Người học Phật một cách
vô tư đã
thận trọng đọc suốt những
kinh điển thời
nguyên thủy, sẽ luôn luôn gặp phải một nhân vật
tích cực cương quyết, một
con người đã
thành đạt Giác Ngộ tối thượng và
trạng thái châu toàn vượt khỏi mọi
trói buộc, bằng cách kiện toàn những phẩm hạnh
luân lý,
trí thức và
đạo đức đến mức
tuyệt đối hoàn hảo, một vị thầy hăng say làm việc không biết mệt với
ý chí sắt đá,
quyết định phổ truyền
chân lý mà mình đã
chứng ngộ. Nhân vật
tích cực hăng say ấy là
Đức Phật.
Đức Phật không phải chỉ là một
triết gia khác, giữa nhóm các
triết gia, mà là vị
hiền triết giác ngộ mà
giáo huấn ban truyền sẽ
cách mạng hóa
tư tưởng và
đời sống nhân loại.
Lòng hy sinh cao cả,
tâm từ vô lượng,
tâm bi vô biên và đức khoan hồng
đại độ,
phối hợp với phẩm cách
đặc biệt cao cả của Ngài,
nâng cao những ai, từ
đám mây mờ
vô minh bước
theo dấu chân Ngài, và
khai ngộ,
soi sáng chân lý cho họ.
Giáo huấn của Ngài phát xuất từ miền Bắc xứ
Ấn Độ, nhưng lời kêu gọi trong bức
thông điệp của Ngài được
phổ cập đại đồng.
Đức Phật ngỏ lời cùng
toàn thể nhân loại ở mọi
thời đại.
Giáo Pháp và
Giới Luật (dhamma-vinaya) được ban truyền cho tất cả
mọi người, dầu nói
ngôn ngữ gì,
ăn mặc như thế nào, dầu tự mình gọi
quốc gia nào là "quê hương".
Ngôn ngữ của
Đức Phật là
chân lý, Ngài ở bên trong bộ
y phục chân lý, và
toàn thể thế gian là "quê hương" của Ngài, bởi vì
chân lý ở khắp nơi, vào mọi
thời đại, mỗi
cá nhân phải tự mình
chứng ngộ. Đó là
ý nghĩa của
lời nói rằng
Giáo Pháp của
Đức Phật phổ cập đại đồng.
Chân lý được đề cập đến trong
Phật Giáo không có tánh cách khái niệm, và như thế không thể chỉ
truyền thông bằng
ngôn ngữ suông. Trong khi một vị
Toàn Giác có thể hướng dẫn,
rọi sáng cho
chúng ta con đường dẫn đến
chân lý, tự
chúng ta phải
thực hành phương pháp thiền tập để
chứng ngộ chân lý và làm cho
chân lý trở thành của chính ta.
Đức Phật hoàn toàn làm chủ cái tâm.
Xuyên qua nhiều kiếp sống
liên tiếp Ngài đã chặt chẽ nắm vững, trau giồi và phát triển tâm mình bằng
pháp hành thiền và nhiều
hình thức khác, nhằm
nâng cao phẩm giá
tinh thần. Do đó Ngài có thể thấu đạt và tuyên dạy những
chân lý thâm sâu của
đời sống,
ý nghĩa, và
mục tiêu của cuộc sống. Nhưng
con người thông thường ngày nay
lưu tâm đến
Phật Giáo không phải vì chú trọng đến chính những
chân lý thâm sâu cao diệu ấy, mà vì muốn
học hỏi để biết làm thế nào
tìm ra một
giải pháp thực dụng cho những
hoài nghi và những khó khăn làm họ
bối rối và nhầm lẫn trong
sự cố gắng
thành đạt hạnh phúc.
Khi
giải đáp thắc mắc cho một
đệ tử, Ngài mạnh mẽ
thuyết giảng chân lý này như sau: "
Tâm hướng dẫn thế gian, tâm lôi kéo thế gian; tất cả đều diễn tiến dưới sức lôi cuốn của tâm.[1]" Khoa học chưa
khám phá đầy đủ, nhưng hơn 2,500 năm về trước
Đức Phật đã
chứng ngộ quyền năng tối
trọng yếu của tâm, trên tất cả mọi khía cạnh của
đời sống.
Phật Giáo thời
nguyên thủy chủ trương rằng
năng lực của tâm rất rộng lớn và ta phải trau giồi đúng mức để
thành đạt mục tiêu tối hậu là
Niết Bàn. Trong khi không phủ nhận
giá trị và
ảnh hưởng lớn mạnh của
thế gian vật chất trong đời sống
tâm linh,
Phật Giáo chú trọng nhiều hơn đến tầm mức quan trọng của tâm.
Năng lực của tâm thật sự quả là một
thực tại.
Nhiều người tìm nguồn
cảm hứng và
hạnh phúc từ bên ngoài, và
thất vọng. Chỉ khi nào
nhận thức năng lực tối thượng của tâm và thấu hiểu rằng chính cái tâm của mình có thể
biến đổi thế gian này thành một cõi
thiên đàng hay một
cảnh địa ngục cho mình, chừng đó ta mới học được
phương cách phải làm thế nào để
thành đạt hạnh phúc.
Đức Bổn Sư, người
hoàn toàn làm chủ cái tâm, giải thêm trong Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 165:
"Làm điều ác do ta, và Làm cho ta ô nhiễm, cũng do ta. Do ta, không làm điều ác, và Làm cho ta trong sạch, cũng do ta. Trong sạch hay ô nhiễm đều tùy nơi ta. Không ai có thể làm cho người khác trong sạch."
Lại nữa,
Đức Bổn Sư dạy: "
Chính tự các con phải kiên trì cố gắng, chư Phật chỉ hướng dẫn trên con đường. [2]" Những
chân lý vàng ngọc
vô cùng quý giá trên dạy
con người nên tìm
hạnh phúc ở bên trong mình, bằng cách
tự lực chứng ngộ.
Một
chân lý thâm sâu khác mà
Đức Bổn Sư dạy là:
"Tất cả các pháp hữu lậu đều vô thường, Phát sanh và hoại diệt là bản chất thiên nhiên của chúng; Được sanh ra rồi tan biến, Thoát ra khỏi chúng là hạnh phúc tối thượng. [3]
"
"Tất cả những gì có
bản chất phát sanh ắt có
bản chất hoại diệt [4]". Đặc tướng
vô thường ấy là
tinh chất chánh yếu của tất cả mọi sự vật.
Con người đau khổ bởi vì tất cả những gì
con người thương yêu quý mến --
vợ con,
tài sản, và
quyền thế -- không
mãi mãi vĩnh tồn. ở bất luận tầng lớp nào trong
xã hội,
vẫn có lo âu phiền lụy để
bảo tồn cho được
vĩnh cửu những gì ta
quý mến và ấp ủ
thân yêu. Chỉ khi nào
chứng ngộ chân lý thâm sâu về đặc tướng
vô thường của
vạn hữu con người mới học được bài học
buông bỏ ái dục, bởi vì chính
ái dục gây
đau khổ cho
con người. Về điểm này sau đây là một lời dạy
thâm sâu khác của
Đức Bổn Sư, người đã
vững chắc làm chủ cái tâm:
"Ái dục sanh sầu muộn. Ái dục sanh lo sợ; Người đã trọn vẹn dập tắt ái dục Không còn sầu muộn, Càng ít lo sợ." -- (Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 216)
Đôi khi
Đức Phật chú trọng đến
mục tiêu chữa trị hơn là khách quan
phân tách sự vật. Nhưng điều
trọng yếu là Ngài thật sự
quan tâm đến quan kiến
phân tách sự vật, bởi vì chỉ có cách tỷ mỷ
phân tách sự vật mới có thể thấu đạt
thực tướng của
vạn pháp, thấy sự vật đúng như sự vật thật sự là vậy.
Xuyên qua pháp môn hành thiền
Đức Phật khám phá những chứng bệnh
phổ thông mà gốc rễ
ăn sâu vào tâm linh và
trí não con người.
Trí tuệ minh sát tuyệt diệu của
Đức Phật hướng sâu vào những
sinh hoạt của tâm, làm cho Ngài là vị chủ nhân
hoàn toàn nắm vững cái tâm, là
tâm lý gia và là khoa học
gia thượng thặng. Đúng thật là
phương cách mà Ngài chứng đạt những
chân lý của
đời sống tâm linh ấy không phải lúc nào cũng tự
bản thân Ngài
kinh nghiệm;
tuy nhiên, những gì mà
Đức Phật khám phá đều đúng với
chân lý và, trong
thực tế, được những người đã
chứng nghiệm chân lý ấy
xác nhận. Nhưng trong khi
tìm hiểu những
chân lý ấy
mục tiêu của
Đức Phật không giống như
mục tiêu của các khoa học gia. Nhà khoa học
quan tâm đến việc thâu thập một
kiến thức khách quan về
thiên nhiên, nhưng những lời dạy của
Đức Phật về
bản chất thiên nhiên của tâm và cơ thể
vật chất, hướng về
mục tiêu giải thoát,
trạng thái châu toàn
tối thượng vượt khỏi mọi
trói buộc.
Giáo huấn của Ngài đặt nặng về tâm và những
hiện tượng tâm linh, bởi vì tâm và những
hiện tượng tâm linh có
vai trò tối
trọng yếu làm
phát khởi hành động.
Trong
Phật Giáo, nền tảng là tâm:
"Tâm dẫn đầu các pháp; tâm làm chủ các pháp; tâm tạo tác các pháp" -- (Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 1).
Đức Phật là một người. Chí đến khi đã
trở thành Phật Ngài không bao giờ tự xưng là
Thần Linh,
Thượng Đế hay Brahma (
Phạm Thiên), đã tạo nên
thế gian và ngồi lại phân xử định mạng của
nhân loại. Ngài chỉ là một NGƯỜI, giữa đám người. Khi được hỏi Ngài là ai, câu
trả lời đến như sau: "Ta là người giác ngộ", và Ngài tóm lược sự
thành tựu của Ngài như sau:
"Ta hiểu biết những gì cần phải được hiểu biết, Những gì phải được trau giồi, ta đã trau giồi. Những gì phải được buông bỏ, ta đã buông bỏ. Do đó ta là Phật, bậc Toàn Giác. --(Sutta Nipàta, câu 558)
Trong hàng
Phật tử, những người bước
theo dấu chân
Đức Phật,
nhận thức rằng
hạnh phúc và
đau khổ là
hậu quả của những hành động và những
lỗi lầm của mình, không van vái nguyện cầu và không
mong đợi Ngài
ban thưởng hay hình phạt. Họ
quy y,
trở về nương tựa dưới bóng của
Đức Phật,
hiểu biết rằng cuộc sống và những lời dạy của Ngài là
gương mẫu và
lý tưởng hướng dẫn họ trên đường đời. Khi
thực hành đúng theo
giáo huấn của Ngài họ có thể từ thấp vươn mình lên mức sống
tâm linh cao thượng hơn, và
cuối cùng thành đạt hạnh phúc thật sự, vốn là
thành quả của
trạng thái triển khai tinh thần siêu tuyệt nhất,
hạnh phúc Niết Bàn.
Đức Phật cũng có thể được tôn là một nhà
cách mạng, trong
ý nghĩa cao cả nhất của danh từ.
Mục tiêu chánh yếu của Ngài là
biến chuyển đời sống nội tâm,
thế gian bên trong của
con người, và
soi sáng con đường dẫn đến
trạng thái tâm
trong sạch (
Thanh Tịnh Đạo),
thanh bình và
hạnh phúc. Nhưng Ngài
nhận thấy xã hội Ấn Độ rất
cần phải được đổi thay
toàn diện, bởi vì có quá nhiều
chênh lệch kinh tế và
tình trạng phân chia giai cấp. Về
tình trạng kinh tế bất đồng
Đức Phật thành công đem lại một nền kinh tế ổn định,
vững bền và châu toàn, trong đoàn thể
chư Tăng Ni. Bất luận đất đai, chùa chiền, và
lễ vật nào mà
thiện tín dâng cúng đến
Giáo Hội Tăng Già (Sangha) luôn luôn cũng là
tài sản của đoàn thể, không phải của
cá nhân.
Tuy nhiên,
Đức Thế Tôn chống đối mọi
phân chia giai cấp trong
xã hội. Khi ban
truyền Giáo Pháp (Dhamma) Ngài không có sự
phân biệt nào về
giai cấp, đẳng cấp,
nam nữ, phe nhóm, hay lối
phân chia nào khác. Những người nam và nữ, từ các tầng lớp khác nhau
trong đời sống -- giàu cũng như nghèo, thấp như cao,
vô học hay
hữu học,
giai cấp bà la môn hay
cùng đinh, hạng vương tôn công tử hay bần cùng,
thánh thiện hay
tội lỗi -- lắng nghe
Đức Phật, xin
quy y nương tựa nơi Ngài, và bước chân vào
con đường dẫn đến tịnh lạc và
giác ngộ mà Ngài
soi sáng.
Con Đường ấy đã được rộng mở cho tất cả
mọi người.
Ngài luôn luôn hành động đúng theo lời mình dạy, luôn luôn căn cứ hành động của mình trên
Tứ vô lượng tâm (brahmavihàra):
Từ (mettà),
Bi (karunà),
Hỷ (mudità), và
Xả (upekhà).
Đức Phật được biết là người đã
vứt bỏ gậy gộc (nihita danda), đã quẳng đi mọi gươm đao giáo mác (nihita sattha). Chính Ngài tự trang bị cho mình với hai loại
khí giới:
chân lý và
từ bi.
Ngài là người đi bộ nhiều nhất trên
thế gian. Ngài đi, và đi ... trên các
con đường lớn và các nẻo nhỏ của xứ
Ấn Độ, bao trùm tất cả bên trong vừng
hào quang từ bi và
trí tuệ vô lượng vô biên.
Ngài
di chuyển giữa đám người, nam và nữ, không phải như một
đấng siêu nhân, một nhân vật
siêu phàm, hay
hậu thân của một
thần linh, mà như một
con người đúng thật là người. Trong
thực tế, chính cái nhân cách ấy làm cho Ngài sáng chói rạng ngời,
xuyên qua kinh điển ghi lại
cuộc đời và những
sinh hoạt của Ngài. Ngài truyền dạy, làm cho người ta
hiểu biết rằng tất cả
mọi người đều có thể
giác ngộ,
thành Phật như Ngài, nếu khai triển đúng mức và trau giồi đầy đủ những phẩm hạnh
cần thiết để
giác ngộ.
Cốt cách khoan thai
dịu dàng,
từ bi và
vui vẻ của
Đức Phật làm cho tất cả những ai được duyên may
tiếp xúc với Ngài đều cảm mến quý phục.
Tuy nhiên, người ta cũng lấy làm vui mà
nhận xét rằng vài người vào thời bấy giờ,
đặc biệt là những vị ở các
tín ngưỡng khác, lấy làm lo sợ không dám gởi
đệ tử hay
tín đồ đến
Đức Phật, e rằng họ sẽ
từ bỏ đạo cũ theo về với Ngài. Điều này được thấy rõ qua đoạn sau đây:
Lần nọ Nigantha Nàtaputta (theo
tín ngưỡng Jaina Mahàvira) muốn gởi người
đệ tử cư sĩ trứ danh tên Upàli đến với
Đức Phật để
tranh luận.
Lúc ấy Dìghatapassin, cũng là
môn đệ trong
tín ngưỡng Jaina, nói với Nàtaputta như sau: "Theo tôi, bạch Ngài, không nên để cho Upàli đi
tranh luận với
Sa Môn Gotama (
Cồ Đàm), bởi vì
Sa Môn Gotama là người
biện bác lanh lợi; ông ta bùa phép cao cường dễ làm
mê hoặc tín đồ của những đạo khác (Gotamo màyàvi àvattanim màyam jànàti) [5]".
Có lẽ họ không biết rằng
chính tâm từ (mettà) rộng lớn
vô cùng tận của
Đức Phật đã thu hút người khác về với Ngài, chớ không phải "bùa phép".
Đức Phật là
hiện thân của
tâm từ (mettà), là người đã ban truyền những lời dạy và nêu những gương lành đượm nhuần
từ bi, qua những
quy tắc và cuộc sống của mình. Trong khi
tranh luận, Ngài rất
trầm tĩnh và đón nhận lời đối nghịch một cách khiêm tốn,
thản nhiên, không chao động, không
tỏ ý phiền giận. Saccaka, nhà hùng biện
trứ danh thời bấy giờ, sau một cuộc
tranh luận với
Đức Phật, không thể cầm lời:
"Quả thật
kỳ diệu,
quả thật tuyệt vời, trong khi bị người ta nặng lời như vậy, trong khi bị
đả kích dữ dội bằng những
lời khiển trách buộc tội, màu da của
Sa Môn Gotama vẫn
trong sáng và
thái độ vẫn tươi tỉnh như của một vị
A La Hán, bậc
Ứng Cúng, đấng
Chánh Biến Tri Tối Thượng." (Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, 36.)
Chí đến những lúc bị tấn công một cách
thô tục đê hèn và bị khiển trách với những lời lẽ nặng nề,
Đức Phật không bao giờ mất
bình tĩnh. Kinh sách ghi rằng Ngài
mỉm cười, luôn luôn có một nụ cười mỉm hiền dịu trước khi mở lời (
mihitapubbangamà).
Ernest F. Fenollosa
quan sát như sau: "Người lần đầu tiên nhìn thấy gương mặt ấy (của
Đức Phật)
vô cùng cảm kích vì tánh cách
thánh thiện thâm diệu của Ngài. Không có người
nghiêm chỉnh nào theo
Cơ Đốc Giáo và tâm
mở rộng mà có thể tự chế, tự
ngăn cản lòng
cảm phục thúc giục
lễ lạy, trước nụ cười dịu hiền đầy
năng lực của Ngài."
Không có phẩm hạnh
cá biệt nào mà
con người cần phải có, là
điều kiện tiên quyết, để làm
tín đồ của một
tôn giáo, làm công dân của một
quốc gia, một
chủng tộc hay làm người
hấp thụ một
văn hóa. Tất cả những ai có mắt để thấy và có
tâm trí để
hiểu biết đều
nhận thức rằng những đức tánh như tình
huynh đệ giữa người và người,
lòng trắc ẩn và
tình thương đại đồng, là chung cho
toàn thể nhân loại. Nhưng khi bị hướng dẫn và
lãnh đạo sai lầm, người ta nói đến "chiến tranh vì công lý" -- ta còn nghe nhắc đến "Thánh Chiến". "Chiến tranh là chiến tranh". Dầu là thánh chiến hay chiến tranh để bênh vực
công lý, chiến tranh không bao giờ là hòa bình. Tất cả mọi cuộc chiến tranh đều tàn nhẫn.
Một diễn biến kia lần nọ đưa
Đức Phật đến chiến trường. Những người dòng Sàkya (
Thích Ca) và người Koliya, vốn là hai láng giềng, đang chuẩn bị gây chiến tranh
với nhau để giành quyền xử dụng nước của dòng sông Rohini. Hay biết rằng cuộc tàn phá đẩm máu sắp xảy ra,
Đức Bổn Sư
đến gần và hỏi họ, máu người và nước sông cái nào quý hơn. Cả hai đều nhìn nhận là máu người quý hơn. Đức
Tôn Sư giảng giải cho họ, và cuộc chiến sắp
bùng nổ được chặn ngưng. [6]
Trong
lãnh vực tôn giáo và
triết học, cuộc
cách mạng to lớn nhất được
Đức Phật khởi đầu khi Ngài
bác bỏ khái niệm về cái "ta",
atta hay
àtman, một
linh hồn trường cửu, một tự ngã, hay tự kỷ. Thuyết
vô ngã, anattà, chủ trương không có một
linh hồn trường tồn vĩnh cửu,
tuyệt đối là của
Phật Giáo.
Đức Phật dạy rằng cái mà, nhằm những
mục tiêu khác nhau, ta gọi là người nam, người nữ, hay
cá nhân -- một luồng
trôi chảy không ngừng của thân và tâm -- không phải tĩnh mà động, luôn luôn và
liên tục chuyển biến.
Bây giờ, người nào thấy
đời sống trong ánh sáng này và
phân tách,
thông hiểu rằng
con người của mình là một
liên tục tiếp nối của những nhóm (uẩn)
vật chất và
tâm linh, người ấy thấy sự vật đúng như sự vật là vậy. Người ấy không còn quan kiến
sai lạc -- "thân kiến" (sakkàya ditthi), tin rằng có
một thể chất
trường cửu vĩnh tồn bất di dịch, một
linh hồn hay tự ngã
bất hoại -- bởi vì nhờ có
chánh kiến người ấy
thông suốt rằng tất cả mọi
hiện tượng trong kiếp
sinh tồn đều tương quan
tùy thuộc (paticca samuppanna).
Nhận thấy rằng tất cả mọi sự vật đều do một cái gì khác tạo duyên để có, và
hiện hữu liên quan với duyên ấy, người ấy
hiểu biết rằng không có một cái "Ta", không có một tự ngã
vĩnh tồn, hay một cái gì
liên quan đến cái tự ngã ấy, trong hay ngoài tiến trình sống này. Do đó người ấy không còn
chấp thủ vào
ý niệm Tiểu Hồn (jìvàtma) hay Đại Hồn (paramàtma), hoặc nữa một
linh hồn trường cửu trong
thế gian.
Đức Phật không chấp nhận một àtman, hay
linh hồn,
trường cửu bất biến, hay tự ngã
vĩnh tồn, lớn hay nhỏ, vì tất cả chỉ do
tâm tưởng tượng. Ngài hỏi:
"Trong khi không có một àtman, linh hồn hay tự ngã trường cửu mà đề cập đến vũ trụ như một àtman, hay tự ngã và nói rằng, 'Sau khi chết, tôi sẽ là àtman này, trường tồn, bất biến, vĩnh cửu và sẽ hiện hữu như một àtman, một cách vô cùng tận', thì có phải là điên rồ không?" [7]
Người mà
nuôi dưỡng thâm sâu ý niệm về một
linh hồn hay một tự ngã
trường tồn, phải
lo âu và kinh sợ khi nghe nói rằng quan kiến
thân yêu của mình không đứng vững và phải bị phá tan, và chính mình sẽ bị
tiêu diệt, thì người ấy bám dính vào
ý niệm có một àtman, một
linh hồn hay tự ngã
trường cửu, để mình được
bảo tồn.
Vì lẽ ấy Đức Phật dạy hàng
tín đồ không nên xem Ngài là vị
Cứu Thế, cứu rỗi
linh hồn của những sinh vật do mình tạo nên, mà Ngài là vị Thầy, hướng dẫn họ trên
con đường và khuyến khích họ tự
nương nhờ lấy họ. Ngài cũng
giảng giải hàng
tín đồ rằng sau khi Ngài
tịch diệt, họ phải tìm nương tựa và tìm sự
bảo vệ nơi chính họ cũng như trong
Giáo Pháp, chớ không nơi ai khác
(attasaranà anannasaranà dhammasaranà anannasaranà). [8]
Tuy nhiên, vài
học giả không thể
chấp nhận thuyết
vô ngã và do đó,
cố gắng bóp méo giáo huấn của
Đức Phật, cố làm cho thấy rằng
Đức Phật cũng
xác nhận có một tự ngã (atta).
Thí dụ như Radhakrishnan, dịch sai câu kinh Dhammapada (
Pháp Cú) số 160 như sau: "Tự ngã là chúa tể của tự ngã, còn ai khác có thể là chúa tể? Khi
chế ngự được cái tự ngã của mình người kia
tìm ra một chúa tể mà ít người có thể
tìm thấy. [9]" Nhưng nơi đây danh từ "atta" không có
liên hệ nào đến một
linh hồn hay một tự ngã. Nó được dùng ở đây như một tái quy động từ hay
bất định động từ (reflexive or indefinite pronoun) có nghĩa là chính tôi, chính anh, chính nó, chính ta v.v... Được
phiên dịch đúng, câu này là:
"Chính ta là người bảo vệ ta (là nương tựa của ta). Còn ai khác có thể bảo vệ ta? Tự chính ta khéo kiểm soát chặt chẽ, Sẽ được sự bảo vệ rất khó tìm."
Những vị dịch giả ấy cũng hiểu sai danh từ
then chốt "nàtha", có nghĩa
bảo vệ, nương tựa, hỗ trợ, chớ không phải là "chúa tể". Bản
Chú giải câu này
ghi nhận: "
nàtho ti patitthà"; nàtha có nghĩa là
bảo vệ (
nâng đỡ, nương tựa, hỗ trợ). Hãy nghĩ đến danh từ
tiêu cực "a-nàtha". Có phải danh từ này nghĩa là "phi chúa tể", tức không có chúa, chăng? Không phải vậy. Nó có nghĩa là không có sự
nâng đỡ, không có sự hỗ trợ. Lối
phiên dịch sai lầm này cho ta
ý niệm sai lạc rằng có một tự ngã lớn
kiểm soát một tự ngã nhỏ, một đại hồn
chỉ huy một tiểu hồn.
Vài người có chiều hướng nghĩ rằng
giáo huấn của
Đức Phật có thể
ví như triết lý Marxism (Mác Xít) bởi vì cả hai,
Phật Giáo và chủ thuyết Mác Xít, đều phủ nhận
Thần Linh và một
linh hồn trường cửu. Nhưng nói rằng
Phật Giáo ảnh hưởng triết thuyết của Marx, hay chủ trương rằng
Phật Giáo và Marxism gần giống nhau, thì
quả thật sai lầm.
Giáo huấn của
Đức Phật về
định luật nhân quả trong
lãnh vực đạo đức (kamma) dạy rằng trước kiếp sống này đã có
kiếp trước, và
sau khi chết còn có sự sống (punabhava), và
trạng thái châu toàn
tuyệt đối vượt khỏi mọi
trói buộc (Nibbàna),
hoàn toàn xa lạ đối với Marxism.
Người Mác Xít tin rằng ngoài
vật chất không còn gì khác
hiện hữu. Đối với họ, tâm cũng chỉ là sản phẩm của
vật chất; họ tin rằng sau khi cơ thể
vật chất này tan rã thì "nhân vật" cũng
chấm dứt, không còn
hiện hữu.
Đối với người
Phật tử,
vấn đề tôn giáo và nguồn gốc của
tôn giáo không phải là
vấn đề siêu hình, mà là
vấn đề tâm lý và
trí thức. Đối với họ,
tôn giáo không phải là
tín ngưỡng suông hay
quy tắc thần khải, do
quyền lực thiêng liêng khai sáng và
chỉ bảo, hoặc lòng kinh sợ một cái gì mình không biết, hay một
chúng sanh siêu phàm có quyền
ban thưởng những hành động thiện và hình phạt những hành động
bất thiện của các sinh vật mà chính mình đã tạo. Thay vì
quan tâm đến
vấn đề thần học, họ chú trọng đến khía cạnh
tâm lý và
trí thức phát sanh do
kinh nghiệm dukkha, tức
đau khổ, những
xung đột và những bất
toại nguyện của
đời sống, thật sự thực nghiệm trong kiếp
sinh tồn.
Khi
xem qua nội dung những lời được giảng dạy trong
Phật Giáo chúng ta có thể thấy rằng
giáo huấn của
Đức Phật có phần
sai biệt với các
hệ thống tôn giáo khác, và điểm chánh là khái niệm về một
Thần Linh tạo hóa.
Có rất nhiều đặc tánh
tôn giáo trong
đạo Phật, nhưng không thể xếp
Phật Giáo vào chung với những
tôn giáo mà phần nòng cốt
xoay quanh một
Thần Linh và những
năng lực siêu phàm.
Phật Giáo không nhìn nhận một
Thần Linh tạo hóa
trường tồn vĩnh cửu và không khuyên dạy một
hệ thống nghi thức sùng bái và van vái nguyện cầu những
thần linh. Do đó không có sự
tin tưởng về một
quyền lực cao siêu
kiểm soát định mạng
con người. Trong
Phật Giáo,
con người xem tất cả những gì mình
thực hiện tốt đẹp và
thành tựu hoàn mãn đều do
cố gắng và
hiểu biết của chính mình.
Phật Giáo là một
giáo lý lấy
con người làm
trung tâm điểm, không phải
thần linh. Như vậy, đối với người
Phật tử,
tôn giáo là một
lối sống, trong
ý nghĩa một
pháp hành, nhằm tự tạo cho mình một
nếp sống luân lý,
đạo đức và
trí thức dẫn đến ánh sáng
nội tâm cao
siêu nhất để
chấm dứt mọi
hình thức đau khổ và những kiếp
sinh tồn triền miên trong vòng luân hồi,
cuối cùng giải thoát toàn vẹn cái tâm. Nhìn về
phương diện triết học,
Đức Phật không
quan tâm đến những
vấn đề vốn làm bận tâm các
triết gia, Đông và
Tây Phương, từ xưa
đến nay. Theo
quan điểm của Ngài, những
vấn đề siêu hình ấy chỉ làm rối trí
con người và
xáo trộn mức
quân bình tâm trí. Những
giải pháp của họ, Ngài biết như vậy, sẽ không ngăn chận được nỗi khổ đau và
tình trạng bất
toại nguyện, vốn là
bản chất của
đời sống.
Vì lẽ ấy, Ngài thường
do dự trước những câu hỏi tương tợ và đôi khi,
không giải thích những thắc mắc được nêu lên một cách
lầm lạc.
Thử thách của
Phật Giáo nhằm hướng các
tư tưởng gia
tôn giáo xét lại định nghĩa xưa cũ của danh
từ tôn giáo, và
tìm ra một định nghĩa mới cho danh từ có thể
thích hợp với
đạo Phật.
Phương cách nắm lấy
chân lý cao
siêu nhất của người
Phật tử, từ
vô minh bừng tỉnh đến
giác ngộ,
trọn vẹn không
tùy thuộc nơi sự phát triển
thuần túy trí thức mà
tùy thuộc nơi sự
chấp nhận một
giáo huấn thực hành. Chính
công trình phối hợp chặt chẽ pháp học và
pháp hành --
lý thuyết và
thực hành -- ấy dẫn đến
Giác Ngộ và
giải thoát cùng tột.
________________________________________
Chú thích:
[1] Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm, ii, 117.
[2] Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 276.
[3] Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, ii, 157.
[4] Vinaya Pitaka, Tạng Luật, I, 10; Samyutta Nikàya, v, 420.
[5] Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm, 56; Anguttara Nikàya,
Tăng Nhứt A Hàm ii, 190.
[6] Anguttara Nikàya Atthakathà (
Chú giải) I, 241; Sutta Nipàta, 357; Theragàthà, 141.
[7] Kinh Alagaddùpama Sutta, trong bộ Majjhima Nikàya,
Trung A Hàm. 22, 138.
[8]
Kinh Đại Niết Bàn, Mahà Parinibbàna Sutta, trong bộ Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, 16, 100.
[9] S. Radhakrishnan, Gautama the Buddha (Hind Kitabs, Bombay: 1945) trang 50.