngập
thế gian ngày nay không? Thay vì
tiến bộ khoa học và kỹ thuật,
mục tiêu của một nền
văn hóa thanh bình và
công lý vẫn còn lẫn tránh, và liều thuốc vạn ứng do
con người vật chất sáng tạo vẫn không đem lại
thỏa mãn.
Các chuyên viên nói với ta rằng
kiến thức về khoa học và kỹ thuật đã
tăng trưởng gắp đôi trong vài thập niên qua, nhưng những
vấn đề khó khăn của
thế gian cũng tăng gắp đôi. Tại sao?
Hiển nhiên là
kiến thức khoa học và
kiến thức kỹ thuật không đem
con người lại gần hơn
giải đáp cho những
vấn đề khó khăn của
thế gian. Loại
kiến thức ấy
chỉ dẫn đến
tình trạng sanh sôi
nảy nở vấn đề càng nhanh chóng hơn và
dẫn nhân loại đến cạnh vực thẩm của nạn tự hủy diệt với
khí giới hạt nhân.
Vị cố Tổng Thống Hoa Kỳ, Dwight D. Eisenhower, nói: "Khoa học hình như sẵn sàng ban bố cho ta món quà
cuối cùng của nó,
năng lực bôi bỏ đời sống của
con người trên hành tinh này." Nhưng làm sao tránh cho
thế gian sự tàn phá khủng khiếp ấy?
Giải đáp cho cuộc chạy đua trang bị vũ khí hạt nhân đến Armageddon (nơi mà cuộc giao tranh giữa hai lực lượng, thiện và ác,
cuối cùng kết thúc) là thế nào?
Vài
lý thuyết chánh trị của thế kỷ
hiện tại tuyên bố rằng phát triển kinh tế là "tất cả" và "chấm dứt tất cả", và nếu dân chúng được khá giả về mặt kinh tế thì tất cả đều
tốt đẹp.
Đó là
tư tưởng sai lầm chủ trương rằng những
giá trị tinh thần hay
giá trị của tâm là không
cần thiết nếu có
giá trị khoa học. Đó là nhược điểm của nền
văn minh thế giới ngày nay: không biết đến
giá trị tinh thần.
Để
kiểm soát những
động lực vị kỷ ta
cần phải cố gắng và
tôn trọng kỷ luật. Đó là những điều đến với ta, không phải bằng
con đường của khoa học, mà từ kỷ luật của một
tôn giáo.
Như một vị thầy
thực tế có
lòng bi mẫn và
hiểu biết vô lượng,
Đức Phật luôn luôn
chú tâm đến
tình trạng xã hội và kinh
tế an lành của đám đông, và lúc nào cũng muốn làm vơi nỗi khổ của dân chúng bằng những
lời khuyên dạy, và thấy họ sống mà không có quá nhiều
bất hạnh.
Lẽ dĩ nhiên là
nếu không có
tình trạng an ninh vật chất và kinh tế ổn định đến một mức độ nào, không thể có
tiến bộ tinh thần và
đạo đức. Theo
giáo huấn của
Đức Phật,
an ninh kinh tế phải tay cầm tay cùng đi chung với những
giá trị tinh thần.
Con người không nên đi lệch ra khỏi
con đường nhiệm vụ. ngay thẳng và
thanh liêm chánh trực, nhưng phải
cố gắng tìm mức
quân bình giữa những
giá trị vật chất và
tinh thần.
Với mức độ
tiến hóa của khoa học
hiện đại rất nhiều
chuyển biến đã xảy diễn, và những
cải tiến và
biến đổi ấy, vốn dĩ là
vật chất và ở bên ngoài, có chiều hướng làm cho
con người hiện đại ngày càng thiên về
thế gian và những
dục vọng trần gian, kết quả là họ lãng quên, không
quan tâm đến, hay
cố ý bỏ lơ, những đức tánh của tâm và
trở thành vị kỷ và chai đá. Những làn sóng
vật chất hình như
ảnh hưởng và đổi thay đường lối suy tư và sinh sống của
nhân loại. Người ta bị
ràng buộc quá nhiều trong nhục dục
ngũ trần, chỉ sống trong
thế gian vật chất, đến độ không còn
tiếp xúc với những gì
tốt đẹp bên trong mình.
Nếu những cường quốc chánh yếu không thay đổi đường lối của họ,
chúng ta còn phải
đối phó với thảm kịch
trầm trọng nguy hại của
nhân loại.
Thế gian bị chiến tranh
đe dọa. Chiến tranh ở đây có nghĩa là
hoàn toàn diệt chủng,
toàn thể loài người sẽ bị
tiêu diệt. Một cuộc đổi thay đường lối của những đại cường quốc là
giải pháp duy nhất cho nền hòa bình
thế giới. Tất cả những
hội nghị hòa bình chân chánh và những
buổi họp để nguyện cầu sẽ góp phần
truyền bá bức
thông điệp hòa bình
thế giới cho người dân đang ở ngã rẻ của
thời cuộc.
Những
quốc gia nhỏ gây chiến tranh vì các
quốc gia hùng mạnh và
giàu có hơn trợ giúp họ. Cuộc chiến để giành
quyền lợi giữa những
quốc gia cường thạnh này
liên tục tiếp diễn -- quả bóng được vứt ra sân cho kẻ khác. Những
phương sách chữa trị để
ngăn ngừa một
tai biến thế gian phải
xuất phát từ
đáy lòng.
Ta còn nhớ một diễn biến đã xảy ra vào những năm đầu của thập niên sáu mươi, khi
Thủ Tướng Chu-En-Lai (Châu Ân Lai) của
Trung Quốc đến viếng
Ấn Độ để
thảo luận về
biên giới Đông Dương. Trong cuộc họp
lịch sử ấy, vị
Thủ Tướng Ấn Độ thời bấy giờ, Jawaharlal Nehru, đã trích dẫn một câu của Dhammapada,
Kinh Pháp Cú:
"Chiến thắng nuôi dưỡng hận thù (nơi người chiến bại);Kẻ chiến bại sống đau khổ.Hạnh phúc thay, người sống thanh bình an lạc,Dứt khoát từ bỏ, thắng và bại."-- (Pháp cú, 201)Vì lẽ chiến tranh bắt đầu từ trong tâm của
con người, ta phải nhớ rằng ta chỉ sống trên một đớm nhỏ tí ti trong
vũ trụ, được gọi là "quả địa cầu". Nhiều người nghĩ rằng trái đất đang
tiến bộ. "Ngày nay
chúng ta có đủ tất cả những gì ta cần," họ nói. Đúng vậy, người ta còn lên đến tận
mặt trăng nữa là khác. Họ đặt hầu như tất cả mọi sự vật dưới quyền
chi phối của họ. Họ có
tài sản vật chất, những
phương tiện và những
tiện nghi để
thỏa mãn dục vọng.
Chúng ta có những
nhà trí thức, những
văn hào trứ danh, những
diễn giả, những chuyên viên y khoa,
triết gia,
tâm lý gia, kinh
tế gia,
luật sư và kỹ sư v.v... Dầu có đầy đủ những điều ấy,
thế gian vẫn còn thiếu hòa bình, thiếu
tinh thần hòa hợp, đoàn kết và thiếu
tinh thần tương quan
trách nhiệm.
Như
Đức Phật dạy:
"Hãy nhìn vào bên trong chúng ta." Tất cả những
phương tiện cứu chữa phải
xuất phát từ
đáy lòng.
Chúng ta phải
thiết lập trạng thái thanh bình an lạc trong tâm của chính ta, trước khi
quảng bá bức
thông điệp hòa bình đến kẻ khác và đến
thế gian.
Điều mà ta cần làm ngày nay là tạo một
chuyển biến trong tâm
con người, hơn là thay đổi môi
trường sinh sống.
Bởi vì chiến tranh bắt đầu từ trong tâm
con người, bởi vì
xung đột là
nguyên nhân của chiến tranh, trong cuộc mưu tìm hòa bình, ta phải
dẹp bỏ những
nguyên nhân xung đột. Lời mở đầu của
Hiến Chương UNESCO nhắc nhở
chúng ta rằng "Công cuộc phòng thủ hòa bình phải được
xây dựng chính trong tâm của
con người."
Trước đây hai mươi lăm thế kỷ,
Đức Phật cũng
tuyên ngôn tương tợ. Ngài còn đi
xa hơn thế nhiều; Ngài
tuyên bố rằng tất cả mọi sự vật, tốt hay xấu, đều
xuất phát từ nơi tâm.
Đức Phật nói:
"Ta phải thường suy niệm về tâm mình như thế này: 'Từ lâu rồi tâm này bị tham, sân và si làm ô nhiễm. Ô nhiễm tinh thần làm cho chúng sanh bợn nhơ, thanh lọc tinh thần làm chúng sanh trong sạch ...'"Chỉ
quảng cáo suông bên ngoài và chỉ dùng những khẩu hiệu, không thể
giải quyết vấn đề khẩn thiết của chiến tranh, vì
nguyên nhân của nó nằm trong tâm. Mỗi người có một người
tốt hơn nằm bên trong mình.
Nếu chỉ có
tình thương và tâm
hiểu biết lẫn nhau nhịp nhảy
xuyên qua giáo huấn mà bậc
Toàn Giác của tất cả
thời đại làm
quy tắc hướng đạo cho hành động của
con người,
chúng ta sẽ khỏi phải sống trong bầu không khí
ngờ vực,
ganh tỵ,
kiêu căng,
tham lam,
sân hận và
si mê, đã làm cho
thế gian ngày càng là một trại tù binh và dẫn đắt
chúng ta một cách
vững chắc đến bờ vực Armageddon.
Hạnh phúc thật sự
đồng nghĩa với hoà bình thật sự. Không thể có
hạnh phúc mà không có hòa bình.
Mục đích của
Giáo Pháp là hòa bình, và trên tất cả,
Giáo Pháp là
con đường dẫn đến hòa bình. Hãy
thành thật và thật
sự cố gắng để
nới rộng hòa bình, tình đoàn kết và tình
huynh đệ giữa
con người bằng
Giáo Pháp, và
dẹp bỏ mọi
căng thẳng dưới
danh nghĩa tôn giáo,
giai cấp, màu da, và những
thành phần chia rẽ và
bất hòa khác.
Khi nói đến hòa bình
thế giới, các vị
đại diện của những
tôn giáo khác nhau đều có một
vai trò quan trọng và mang nhiều
ý nghĩa.
Chúng ta hãy bắt đầu
phong trào hòa bình này trong
quốc gia của mình bằng cách
thuyết giảng và viết bài về đề tài hòa bình. Cũng phải đi từ làng này qua làng khác và thị trấn nọ đến thành phố kia, nói chuyện với dân chúng về những phước lành của
tình trạng đoàn kết và hòa bình và giảng dạy, làm cho họ
thức tỉnh và
hoan hỷ, như
Đức Phật ở
Ấn Độ, hơn 2,500 năm về trước.
Các
quốc gia phải
hoạt động để được
an lành và phát triển, nhưng
cùng lúc phải
ghi nhận, không nên bỏ lơ
mục tiêu rộng rãi hơn là hòa bình và
an ninh của
toàn thể thế gian. Tất cả mọi
quốc gia, dầu là đệ tam hay gì khác, đều cần được hòa bình; bởi vì không có hòa bình sẽ không có
tiến bộ, phát triển,
hòa hợp,
trong đời sống dân chúng. Khi có hòa
bình dân chúng có thể
hoạt động với lòng tự tin, và tự tin là nền tảng để phát triển.
Hai mươi ba thế kỷ về trước,
Hoàng Đế Asoka (A Dục) có cho ghi tạc trên đá:
"Samà vàyo eva sàdhu -- Hòa thuận, quả thật vậy, đáng được tán dương." Đại Đế Asoka bước
theo dấu chân của
Đức Bổn Sư, người đã từng nói:
"Samaggà hotha mà vivadatha -- Hãy đoàn kết, không nên cãi lẫy ồn ào." Đây là những
tuyên ngôn tích cực mà ngày nay
chúng ta cần hơn bao giờ hết; bởi vì
chúng ta đang sống trong một
thời kỳ xung đột và chiến tranh, thù hận và bạo tàn, cùng khắp
thế gian. Không bao giờ trước đây
chúng ta cần hơn và tất cả
chúng ta phải nhớ
thông điệp khuyến thiện cao cả
tuyệt luân của Đức Sakyamuni Buddha (
Đức Phật Thích Ca) và Asoka.
Hôm nay
chúng ta nói về hòa bình. Đúng vậy, hòa bình là quyền của
chúng ta từ lúc mới sanh, và
chúng ta phải đạt cho kỳ được, hòa bình căn cứ trên
chân lý,
từ bi,
công lý và
tự do. Nếu người ta công bình và ngay thẳng,
gìn giữ lương tri và đương đầu với
thời cuộc, dây
thân ái và sự
thông cảm lẫn nhau giữa những
quốc gia,
chủng tộc,
cộng đồng và
tôn giáo khác nhau sẽ được
tăng cường vững chắc.
Những nguyên tắc:
quốc gia này không nên
xen vào nội bộ của
quốc gia khác và mỗi
quốc gia đều được
độc lập về mặt
chánh trị, là
điều kiện tất yếu để sống chung hòa bình. Tỉ mỉ
tôn trọng tình trạng lãnh thổ nguyên vẹn và quyền
tối thượng của một xứ, không
xâm phạm nhau,
bình đẳng, không chạm đến
quyền lợi của nhau, và sống chung hòa bình,
hòa hợp, trong
thế gian, là những điều mà sẽ không có ai phủ nhận
giá trị của nó.
Tình thương không nằm trên sự gây gổ
tranh chấp mà trên
thiện cảm nể trọng nhau. Nguyên tắc
tình thương phải được thấu rõ và áp đặt trong mọi
lãnh vực hoạt động của
con người để
tăng trưởng hạnh phúc nhân loại và làm
tốt đẹp hơn lối
cư xử trong
xã hội. Hòa bình không phải là một
lời nói tiêu cực. Nó là cái gì thật sự rất
tích cực. Nó
bao gồm sự
hiểu biết,
thông cảm lẫn nhau, chung cùng
hợp tác với nhau và
tình thương. Trong không khí tương tợ chỉ có hoà bình thật sự khởi sanh. Hoà bình phải được
thành đạt bằng cách nhiệt thành và
thành thật tranh đấu. Không thể bằng cách chỉ nói suông. Ta phải suy tư hòa bình, nói hoà bình và hành động hoà bình.
Ý niệm chánh nằm phía sau tất cả những tổ chức
yêu chuộng hòa bình như
Liên Hiệp Quốc là tất cả
mọi người là
anh chị em. Nếu đúng thật là vậy, tại sao
sát hại lẫn nhau,
hận thù lẫn nhau, chụp giựt lãnh thổ của nhau và bắt người ta làm
nô lệ cho mình? Tại sao có thể cướp đoạt ưu quyền mà người ta đã có từ lúc mới ra đời? Ngày nay không có ai
độc lập, không
quốc gia nào thật sự là
độc lập.
Chúng ta phải
tùy thuộc nơi những
quốc gia khác để có những gì
cần thiết cho
đời sống, những nhu cầu
căn bản như vật thực, quần áo, chỗ ở và thuốc men. Những
phương tiện truyền thông và giao dịch đã
thành tựu nhiều kết quả
kinh ngạc.
Ấn loát, truyền thanh, truyền hình,
giáo dục hiện đại v.v... đã đem
chúng ta xích lại gần
với nhau hơn. Giao thông cho
chúng ta cảm tưởng rằng
toàn thể thế gian là một, và
chúng ta là
một thế gian.
Một
yếu tố góp phần
trọng đại cho việc
nới rộng hòa bình trong
xã hội là
chánh ngữ,
lời nói chân chánh. Có câu
tục ngữ: "Lời nói đã thốt ra, mũi tên đã bắn đi và cơ hội đã mất, không bao giờ có thể thâu hồi."
Lời nói là một thiên tánh có nhiều
giá trị quý báu bởi vì
xuyên qua lời nói chúng ta có thể
diễn đạt tư tưởng và quan kiến để chia sẻ với người khác. Nhưng nếu cái lưỡi, vốn không xương và mềm mại dễ uốn, không được khép vào khuôn khổ
kỷ cương, ắt có thể gây nhiều
tai hại. Có
phải chăng nó là
nguyên nhân gây nhiều cãi vã,
tranh chấp và
xáo trộn phiền lụy giữa những
gia đình và chiến tranh giữa các quốc gia? Nếu
con người có thể chỉ
thuần hóa cái lưỡi của mình, có phải
thế gian sẽ là một nơi
tốt đẹp hơn để sống không?
Như vậy người hành theo
Con Đường Chân Chánh "suy
niệm tâm từ, suy
niệm tâm bi, suy
niệm tâm hỷ, và suy
niệm tâm xả, ban rải theo một chiều hướng; cùng thế ấy rải về một hướng thứ nhì; hướng thứ ba; hướng thứ tư; rồi bên trên và phía dưói; người ấy
thấm nhuần toàn thể thế gian,
mọi nơi và
đồng đều,
bình đẳng,
chân thành và tận tình, với
tâm từ,
tâm bi,
tâm hỷ và tâm xả,
thâm sâu, rộng lớn,
vô lượng,
hoàn toàn không
ẩn ý bất
thân thiện và
phiền muộn."
Nếu ta có thể phát triển những phẩm hạnh
đạo đức ấy, chí đến những ngôi sao sáng chói cũng không thể hơn ta.
Hòa Bình Bằng Ngũ GiớiĐứng về
quan điểm của người
Phật tử, có một
phương cách khác để tạo hòa bình là
giữ gìn năm giới. Là
Phật tử hay không phải
Phật tử, bất luận ai nghiêm trì
năm giới tối thiểu (pancasìla --
kiêng cữ sát sanh,
trộm cắp,
tà hạnh,
vọng ngữ và dùng chất say) sẽ đem lại hòa bình và
hòa hợp bất cứ ở đâu. Người ta không lo sợ hay
hoài nghi người
thọ trì và
thực hành năm giới; bởi vì những người ấy không
sát sanh, không
trộm cắp, không
tà dâm, không
nói dối và không say sưa, mà là những người có
lòng tốt,
cố gắng mở rộng hòa bình,
hòa hợp, tình
huynh đệ và đoàn kết. Giờ đây ta hãy
xem qua năm giới.
Lòng rộng rãi bố thí không phải chỉ đối với
chúng sanh trong
cảnh người. Những người bạn
đồng hành câm điếc và buồn thảm của
chúng ta trong
cảnh thú cũng phải được tâm
quảng đại của
chúng ta nghĩ đến. Tất cả những ai có thể
thừa hưởng lợi ích của tâm
bố thí phải được chia sẻ.
Dầu sao những quà tặng
vật chất và những
lễ vật để bát,
trai tăng chỉ đem lại chút ít
phước báo. Nhưng người trau giồi phẩm hạnh là phước lành cho tất cả
chúng sanh. Người ấy
bố thí cho tất cả
chúng sanh tình trạng không lo sợ, do
đức hạnh trong sạch vô nhiễm của mình.
Do đó
Đức Bổn Sư dạy:
"Nơi đây, này chư tỳ khưu, một
đệ tử từ bỏ sát sanh là
kiêng cữ trong
vấn đề sát sanh ...
từ bỏ trộm cắp là
kiêng cữ trong
vấn đề trộm cắp ...
từ bỏ tà hạnh là
kiêng cữ trong
vấn đề tà hạnh ...
từ bỏ nói dối là
kiêng cữ trong
vấn đề ăn nói
giả dối ...
từ bỏ uống rượu mạnh là
kiêng cữ trong
vấn đề rượu chè, và như thế ấy ban bố cho những
chúng sanh khác quà tặng
an ninh, không thù hận, và không gây
tổn hại. Loại
tâm tánh mà đem lại
hạnh phúc và
thoải mái tâm hồn, không bao giờ có chỗ trống để
tình trạng ăn năn hối hận phát khởi, dẫn đến
tái sanh tốt đẹp và là nền tảng cho một kiếp sống tốt, nơi đây và trong
hiện tại, (loại
tâm tánh như vậy) được gọi là
đức hạnh."
1. Sát SanhKiêng cữ không
sát hại chúng sanh khác vì
hiểu biết rằng chính ta
quý trọng đời sống của ta đến mức nào, và suy bụng ta để hiểu rằng cũng dường thế ấy, người khác cũng quý mạng sống của họ ra sao. Tất cả
hạnh phúc của
con người trên
thế gian đều
tùy thuộc vào
đời sống. Như vậy, đoạt mất của người cái mà chứa đựng tất cả những gì
tốt đẹp nhất của họ,
quả thật là hung bạo và nhẩn tâm đến mức cùng cực. Do đó ta hiểu tại sao người
tiêu diệt mạng sống người khác chuốc lấy cho mình lòng thù hận và
ác ý của người mình sát hại? Nhưng người
giới đức trong sạch,
kiêng cữ không
sát hại chúng sanh, luôn luôn
bảo vệ sanh linh, người biếu món quà
an ninh cho
chúng sanh khác, cũng tựa hồ như cội cây
vững chắc, làm nơi
ẩn náu và che mát cho người, cho chim chóc và
thú vật, với tàng lá sum sê và bóng lớn
mát mẻ của mình.
Mặc dầu cuộc sống của họ đầy hiểm nguy và chết chóc và phải đương đầu với bao nhiêu khủng khiếp
kinh hoàng, họ vẫn
vững chắc quyết định cứu nguy cho tất cả những
sanh linh hữu
tri hữu giác.
2. Trộm cắpNhững vật thuộc
sở hữu của người khác, những vật mà người khác làm chủ, người
đi theo con đường của
Giáo Pháp (Dhamma) không bao giờ
lầm lạc lấy làm của mình.
Sai lạc lấy của người, bằng bạo lực,
cưỡng bách hay lường gạt, là
trái với mọi
tiêu chuẩn phẩm hạnh
đoan trang thanh nhã và hợp với
lễ nghi. Sách của người
thời xưa có ghi:
"Sai lạc lấy của người khác
trở thành nguyên nhân mất mát cho chính mình." Và lại nữa: "Cạm bẩy của
tử thần không có cái nào tệ hại bằng
trộm cắp." Bởi vì người
trộm cắp và cướp giựt kẻ khác sẽ bị vua
trừng phạt và dân chúng nhục mạ, phải chịu
đau đớn và
khổ tâm vô cùng tận. Do đó phải tránh hành động
tội lỗi,
sai lạc lấy vật
sở hữu của người khác cũng như ta tránh
độc dược, tránh lửa và
rắn độc đáng sợ. Người nghiêm
trì giới trộm cắp được
an lành, bên trong và bên ngoài. Người ấy sống
hạnh phúc, cho người khác
hạnh phúc và sẽ nhắm mắt ra đi
an lành.
3. Tà HạnhNgười
trong sạch giữ giới tà hạnh được phước lành là tâm bao giờ cũng
thanh bình an lạc và tĩnh lặng, thân luôn luôn khỏe mạnh và có nhiều
nghị lực. Người ấy mạnh mẽ thăng tiến trên đường đời và trong những
trạng thái tâm cao quý.
Người sống
thanh bạch trinh khiết được sắc đẹp,
sức mạnh,
Được bậc
thiện trí tán dương, và
vui vẻ khỏe mạnh;
Tâm của người ấy
trong sáng và
thích hợp để đi
Trên
Con Đường đến
Chân Lý; và người ấy
kết hợpVới
tư tưởng cao quý, hành động
hiền hòa,
Và
lời nói trong sạch; người ấy gieo hột giống
Hiếm có của
đức hạnh; làm cho tất cả sinh sôi
nảy nở,
Và trổ hoa. Rồi quả lành sẽ
phong phú dồi dào.
Nhưng số phận của người sống
tà hạnh quả thật buồn thảm. Họ làm nhơ đụt luồng tâm của họ và của người khác.
4. Nói DốiChân lý là tiếng nói của
nội tâm trong sạch. Người
giữ giới nói dối có
uy tín, được nhiều người
tin cậy, và được những người
quen biết kỉnh mộ. Đây là
giới đức mà chư vị
Bồ Tát, những người đang tìm
trạng thái giác ngộ tuyệt đối,
đặc biệt chú trọng
thực hành. Các Ngài không bao giờ thốt ra một lời
không thật, trong bất luận
trường hợp nào. Người
nói thật không sợ hải và run rẩy giữa đám đông. Người ấy luôn luôn
can đảm và cương nghị, và dầu phải đương đầu với những
hành vi thù nghịch nhất cũng không lay chuyển. Người ấy cứng cỏi với
sức mạnh của một chủ nhân
phi thường trang bị đầy đủ, bởi vì tâm của người ấy
thanh khiết như
thủy tinh,
trong trẻo và không mang một đớm nhơ. Người ấy luôn luôn
vui vẻ và
hiền hòa,
lễ độ và ưa giúp người, tự chế và
kiên nhẫn, có
lời nói làm cho người nghe
thỏa thích và tĩnh lặng với sự hùng biện của
sự thật,
hồn nhiên, không
cố gắng. Người như thế ấy có thể nói:
Tâm ta
trong sạch vì tất cả mọi suy tư đều là
sự thật;
Ý ta
thanh tịnh sáng ngời; không
ẩn ý giả dối.
Lời nói ta
tinh khiết, không có gì làm bợn nhơ,
Một sự
trôi chảy dịu dàng như chất dầu
trong suốt.
Người
nói dối ở đâu cũng bị
nghi ngờ. Người nói lời
giả dối mà không biết
hổ thẹn không có
đức hạnh trong tâm. Không có điều
sai lầm nào mà người
cố tình nói dối không thể làm. Sách nói như vậy.
Nếu người đã chọn
lối sống không nhà cửa của bậc
xuất gia mà
nói dối, do chính sự thốt ra lời
giả dối ấy tự nó, đã làm cho đời
tu sĩ rỗng không.
"Rỗng không này Ràhula, đời sống của nhà sư mà không biết hổ thẹn, nói lời giả dối," Đức bổn Sư nói như vậy để khuyến dạy sa di Ràhula về tầm quan trọng của lời nói thật trong đời sống thánh thiện (Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 61).Hơn nữa, người
nói dối sẽ mang nghiệp xấu trong tương lai. Người ấy
trở thành khờ dại,
ngu si, bị người ghê tởm
lánh xa và
lời nói mất hết
năng lực.
5. Chất SayTa
kiêng cữ, không dùng những chất say để giữ cho tâm khỏi bị
loạn động. Rượu mạnh và
ma túy hủy hoại lối suy tư chân chánh, tức có những
ý tưởng không-sân hận, không-hung bạo, và
ý nghĩ từ khước. Người say sưa nóng giận, hung dữ, không tỉnh trí.
Vì lẽ ấy những ai bước
theo dấu chân của
Đức Phật, đã biết rõ những tệ hại của lối suy tư
lầm lạc trong lúc say sưa, không để cho
tâm trí bị
ô nhiễm vì chất độc của rượu, vốn có khả năng đốt cháy
năng lực mầm mống của những
hạt giống tốt trong tâm.
Về những tệ hại của
thói quen say sưa, Àryasùra, trong Jàtakamàla nói:
"Ôi, vị chúa tể của loài người, tại sao Ngài có thể Say sưa, làm cho những đức tánh tốt đẹp tan vỡ,Những gì có giá trị đều chết, tàn phá thanh danh,Làm mờ nhãn quan, và đẩy lui mọi hổ thẹn?"* * *
Đó là kho tàng phẩm hạnh mà người muốn được
hạnh phúc phải
tăng trưởng và
bảo vệ. Đó là những
phương tiện thích nghi để
thành đạt tất cả những gì
tốt đẹp trong hiện đời và
mai sau.
Tất cả những gì quý giá trong
nội tâm đều bắt nguồn từ
giới hạnh. Cũng như trong một hầm mỏ
phong phú có
vô số kể những
kim cương và
châu báu, cùng thế ấy,
đức hạnh cho người
giới đức những
thích thú vô cùng tận.
Đức hạnh là vùng đất mà từ đó ta có thể bay vọt lên các tầng cao của
trạng thái tuyệt đối thánh thiện.
Đức hạnh là
khí giới mầu nhiệm mà ta dùng để
tiêu diệt dục vọng, là áo giáp để chống đở và đánh bại những cơn bão táp của Màra (
Ma Vương,
tử thần).
Đức hạnh làm cho
đời sống vui tươi, đượm nhuần
năng lực sáng tạo, sanh khí, và
trạng thái mát mẻ dễ chịu.
Đức hạnh cũng giống như đám mưa
mát mẻ,
trong sạch, làm cho cây cối xanh tươi.
Người có
đức hạnh thành đạt trạng thái vinh quang rực rỡ của người
danh thơm tiếng tốt, nhiều
tiền của và được
tôn trọng.
Con người đức hạnh luôn luôn chú niệm và
giác tỉnh. Đến lúc
lâm chung người ấy không suy tư
rối loạn mà
vắng lặng và
trầm tĩnh.
Vì những phước lành kể trên cùng đi chung với
đức hạnh, ta dưỡng nuôi,
giữ gìn và
bảo vệ đức hạnh với lòng nhiệt thành của bà
từ mẫu hết tình đùm bọc đứa con
duy nhất, (
như bảo bọc) con ngươi của bà.
Đức hạnh cho ta
tình trạng không sợ sệt,
an ninh,
thanh bình và
tâm bi mẫn đối với tất cả
chúng sanh.
Khái niệm Từ và Bi (mettà và karunà) của người
Phật tử không có
giới hạn. Theo
nhân sinh quan của người
Phật tử, không có
chúng sanh nào được xem là ở ngoài vòng của
tâm từ (mettà) và
tâm bi (karunà). Hai phẩm hạnh từ và bi này không có sự
phân biệt giữa người cao hay thấp, giàu hay nghèo, mạnh hay yếu,
minh mẫn hay
tối tăm, đen hay trắng, bà-la-môn hay chăn-đà-la, hay
Thiên Chúa Giáo,
Ấn Độ Giáo,
Hồi Giáo,
Do Thái Giáo,
Phật Giáo v.v... Mettà và Karunà, Từ và Bi, là
vô lượng vô biên và khi mà ta
cố gắng sắp xếp người này
phân biệt với người khác theo lối sắp xếp giả tạo kể trên, thì tức khắc
cảm giác phân chia nhảy sổ vào và những đức tính
vô lượng vô biên trở thành có
giới hạn -- trái nghịch với
lý tưởng cao siêu của những
đức hạnh này.
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY, ĐẠI THỪA, VÀ ZEN
Hai sắc thái quan trọng của
Phật Giáo phổ cập ngày nay là
Phật Giáo Đại Thừa và
Phật Giáo Zen.
Tuy nhiên, vào lúc
ban sơ, không có
giáo lý nào là Theravàda (
Nguyên Thủy) và Mahàyàna (
Đại Thừa). Những gì
Đức Phật dạy được gọi là
Giáo Pháp và
Giới Luật (Dhamma-Vinaya). Ba tháng sau khi
Đức Phật nhập diệt, những vị
đệ tử kế cận của Ngài
triệu tập một
Hội Nghị để đọc lại Dhamma (
Giáo Pháp) và Vinaya (
Giới Luật).
Đại Đức Ànanda, vị
thị giả của
Đức Phật trong hai mươi lăm năm, đọc lại Dhamma (
Giáo Pháp);
Đại Đức Upali đọc lại Vinaya (
Giới Luật).
Trong
Hội Nghị này, những đoạn của Dhamma (
Giáo Pháp) được
chỉ định cho các vị
Trưởng Lão (Theras) và chư
môn đệ của những vị này
học thuộc lòng. Như vậy Dhamma (
Giáo Pháp) được
truyền khẩu từ thầy sang trò. Không thêm, không bớt, trong kỳ
Hội Nghị này.
Một trăm năm sau khi
Đức Phật nhập diệt, một cuộc
Hội Nghị Thứ Nhì được
triệu tập và chỉ có vài
vấn đề liên quan đến Vinaya (Giới) được
thảo luận, không có Dhamma (
Giáo Pháp). Tại kỳ
Hội Nghị Thứ Nhì này vài
nhà sư "cấp tiến" có chiều hướng muốn thay đổi vài giới
phụ thuộc.
Tuy nhiên, những vị có khuynh hướng
chính thống không
đồng ý và nói rằng không nên thay đổi điểm nào. Do đó một nhóm các
nhà sư rời
Hội Nghị và
thành lập Mahàsanghika -- Đại
Cộng Đồng.
Vào thế kỷ thứ ba trước D.L. dưới
triều đại Hoàng Đế Asoka (A Dục), một cuộc
Hội Nghị Thứ Ba được
triệu tập để
thảo luận và đọc lại cả hai, Dhamma (
Giáo Pháp) và Vinaya (
Giới Luật).
Giáo Huấn mà được
Hội Nghị này
thừa nhận và
chấp thuận được gọi là Theravàda --
Giáo Huấn của những vị
Trưởng Lão. Sau kỳ
Hội Nghị Thứ Ba này, con của
Hoàng Đế Asoka, vị
A La Hán Maha Mahinda đến Sri Lanka (
Tích Lan), có
đem theo Tipitka,
Tam Tạng kinh điển, và những
chú giải được đọc lại trong
Hội Nghị Thứ Ba.
Kinh điển này được viết bằng tiếng Màgadhi (Pàli),
ngôn ngữ mà
Đức Phật nói. Chí đến lúc bấy giờ, không có nơi nào nhắc đến Mahàyàna (
Đại Thừa).
Lần đầu tiên mà hai danh từ Mahàyàna và Hinayàna được đề cập đến là trong kinh Saddharma- pundarìka Sutra (
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) --
trong khoảng thế kỷ thứ
nhất trước D.L.và thế kỷ thứ nhất sau D.L.. Nhưng những
yànas (thừa) ấy không thấy ở đâu trong
Kinh Điển Pali, Tipitaka, hay trong
văn học Pali. Cũng không thấy niên sử Dìpavamsa và Mahàvamsa, của Sri Lanka đề cập đến.
Danh từ Mahàyàna
rõ ràng được định nghĩa và được chọn vào khoản thế kỷ thứ hai, và Ngài Nàgarjuna (
Long Thọ), nhà
truyền bá Mahàyàna (
Đại Thừa) rất quan trọng, khai triển
triết học Đại Thừa,
nhấn mạnh về tầm quan trọng của thuyết Sùnyatà -- tất cả mọi sự vật đều rỗng không. (Xem Màdhyamikakàrikà,
Trung Quán Luận, của Ngài). Về sau có các Ngài Asanga, Vasubhandhu, Dharmakirti, Àryadeva, Dinnàga v.v... những vị mạnh mẽ
ủng hộ Mahàyàna (
Đại Thừa Phật Giáo) và
văn học Mahàyàna. Như vậy, vào lối 700 năm sau khi
Đức Phật nhập diệt, hai danh từ Mahàyàna (
Đại Thừa) và Hinàyàna (
Tiểu Thừa) mới
xuất hiện.
Những người kém
hiểu biết xem Theravàda (
Nguyên Thủy), hiện
tồn tại ở Sri Lanka (
Tích Lan), Burma (Miến Điện), Thailand (Thái Lan), Campuchia (Cam Bốt), Laos (Lao) và Bangladesh, là Hinàyàna (
Tiểu Thừa). Họ không hiểu họ đang nói gì. Khi
Phật Giáo du nhập vào Sri Lanka vào thế kỷ thứ ba trước D.L., do
Đại Đức Mahinda đem sang, thì không có "
yàna", hay "
thừa" nào cả. Phái Hinàyàna (
Tiểu Thừa) được khai triển tại
Ấn Độ, không có chi
liên hệ đến
Phật Giáo Theravàda (
Nguyên Thủy). Theravàda không
liên can đến trường phái Mahàyàna (
Đại Thừa), cũng không
liên can đến trường phái Hinàyàna (
Tiểu Thừa). Theravàda
tồn tại độc lập với cả hai yàna (thừa).
Vào năm 1950, khi hội
Phật Giáo thế giới World Fellowship of Buddhists (WFB) được khai mạc tại Colombo, Sri Lanka, các thành viên từ cả
Tây Phương lẫn
Đông Phương đều
đồng thanh quyết định bôi bỏ danh từ "Hinàyàna" được dùng với ý khinh rẻ, khi đề cập đến
Phật Giáo Theravàda (
Nguyên Thủy)
hiện có ngày nay.
Như vậy trong
hiện tại không có phái Hinàyàna bất cứ ở đâu trên
thế gian. Danh từ đã
bị loại bỏ.
Mahàyàna (
Đại Thừa) và Theravàda (
Nguyên Thủy) là hai trường phái
Phật Giáo lớn trong
thế gian ngày nay. Mahàyàna được
truyền bá sang vùng Viễn Đông -
Trung Quốc, Nhật Bổn, Korea (
Triều Tiên), Tibet (
Tây Tạng) và Mongolia (
Mông Cổ). Theravàda được
truyền bá sang vùng Nam Á -- Sri Lanka, Burma, Thailand, Campuchia, Laos, Bangladesh và một vài phần ở Malaysia (Mã Lai), India (
Ấn Độ) và Indonesia (Nam Dương). Ngày nay cả hai, Mahàyàna và Theravàda đều
du nhập vào tận những nơi xa xôi của
quả địa cầu. Nhiều
quốc gia Tây Phương đã
thành lập một
Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo trong xứ mình, có thể được thêm vào danh sách.
Giáo lý của hai trường phái, Mahàyàna và Theravàda, gần giống như nhau. Cả hai đều bước
theo dấu chân của Đức Sakyamuni Gotama (
Thích Ca Mâu Ni Cồ Đàm), và xem Ngài là
giáo chủ.
Tứ Diệu Đế, phần
tinh túy của
Phật Giáo, pháp
tùy thuộc phát sanh (paticca-samuppàda), hay
thập nhị nhân duyên, ba đặc tướng của
đời sống (anicca, dukkha, anattà -
vô thường, khổ,
vô ngã),
Bát Chánh Đạo, vốn là
pháp hành của
Phật Giáo,
đời sống trước khi sanh và
sau khi chết, và
Niết Bàn,
mục tiêu cứu cánh của
Phật Giáo, đều y hệt như nhau.
Vài người tưởng rằng
lý tưởng của
Bồ Tát, hay
Bồ Tát Đạo, chỉ được đề cập đến trong Mahàyàna, và Theravàda chỉ nói đến
Đạo Quả A La Hán, một sự
thành tựu cá nhân, và như vậy là
ích kỷ.
Tuy nhiên, người
học đạo Phật một cách
thận trọng và không
thiên vị sẽ thấy
lý tưởng của
Bồ Tát trong
văn học Theravàda.
Hệ thống tư tưởng Theravàda (
Nguyên Thủy) không phủ nhận
lý tưởng của
Bồ Tát, nhằm
trở thành Phật để
cứu độ kẻ khác ra khỏi samsara (vòng
luân hồi), hay những kiếp
sinh tồn triền miên tiếp diễn.
Tuy nhiên không có những
giới luật nghiêm khắc buộc tất cả đều phải
thành Phật. Ta có quyền
lựa chọn con đường giải thoát cho chính mình tùy khuynh hướng và nguyện vọng của mình. Nếu muốn
trở thành Phật, ta sẽ phải trau giồi đầy đủ các Ba-la-mật [*] (pàramità), hay phẩm hạnh
tuyệt hảo, những
đức hạnh dẫn đến
Đạo Quả Phật (xem Chương 1, ghi chú về "Bồ Tát"). Những ai
mãn nguyện với
lý tưởng A La Hán có thể theo
con đường của mình, cũng
thực hành các pháp paramitàs. Không có gì bắt buộc.
Truyền thống Mahàyàna (
Đại Thừa) dạy rằng tất cả những ai theo
Đại Thừa đều chuẩn bị để
trở thành Phật nhằm
cứu độ chúng sanh,
vấn đề là ai sẽ
cứu độ ai, vì tất cả là Phật.
[*] Quý vị
lưu tâm đến
vấn đề này có thể đọc bài viết có rất nhiều
tài liệu về "Theravàda-Mahàyana and the Bodhisatva Ideal in Buddhism," do
tác giả Dr. Walpola Rahula Thera, Buddhist Missionary Society, Kuala Lumpur.
Phật Giáo Zen
Cả hai,
Phật Giáo Mahàyàna và Theravàda đều bắt nguồn từ
Ấn Độ, nơi phát nguyên
tư tưởng và
triết học Đông Phương. Một cách
gián tiếp,
Phật Giáo Zen cũng bắt nguồn từ
Ấn Độ. Đức Bodhidharma (
Bồ Đề Đạt Ma) là một
nhà sư Phật Giáo từ
Ấn Độ đến
Trung Quốc vào thế kỷ thứ sáu. Ngài là con thứ ba của một vì vua
Bà La Môn ở Nam Phần
Ấn Độ. Ngài là một
học giả uyên thâm và
trí tuệ sâu sắc, có một sự thúc giục mạnh mẽ khiến ra đi,
truyền bá những lời dạy của
Đức Phật ở các lãnh thổ xa xôi. Do vậy, Ngài cổi bỏ
y phục của người
cư sĩ và mặc vào
áo tràng của
nhà sư Phật Giáo. Ngài đã có hành thiền và đã trau giồi và
thành đạt tâm
vắng lặng. Đức Bodhidharma rời
quê nhà, vượt trùng dương và những vùng đất rộng, đến
Trung Quốc. Ngài để lại cho đàn hậu tấn nhiều sách vở và nhiều lời dạy.
Nguồn Gốc Của Danh Từ ZenTrong
Phật Giáo có một danh từ rất quan trọng
liên quan đến pháp hành thiền (bhàvanà). Đó là danh từ
Jhànatrong tiếng Pali, dhyàna trong Sanskrit. Bỏ âm sau cùng, "
a", còn lại
jhan, được phiên âm sang tiếng Trung Hoa là
chan. Chí
đến nay người Trung Hoa dùng danh từ
chan để nói thiền
samàdhi, định. Nhân vật đầu tiên đem chan từ
Trung Quốc sang Nhật Bổn là
Dosho. Khi
pháp hành chan du nhập vào
Nhật Bản, vào thế kỷ thứ mười hai, thì danh từ chan
trở thành zen trong tiếng Nhật.
Jhàna có nghĩa là
tâm an trụ trọn vẹn và
thâm sâu vào
đề mục, hay
tâm định vững chắc dẫn đến
minh sát (vipassana).
Chính tâm an trụ hay định thấy sự vật
như thật sự sự vật là vậy, trong bối cảnh
thích nghi.
Như vậy,
lẽ dĩ nhiên Zen là thiền -- trực tiếp nhìn ngay vào
bản chất của chính mình, hay ngộ (
Satori trong tiếng Nhật,
Wu trong tiếng Trung Hoa).
Pháp hành Zen bắt đầu với nguyện vọng
thành đạt giác ngộ. ở Nhật, thiền Zen rất
sống động và
rõ ràng là một phần của cuộc sống
hằng ngày.
Phật Giáo Zen đã
trở thành phổ cập ở
Tây Phương và người Phương Tây rất ham mộ
sùng kính.
Pháp hành thiền của
Phật Giáo là một lối
thực hành của
thời đại chúng ta, khi mà
con người mãi
lúng túng rối ren với những
cảm giác bất an toàn mạnh mẽ trong
xã hội vật chất hiện đại.
Mặc dầu Zen không phải là một
hệ thống căn cứ trên luận lý và
phân tách, có thể có một
yếu tố trí thức trong Zen. Zen
xác nhận sự
chứng nghiệm thực tại một cách trực tiếp. Đây không phải là
tiêu cực suông hay chỉ là "không không" suông dẫn đến cái gọi là tâm "rỗng không".
Một lần nọ Wu, vị
Hoàng Đế đầu tiên của triều nhà Liang (trị vì từ năm 502 đến 549) hỏi Ngài Bodhidharma, Tổ Thứ Nhất của phái Zen ở
Trung Quốc, về
mục tiêu cùng tột và
thánh thiện cao cả nhất của
Phật Giáo. Vị
hiền triết được tường thuật là đã
trả lời: "Sự rỗng không
mênh mông và không có chi là
thánh thiện cao cả trong đó." Cái không (sùnyatà) là một
giáo lý thâm sâu của
Đức Phật, và
giáo huấn sùnyatà,
hư không hay rỗng không, của Ngài Nàgarjuna (
Long Thọ) căn cứ trên
giáo lý Theravàda (
Nguyên Thủy). Đây là lời của
Đức Phật (Sutta Nipàta 1119, kinh Mogharàja Sutta. XChương 8)
"Này Mogharàja, hãy luôn luôn giữ chánh niệm, Hãy nhìn thế gian là rỗng không (sunna).Thỉnh thoảng Zen có thể hình như quá
bí ẩn, quá
huyền diệu để có thể hiểu, và đầy mâu thuẩn, nhưng nghĩ cho cùng, đây là một
giáo lý và một
kỷ cương đơn giản. Zen nhằm đến
mục tiêu tự mình
giác ngộ và giúp cho kẻ khác cũng
giác ngộ như mình.
Trong Zen có những lời "cầu nguyện" nhưng đó là nói lên những nguyện vọng của mình (patthanà hay pràrthanà):
1. Dầu
chúng sanh vô số kể, tôi
cầu xin cho tất cả đều được
cứu độ.
2. Dầu khát vọng
vô cùng tận, tôi
cầu xin cho tất cả đều tận diệt.
3. Dầu
Giáo Pháp vô lượng, tôi
cầu xin học được tất cả.
4. Dầu
Phật Đạo tối thượng tối cao, tôi
cầu xin có ngày
thành tựu.
Vài Danh Từ Phật Giáo Zeni. Ngồi tréo chân trong thế "định", tiếng Nhật là
zazen. Trung Hoa là tso-chan theo đúng nghĩa từ chữ là "ngồi dhyàna" hay "ngồi Zen".
ii. Ngộ (
satori, tiếng Nhật, và wu là tiếng Trung Hoa), không phải là đắc thiền, trong
trạng thái không hay biết gì cả, cũng không phải một
trạng thái tâm lạ thường.
iii.
Koan là một loại
vấn đề mà vị
thiền sư đặt ra để
thiền sinh giải quyết.
iv.
Kyosaku là đập với một
thiền trượng để giúp
Zen (thiền) được
chứng nghiệm thâm sâu hơn.
v.
Zendo,
thiền đường.
Đại hạnh, pàramità (pàrami,
Ba la mật) của
Bồ Tát hay của người học Zen là:
Dàna, sìla, kshànti, dhyàna, prajnà --
Bố thí,
trì giới,
nhẫn nhục,
tinh tấn,
thiền định,
trí tuệ. Trong
Phật Giáo Theravàda có mười
Ba la mật, paramitàs (xem Chương 1)
Những
vị quan tâm đến
Phật Giáo Zen có thể đọc :
- The Essentials of Zen Buddhism -- An Anthology of the Writings of Daisetz T. Suzuki, do Bernard Phillips biên sọan;
- Zen Buddhism and Psychoanalysis, do
tác giả D.T. Suzuki, Erich Fromm và Richard De Martino;
- Zen Flesh, Zen Bones, do Paul Reps
biên soạn (a Pelican Book).
Giấc Mơ Lạc Quan Của Một Con Ong
[*]
"Đêm sẽ qua, bình minh tươi đẹp sẽ đến,Vầng thái dương sẽ ló dạng, hoa sen sẽ nở nụ cười."Kẹt bên trong đóa hoa sen, ong suy nghĩ như vậy.Rồi đùng! đùng! Một thớt voi bẻ nát cọng sen!Trời đã về chiều,
mặt trời từ từ lặn ở
hướng Tây. Đàn chim bay lả bay la về ổ, trong khi ấy thú rừng bắt đầu thả rong đi tìm mồi. Giờ đây có một con ong -- ong bé nhỏ bận rộn -- đang vo vo
quanh quẩn bay tìm chút ít mật ăn đỡ dạ. Rồi ong thấy một ao hồ đầy
hoa sen đang tung nở, và lòng
hoan hỷ thỏa thích, ong đáp hạ xuống trên một đài hoa mềm mại và làm tiệc với những giọt mật ẩn kín trong nhụy sen. Ong không làm
tổn hại sắc đẹp của hoa, chỉ hút vài giọt mật. Nhưng than ôi, trong khi
mặt trời lặn thì những tai hoa mịn màng như tơ lụa cũng từ từ khép lại, gài kẹt người khách bụng đói bên trong. Nhưng ong không
tuyệt vọng. Dưới đây là những
ý nghĩ thoáng qua trong tâm của con vật bé nhỏ nằm kẹt trong ngục tù
hoa sen với đầy những
thức ăn ngon miệng.
"Đêm sẽ qua, nhường chỗ cho bình minh tươi đẹp;
mặt trời sẽ mọc, và
hoa sen sẽ nở tung, rồi ta sẽ sớm sủa rời bỏ cái ngục tù này, bay về với đồng bọn."
Nhưng
bất hạnh thay! Điều bất ngờ xảy diễn. Thớt tượng oai vệ, chúa tể của rừng núi, dỏng dạc
bước dài theo
con đường xuống ao hồ. Voi uống nước no bụng rồi rải tung nước mát, tưới lên hai bên hông to lớn của mình, và
vừa lúc ấy cảm nhận
mùi thơm ngọt ngào của
hoa sen tươi tốt -- chính cái bông mà ong đang bị
mắc kẹt trong đó.
Trong bỗng chốc voi hùng dũng bỏ vòi quấn ngang cọng sen và răng rắc nghiền ngấu -- lá, hoa,và ong,
biến dạng trong cái bụng khổng lồ! Và con ong bé nhỏ,
trái với niềm
hy vọng lạc quan,
đi vào cõi chết.
Đời sống là vậy! Một giây lát ở đây, rồi
vĩnh viễn mất dạng. Ai có thể đoan chắc rằng ta sẽ thấy ngày mai? Tất cả đều
trôi qua: cành
hoa tươi xinh đẹp, giọng chim du dương lảnh lót, và tiếng ong
đều đặn bay vo vo.
Mọi
kết hợp đều
chấm dứt trong chia ly, mọi cuộc sống đều đi dần đến cái chết. Và trong
vũ trụ bí ẩn này,
chúng ta sống,
chúng ta thương yêu nhau và vui cười
với nhau, bởi vì "khi
đời sống chảy trôi suôn sẻ như một bài ca thì không khó gì
tỏ ra dễ mến." Nhưng "khi
sầu muộn đến, nó không đến
đơn độc, mà từng đoàn, từng cả đạo binh" (Shakespeare trong Hamlet), và
toàn thể thế gian là
hình ảnh của
đau khổ.
Tuy vậy, người nhìn
đời sống với cặp mắt
buông xả sẽ thấy sự vật đúng trong bối cảnh của nó. Người mà sự
tu tập rèn luyện cho mình một
tâm tánh trầm tĩnh và không
giao động xuyên qua mọi
thăng trầm của cuộc sống, người có thể
mỉm cười khi
mọi việc đều sai quấy -- người ấy,
quả thật vậy, là
con người có
giá trị.
Kiêng cữ những chất say và luôn luôn
tỉnh giác,
vững chắc củng cố trong hạnh
nhẫn nhục và đức tính
trong sạch, người
sáng suốt tự
rèn luyện tâm. Và chỉ có cách
tu tập như vậy mới
thành tựu được tâm
vắng lặng.
Một ít
hiểu biết nào về
hoạt động của nghiệp (kamma), và quả trổ sanh (kamma vipàka) như thế nào, rất
cần thiết cho người thật sự có khuynh hướng trau giồi tâm xả. Dưới ánh sáng của
định luật nghiệp báo ta sẽ có thể
chấp thuận thái độ buông bỏ đối với tất cả
chúng sanh, chí đến những vật
vô tri vô giác.
Nguyên nhân kế cận nhất của tâm
buông xả là
hiểu biết rằng tất cả
chúng sanh là kết quả của hành động, kamma, của họ.
Thế gian mà
chúng ta đang tạm trú trong đó cũng tựa hồ như một đóa
hoa sen rộng lớn, và tất cả
chúng ta -- đàn ông và đàn bà -- đang
cố gắng tranh đấu hút mật.
Chúng ta tự tạo những giấc mơ, những niềm
hy vọng, và
chúng ta dự trù những
kế hoạch cho ngày mai. Nhưng rồi một ngày nào, có thể là bỗng nhiên và bất ngờ, giờ phút không thể tránh mà
Tử Thần, thớt tượng, Maccu Màra, phải đến, và xé tan, nghiền nát
đời sống của
chúng ta, và những niềm
hy vọng của
chúng ta trở thành hư không. "Gương mặt của
đời sống chỉ là cái mặt nạ để
che lấp, giấu sự chết ở phía sau. Hãy lắng nghe nhà thơ:
'Hãy học tập, học thật kỹ,
thế gian là một giấc mơ và những hình trạng tạm bợ của nó chỉ là bụi bặm của những giấc mơ;
Thân này mà ta ấp ủ với nước hoa, còn phù du hơn là tai hoa đang
héo tàn.
Tất cả những
sở hữu của ta là xiềng xích
trói buộc ta càng chặt chẽ hơn
tình trạng nghèo nàn;
Tiền của,
tài sản,
tuổi thanh xuân và
dục vọng,
lôi cuốn ta như một đoàn xe, vào sa mạc
tử vong của chúng.'"
Lịch sử đã
chứng tỏ và lặp đi lặp lại, và sẽ còn
chứng tỏ rằng trên
thế gian này không có chi
tồn tại lâu dài. Những
quốc gia và những nền
văn minh khởi lên, hưng thạnh, và
suy tàn, không khác nào các lượn sóng trên biển cả, nhô lên rồi lụn tàn, nhường chỗ cho lượn mới, và cứ thế,
thời gian cuốn tròn, giữ lại hồ sơ của tấn tuồng đời,
ảo ảnh vô căn cứ và sự
trôi chảy đang
phai mờ,
lịch sử của
nhân loại.
Do đó lời của nhà
hiền triết thời xưa:
"Tám ngọn núi to lớn và bảy biển cả,Mặt trời, những vị trời ngồi đó để thống trị những vật ấy,Bạn, tôi, vũ trụ, đều phải diệt vong.Thời gian chiến thắng tất cả. Tại sao còn say mê vở tuồng của Ma Vương?
[*]
Câu chuyện này
dựa trên một bản dịch của câu thứ tám, và cũng là câu
cuối cùng, của bài Bramaràstaka, do thi sĩ người Ấn, Samkaràcàrya,
sáng tác bằng chữ Sanskrit. Thi sĩ được xem là người
đồng thời với nhà thơ
trứ danh nhất của xứ
Ấn Độ, Kàlidàsa.