Lăng Nghiêm Tự

Thập Hồi Hướng – Lăng Nghiêm Tự

Trong kinh Lăng Nghiêm quyển thứ 8 có nói về địa vị của Bồ Tát, có bốn mươi hai cấp bậc, tức là: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác. Vì Bồ Tát có bốn mươi hai phần vô minh hoặc, cho nên phải tu hành viên mãn một pháp môn, thì bớt một phần vô minh, mà tăng thêm một phần pháp thân, liền thăng lên một bậc. Cho đến bậc Đẳng Giác, thì vẫn còn một phần sinh tướng vô minh chưa dứt. Nếu đoạn hết thì là Diệu Giác Bồ Tát, tức cũng là Phật. Thế nào gọi là hồi hướng? Hồi là chuyển, ý nghĩa là hồi chuyển. Hướng là hướng về. Hồi hướng, nghĩa là nói hồi chuyển có hình, hướng về nơi vô hình. Hướng chuyển có tướng, hướng về nơi không có tướng (vô tướng). Hướng chuyển hư vọng, hướng về nơi chân thật. Hồi chuyển công đức của mình, hướng về nơi kẻ khác. Người tu hành hạnh hồi hướng có mười tên:

  1. Danh cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng.
  2. Danh bất hoại hồi hướng.
  3. Danh đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.
  4. Danh chí nhất thiết xứ hồi hướng.
  5. Danh vô tận công đức tạng hồi hướng.
  6. Danh tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.
  7. Danh tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng.
  8. Danh như tướng hồi hướng.
  9. Danh vô phược giải thoát hồi hướng.
  10. Danh pháp giới vô lượng hồi hướng.

Hồi hướng thứ nhất đến thứ ba, là hồi hướng chúng sinh. Thứ tư đến thứ sáu, là hồi hướng bồ đề. Thứ bảy và thứ tám, là hồi hướng thật tế. Thứ chín và thứ mười, là thông nơi quả và thật tế. Thật tế tức là thật tướng, thật tướng cũng là vô tướng. Là người tu hành, nên minh bạch pháp truy cầu chân thật, tiến mà phải quét sạch tất cả pháp, lìa tất cả tướng. Viên mãn bồ đề, quy vô sở đắc.

— o O o —

 

Danh cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng. Tất là lìa tướng chúng sinh hồi hướng, muốn cứu hộ khắp tất cả chúng sinh, mà chẳng chấp tướng. Là sự “hồi hướng lìa tướng hồi tự hướng tha”. Nghĩa là nói lìa tướng hồi hướng, lìa tướng chúng sinh. Bồ Tát cứu độ tất cả chúng sinh, mà chẳng kể công, chẳng chấp tướng, chẳng khoe khoang. Ngài đem tất cả công đức thiện nghiệp hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Lìa các tướng, tức là lìa khỏi sự chấp trước. Nếu có sự chấp trước, thì sẽ tự mãn, sẽ kiêu ngạo. Một khi sinh tâm kiêu ngạo, thì vĩnh viễn sẽ không thể khai mở đại trí huệ. Sự khó khăn nhất, quang trọng nhất của sự tu hành, là tu lìa sự chấp trước, lìa sự kiêu ngạo, nếu không thì không thể nào đắc được sự giải thoát.

Chấp trước thì giống như dùng sợi dây thừng tự trói buộc mình, cho nên nói không thể được giải thoát. Người chấp trước, thì tâm lượng nhỏ, không thể dung chứa người, dung chứa vật, tuyệt đối sẽ chẳng có đại trí huệ, chẳng có đại trí huệ quang minh. Người chẳng chấp trước vào “người, sự việc, thời, đất, vật”, mới có thể cứu độ tất cả chúng sinh, lìa tướng chúng sinh hồi hướng, cuối cùng tự nhiên sẽ đạt đến bồ đề viên mãn, quy vô sở đắc, khai đại ngộ, được đại trí huệ.

Các vị làm những việc vĩ đại của chư Phật, nhưng coi như đang ở giữa giấc mơ. Điều đó thể hiện sự không gắn bó của các vị. Mọi thứ giống như một ảo ảnh, một sự biến đổi; không có gì thực sự tồn tại. Vì thế đừng dính mắc vào bất cứ điều gì. Hãy nhìn thấu tất cả, đặt nó xuống và bạn có thể đạt được sự tự chủ.

Các vị hoàn toàn thanh tịnh và tuyệt đối chân thật, đã thành tựu trạng thái đó, và đã xa lìa chướng ngại và tai họa. Các vị sẽ không bị cản trở dưới bất kỳ hình thức nào. Sau đó, các vị đưa chúng sinh vượt qua trong khi gạt bỏ vẻ ngoài đưa họ vượt qua. Các vị giải cứu những người họ nên giải cứu mà không hề có bất kỳ ý nghĩ nào về việc giải cứu họ.

Kinh Kim Cang cũng giải thích điều này; Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy ở đó:
“Ta nên đưa tất cả chúng sinh đến chỗ diệt vong, tuy nhiên khi tất cả chúng sinh bị đưa đi như thế, thì không có chúng sinh nào bị đưa đến chỗ diệt vong.”

Một lần nữa, điều này có nghĩa là người ta không được dính mắc và nghĩ rằng, “Tôi đã làm điều này, tôi đã làm điều kia.” Người ta xây một ngôi chùa và sau đó không thể quên được ý nghĩ rằng mình là người xây dựng và đã tích lũy được rất nhiều công đức.Đó là vẫn còn một diện mạo còn sót lại.

Các vị đưa chúng sinh vượt qua biển khổ trong khi gạt bỏ vẻ ngoài đưa chúng đi qua. Bạn không coi hành động đó là điều bạn đã làm mà là điều bạn đáng lẽ phải làm. Đó là trách nhiệm của bạn ngay từ đầu; tại sao bạn cần phải cho bất cứ ai biết nó đã được thực hiện? Nếu bạn lải nhải về những gì mình đã làm, điều đó có nghĩa rằng đó là điều bạn không cần phải làm. Ngược lại, có người lại nói: “Đời này tôi không trộm cắp hay giết ai cả. Tôi chưa bao giờ làm điều gì xấu, vậy tại sao mọi việc lại không tốt hơn cho tôi?” Điều này ngụ ý rằng ban đầu họ có số phận là trộm cắp và giết người, nhưng họ đã kiềm chế không làm như vậy và nên được khen thưởng vì điều đó. Đây là một quan điểm sai lầm.

Họ chuyển hóa tâm vô vi và đi tới con đường Niết Bàn. Họ chuyển tâm vô vi của Tiểu Thừa về Niết-bàn. Đây gọi là Chuyển di cứu độ và bảo vệ chúng sinh, ngoại trừ hình tướng của chúng sinh. Các vị coi đó là trách nhiệm của mình trong việc giải cứu chúng sinh, và vì vậy họ không có vẻ ngoài là đã giải cứu chúng sinh. Các vị không suy ngẫm về số lượng công đức và đức hạnh có được trong việc cứu độ chúng sinh. Đó là công việc của tôi. Đó là điều tôi nên làm, bạn nên nghĩ như thế nào.

“Nhưng,” bạn hỏi, “Không phải có công đức trong việc cứu độ chúng sinh sao?” Vâng, có. Nhưng đừng tập trung vào nó. Những gì đã qua là quá khứ. Những gì bạn đã làm, bạn đã làm. Đừng bám víu vào ý tưởng cứu độ chúng sinh. Điều này không có nghĩa là bạn không nên cứu độ chúng sinh; điều đó có nghĩa là bạn không nên chứa chấp vẻ ngoài.

Như thị hồi hướng đáo bỉ ngạn
Phổ sử quần sanh ly chúng cấu
Vĩnh ly nhất thiết chư sở y
Đắc nhập cứu cánh vô y xứ

— o O o —

 

Hoại kỳ khả hoại, viễn ly chư ly. Danh bất hoại hồi hướng. Hoại cái có thể hoại, tức xa lìa chúng sanh tướng, tướng xa lìa cũng phải lìa, vậy tướng hoại thì sở không, lìa cái Lìa thì năng không; năng sở đều không, bản giác bất hoại, gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Thế nào là bất hoại? Là chẳng hoại căn lành, chẳng hoại công đức lành, chẳng hoại tâm bồ đề, chẳng hoại tâm kim cang, chẳng hoại giới định huệ, chẳng hoại tâm tin kiên cố nơi Tam Bảo. Ðem hết thảy công đức căn lành tâm bồ đề của mình, hồi hướng hết cho pháp giới tất cả chúng sinh, khiến cho căn lành công đức, tâm bồ đề, tâm kim cang .v.v… Của chúng sinh cũng chẳng hoại diệt. Tôi phát bốn thệ nguyện lớn, tức cũng đồng như chúng sinh phát, đây là bất hoại hồi hướng.

“Cái gì nên hủy diệt” có nghĩa là bỏ đi những gì không nên giữ lại. Dù chúng ta có nói bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn luôn quay trở lại những điều giống nhau: nghiệp chướng, vô minh và phiền não. Hãy loại bỏ những thứ này. Tiêu diệt chúng. “Xa xa những gì nên bỏ lại phía sau” có nghĩa là thoát khỏi lỗi lầm của mình. Chẳng hạn, người tu Đạo không nên có tham, sân, si. Bạn nên tiêu diệt chúng. Tất cả các pháp tốt nên được chấp nhận. Tất cả các pháp xấu nên bị từ chối. Hãy lùi xa về phía sau bạn. Điều này “được gọi là Bất hoại hồi hướng.” Không thể phá hủy” là gì? Những thiện căn vốn có của bạn là không thể phá hủy. Ban đầu của bạn bản chất giác ngộ hiện hữu là không thể phá hủy. Với sự hồi hướng của tính bất hoại, bạn phải tiêu diệt những gì nên tiêu diệt và giữ lại những gì không thể hủy diệt. Hai chữ “Bất hoại”:

Sự bất hoại là quán tất cả pháp, chỉ có danh có dụng. Lý bất hoại là niệm niệm chẳng trụ, sát na vô thường. Sự Sự Vô ngại là biết căn lành hồi hướng, đều có thể thông. Sự Sự Vô ngại, mới là Thật bất hoại”.

Chuyên tâm cứu hộ ư nhất thiết
Lệnh kỳ viễn ly chúng ác nghiệp
Như thị nhiêu ích chư quần sanh
Hệ niệm tư tánh vị tằng xả

Bồ Tát siêng tu Phật đạo, tức là vì cứu hộ tất cả chúng sinh, cho nên Ngài chẳng có lúc nào mà không trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh. Cứu bạt chúng sinh, khiến cho họ đều xa lìa các nghiệp ác. Bồ Tát giống như đạo lý Kinh văn ở trên nói, tu hành Bồ Tát đạo, đem hết thảy công đức đều hồi hướng cho chúng sinh, làm đủ thứ sự việc có lợi ích cho chúng sinh. Luôn nghĩ nhớ chúng sinh và chư Phật, tư duy các pháp, chẳng có ngừng nghỉ. Bồ Tát xem đối đãi chúng sinh như chư Phật, vì Phật là Phật đã thành, chúng sinh là Phật vị lai. Bồ Tát trên cầu pháp của chư Phật, dưới xin thức ăn nơi chúng sinh. Cho nên Bồ Tát đối với chúng sinh luôn nghĩ nhớ, chưa từng lúc nào xả bỏ.

— o O o —

 

Bổn giác trạm nhiên, giác tề Phật giác. Danh đẳng nhất thiết Phật hồi hướng. Bản giác trạm nhiên, tâm giác đồng như Phật giác, gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng. “Căn bản giác ngộ” ám chỉ bản chất của Như Lai tạng vốn có trong tất cả chúng ta. Nó thật sâu sắc và thuần khiết. Đó là sự giác ngộ ngang bằng với sự giác ngộ của chư Phật. Sự giác ngộ của tâm chúng ta cũng giống như sự giác ngộ của chư Phật. Đây gọi là Sự Chuyển Di Đồng Như Với Tất Cả Chư Phật.

Tôi nguyện học pháp môn hồi hướng của chư Phật ba đời tu hành, theo sự hồi hướng của chư Phật ba đời đã phát ra. Ðem hết thảy tất cả công đức của mình làm được, đồng như chư Phật hồi hướng cho pháp giới chúng sinh. Khi tu học quá trình đạo hồi hướng nầy, thì đối với tất cả sắc, cho đến xúc pháp, bất luận là sắc tốt, hoặc sắc xấu, tiếng hay, tiếng dở, mùi thơm, mùi hôi, vị ngon, vị dở, xúc tốt, xúc dở, pháp lành, pháp ác, đều chẳng làm cho sinh ra tâm thương ghét và thích chán. Bồ Tát an trụ vào tu học đạo hồi hướng, chẳng bị cảnh giới sáu trần lay chuyển.

Khi tu hồi hướng đẳng tất cả Phật, vì tâm được tự tại, cho nên các vị sẽ lìa các lỗi lầm, chẳng có lỗi gì có thể nói. Tâm ý của các vị sẽ thanh tịnh rộng lớn như hư không. Niềm hoan hỉ vui thích tràn đầy thân tâm. Tất cả sự ưu sầu khổ não, đều tiêu mất chẳng còn nữa. Vì tâm ý nhu nhuyến, các căn rất mát mẻ, chẳng có hiện tượng nhiệt não sinh khởi.

Các vị đại Bồ Tát tu pháp môn hồi hướng đẳng tất cả Phật, các Ngài chẳng bị cảnh giới sáu căn, sáu trần, sáu thức, lay chuyển, vì các Ngài chẳng sinh thương ghét, nên tâm được tự tại. Nếu chúng ta cũng muốn đắc được cảnh giới tự tại nầy, thì phải thường tu phạm hạnh, giữ giới thanh tịnh, do giới sinh định, do định sinh huệ, sau đó sẽ đạt đến cảnh giới:

“Mắt thấy hình sắc bên trong chẳng có.
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng hay”.

Do đó: Thấy mà không thấy, nghe mà không nghe, ngửi mà không ngửi, nếm mà không nếm, xúc là không xúc, pháp mà không pháp, tất cả hết thảy, đều sống ở trong cảnh giới không thể nghĩ bàn.

— o O o —

 

Tinh chân phát minh, địa như Phật địa. Danh chí nhất thiết xứ hồi hướng. Tinh túy sáng tỏ, tâm địa đồng như Phật địa, gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng. Khi chân lý tuyệt đối của sự chuyển di trước đó được khám phá, cấp độ của một người ngang bằng với cấp độ của tất cả chư Phật. Đây là cấp độ mở đầu cho địa vị của Đức Phật. Đây gọi là Sự Chuyển Di Đạt Đến Mọi Nơi.

Ðến tất cả mọi nơi tức là đến nơi rốt ráo, nghĩa là đạt đến được quả vị Phật. Tôi hy vọng thành Phật, cũng muốn cho tất cả chúng sinh sớm thành Phật đạo, hồi hướng như vậy. Chỉ nguyện nghiệp lành tu tập, sức công đức thành tựu của tôi, khắp cõi hư không pháp giới. Ví như tất cả pháp chân thật tế, chẳng có chỗ nào mà chẳng đến, chẳng có lúc nào mà không có ở đó. Lại hy vọng sức công đức nầy, có thể đến khắp tất cả vật thể hữu hình. Ðến trong tất cả thân tâm chúng sinh. Ðến trong tất cả cõi nước thế gian. Ðến tất cả các pháp, khiến cho tất cả chánh pháp thiện pháp, đắc được sức công đức, phát dương rộng lớn. Ðến khắp trong hư không, khiến cho hư không đầy dẫy sức căn lành công đức nầy. Ðến tất cả pháp hữu vi của thế gian và pháp vô vi xuất thế gian. Ðến tất cả chỗ lời nói âm thanh. Bồ Tát hy vọng sức căn lành công đức của Ngài đến những nơi đã nói ở trên, trong thời gian đó đều phát huy tác dụng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được lợi ích.

Thâm nhập như thị chư cảnh giới
Bất ư kỳ trung khởi phân biệt
Nhất thiết chúng sanh điều ngự sư
Ư thử minh liễu thiện hồi hướng.

Ðại Bồ Tát tu pháp hồi hướng, Ngài đã vào sâu cảnh giới vắng lặng như đã nói ở trước, thấu rõ các pháp tướng đều không, chẳng ở tại pháp hữu vi và pháp vô vi sinh tâm phân biệt. Ðấng Ðiều Ngự Sư của tất cả chúng sinh, tức là nói vị Bồ Tát nầy tu pháp hồi hướng, Ngài là Đạo Sư Điều Ngự, và đại thiện tri thức giá ngự lãnh đạo chúng sinh, bậc Đạo Sư giáo đạo. Bồ Tát minh bạch đủ thứ các pháp, đắc được trí huệ thông đạt vô ngại, nhậm vận tự tại, đem căn lành công đức nầy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh, hồi hướng về vô thượng bồ đề, hồi hướng về thật tế.

— o O o —

 

Thế giới Như Lai, hỗ tương thiệp nhập, đắc vô quái ngại. Danh vô tận công đức tạng hồi hướng. Thế giới và Như Lai xen lộn lẫn nhau, được chẳng ngăn ngại, gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng. Do sự hồi hướng, nên sẽ thành tựu tạng vô tận công đức. Chúng sinh vô tận, công đức vô tận, cho nên hồi hướng cũng vô tận. Thế gian và Như Lai hòa nhập vào nhau không có gì ngăn trở. Thế giới chính là thân của Như Lai; thân của Như Lai chính là thế giới. Chức năng tuyệt vời của sự thâm nhập tâm linh giúp chúng chứa đựng lẫn nhau. Cũng không có bất kỳ trở ngại nào cho cả hai, cũng không có bất cứ điều gì được sắp đặt về nó. Đây gọi là “Sự hồi hướng Kho tàng Công đức Vô tận.”

Tu hồi hướng vô tận công đức tạng nầy, tu đủ thứ hạnh Bồ Tát, khiến cho Ngài đắc được vô tận phước trí, vượt hơn tất cả phước trí. Vì phước đức thù thắng, nên có ba mươi hai sắc tướng đoan nghiêm, tám mươi vẻ đẹp, không gì có thể so sánh được. Sức đại oai đức của Ngài, và trí huệ quang minh, vượt hơn tất cả phước đức oai lực và quang minh của thế gian, khiến cho ma vương, dân chúng của chúng, chẳng dám mở mắt nhìn Bồ Tát. Khi Bồ Tát tu trị đến giai đoạn nầy, thì Ngài đã đầy đủ hết thảy tất cả công đức, thành tựu tất cả nguyện lớn mà Ngài đã phát. Phước đức thù thắng của Ngài, tâm của Ngài rộng lớn có thể bao thái hư, lượng của Ngài rộng khắp sa giới, trí huệ của Ngài đồng với nhất thiết trí của Phật. Ở trong mỗi niệm, có thể vào khắp cõi nước của chư Phật trong mười phương. Sức trí huệ của Ngài, không thể hạn lượng, thông đạt được cảnh giới của mười phương chư Phật. Ðối với đạo lý của chư Phật chứng được, tin hiểu sâu xa không có hoài nghi, vì Ngài an trụ ở trong vô lượng trí huệ. Bồ Tát Ngài phát tâm bồ đề, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không, chẳng có chỗ nào mà chẳng đạt đến.

Dĩ như thị trí nhi hồi hướng
Tùy kỳ ngộ giải phước nghiệp sanh
Thử chư phước tướng diệc như giải
Khởi phục ư trung hữu khả đắc?

Dùng trí huệ vô thượng như đã nói ở trên, để hồi hướng cho tất cả chúng sinh, tuỳ theo sức ngộ hiểu minh bạch tất cả các nghiệp, tất cả quả báo của mình, mà không chấp trước vào nơi pháp, chẳng bị khốn ở trong các nghiệp và quả báo, thì tâm ý tự nhiên tự tại, phước nghiệp tuỳ theo đó mà sinh ra. Ðối với điều gọi là tướng tất cả phước đức, cũng hiểu rõ nó là như huyễn, như bọt bóng. Nghiệp chướng vốn cũng là hư vọng không thật, ở trong trí giải nầy thông đạt vô ngại, lại có thể tìm ra cái gì?

— o O o —

 

Ư đồng Phật địa, địa trung các các, sanh thanh tịnh nhân. Y nhân phát huy, thủ Niết-Bàn đạo. Danh tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng. Nơi đồng Phật địa, mỗi mỗi sanh ra cái nhân trong sạch, nương nhân ấy mà phát huy, vào đạo Niết Bàn, gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng. Tư tưởng vào sâu tất cả bình đẳng, tâm chẳng phân biệt, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được căn lành, thuận lý tu thiện, sự lý chẳng trái, vào nơi hồi hướng bình đẳng. Sau khi các Bồ Tát đã thành tựu sự hồi hướng trước đó của kho tàng công đức vô tận, thì “vì đồng nhất với đất Phật, nên họ tạo ra các nhân thanh tịnh ở mọi cấp độ.” Ở mỗi cấp độ trên đường đi, chúng làm khởi lên những nguyên nhân trong sáng, thanh tịnh và không cấu nhiễm. Sự sáng chói phát ra từ họ khi họ nương tựa vào những nhân này, và họ đi thẳng vào con đường dẫn đến Niết-bàn. Họ bám vào Đạo không sanh cũng không diệt. Đây gọi là Sự Chuyển di theo Phù hợp với Bản chất của Mọi Căn lành.

Vị đại Bồ Tát nầy tu pháp môn hồi hướng, khi Ngài hành bố thí thì, Ngài phát tâm nhất định phải nhiếp thọ hết thảy tất cả chúng sinh. Khi Ngài hành công đức căn lành bố thí, thì hoàn toàn hồi hướng về bồ đề, hồi hướng về thật tế, hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Bồ Tát Ngài khéo biết nhiếp pháp sắc uẩn, một trong năm uẩn như thế nào. Công phu tu hành của Bồ Tát, thâm nhập vào Bát Nhã thù thắng, cho nên Ngài chiếu thấy năm uẩn đều không, nhiếp sắc pháp là tuỳ thuận kiên cố tất cả căn lành. Ngài lại khéo nhiếp chân thật nghĩa lý của thọ, tưởng, hành, thức bốn uẩn đều không, tuỳ thuận kiên cố tất cả căn lành, và kiên cố căn lành của mình.

Khiến cho căn lành của chúng sinh tăng trưởng, đồng thời khiến cho đạo bồ đề của mình tu ngày càng rộng lớn. Lại khéo nhiếp ngôi vua, Bồ Tát biết sự trọng yếu của ngôi vua, nhưng Ngài chẳng xem trọng ngôi vua ở trên cao mà không xả bỏ, mà Ngài hiểu rõ ngôi vua quan hệ đến lợi ích của toàn dân, Ngài tuỳ thời có thể nhường cho người hiền năng, Ngài tuyệt đối chẳng chấp trước. Lại khéo nhiếp thọ quyến thuộc của Ngài, tuỳ thuận chân lý, tuỳ thuận tâm từ bình đẳng giáo hoá, tuỳ thuận công đức, kiên cố tự lợi lợi tha tất cả căn lành. Lại khéo nhiếp tất cả đồ vật tư sanh, tuỳ thuận bố thí, kiên cố tất cả căn lành đã tu được. Lại khéo nhiếp thọ huệ thí, bố thí khắp cho tất cả chúng sinh, tuỳ thuận kiên cố tất cả căn lành đã tu được.

Không những Bồ Tát bố thí bốn thứ ăn của thế gian, mà cũng nên bố thí năm thứ ăn xuất thế gian, hy vọng chúng sinh thọ được thức ăn pháp vị (pháp thực) xuất thế:

  1. Thiền duyệt thực: Người tu hành đắc được vui thiền định hay nuôi dưỡng các căn.
  2. Pháp hỉ thực: Người tu pháp nghe pháp sinh hoan hỉ, nuôi dưỡng thân tâm huệ mạng.
  3. Nguyện thực: Người tu hành phát thệ nguyện mà trì thân, tu vạn hạnh.
  4. Niệm thực: Người tu hành thường nhớ niệm căn lành xuất thế, mà chẳng quên nuôi dưỡng lợi ích huệ mạng.
  5. Giải thoát thực: Người tu hành cuối cùng chứng được vui Niết Bàn, mà nuôi lớn thân tâm.

Ðem các căn lành hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được thành tựu pháp thân trí thân. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân không mệt mỏi, giống như kim cang. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân không thể hoại, không thể làm thương hại được. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân như biến hoá, hiện khắp thế gian, chẳng cùng tận. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân đáng ưa thích, thanh tịnh kiên cố vi diệu. Nguyện cho tất cả chúng sinh được sinh thân pháp giới, đồng với Như Lai, không chỗ nương tựa.

Như chư pháp tánh biến nhất thiết
Bồ Tát hồi hướng diệc phục nhiên
Như thị hồi hướng chư chúng sanh
Thường ư thế gian vô thoái chuyển.

Giống như tất cả pháp tánh khắp cùng tất cả mọi nơi, nhưng nhìn mà không thấy, lắng mà không nghe, ngửi mà không mùi. Bồ Tát tu công đức hồi hướng cũng giống như thế, tuy nhiên không có hình tướng, nhưng công đức không thể nghĩ bàn. Vì vậy, cho nên Phật tu tập tất cả công đức hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Chẳng những Ngài tu hạnh Bồ Tát một ngày, mà là ngày ngày đều tu hạnh Bồ Tát, tháng tháng đều tu, năm năm đều tu, đời đời kiếp kiếp đều tu hạnh Bồ Tát. Ðem công đức hồi hướng cho pháp giới chúng sinh, thường ở tại nhân gian không thối chuyển tâm bồ đề.

— o O o —

 

Chân căn ký thành, thập phương chúng sanh, giai ngã bổn tánh. Tánh viên thành tựu, bất thất chúng sanh. Danh tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng. Chơn thiện căn đã thành, thì mười phương chúng sanh đều là bản tánh của ta, thành tựu tánh tròn đầy, chẳng bỏ chúng sanh, gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng. Quán sát chúng sinh hồi hướng, chẳng tính toán có bao nhiêu, chẳng phân biệt thân sơ, phân biệt thiện ác, chẳng phân biệt tốt xấu giàu nghèo, đem hết thảy công đức căn lành của tôi, tuỳ thuận chúng sinh, lợi ích chúng sinh, bình đẳng hồi hướng cho tất cả chúng sinh.

Khi chân căn đã vững chắc thì tất cả chúng sinh trong mười phương đều là tự tánh của ta. ”Họ là một và giống như các vị Bồ Tát. Đó là lý do tại sao Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh mà không có hình tướng của chúng sinh. Chư Phật và Bồ Tát xem tất cả chúng sinh đều là bản thể của chính mình. Họ là một với họ. Vì vậy, đối với họ việc cứu độ chúng sinh không thực sự là cứu độ chúng sinh khác; đó chỉ là để tự cứu mình. “Không một sinh vật nào bị mất đi, vì bản chất này đã được hoàn thiện thành công.” Vì họ là một với tất cả chúng sinh nên không có chúng sinh nào bị bỏ quên.“Đây gọi là Chuyển di hay Quán xét mọi chúng sinh một cách bình đẳng.”

Nói rằng tất cả chúng sinh đều có bản chất riêng là nói về những chúng sinh tồn tại bên ngoài. Nhưng chúng ta cũng có thể nói về chúng sinh bên trong, bởi vì có vô số chúng sinh trong cơ thể mỗi chúng ta. Khoa học mô tả các tiểu thể màu trắng và các tiểu thể màu đỏ và xác minh rằng cơ thể chúng ta chứa vô số vi sinh vật. Nếu bạn mở Phật nhãn và nhìn vào cơ thể con người, bạn sẽ thấy vô số chúng sinh ở đó, vô số dạng sinh vật nhỏ bé, thậm chí đến mức khi bạn thở ra, bạn gửi rất nhiều chúng sinh ra ngoài qua hơi thở. Vào thời điểm đó họ lại tái sinh thành chúng sinh.Tương tự như vậy, bạn ăn vô số sinh vật khi bạn hít vào. Vì vậy, thật khó để vạch ra ranh giới rõ ràng giữa việc trở thành động vật ăn thịt và không phải là động vật ăn thịt, nếu bạn đi sâu vào các khía cạnh tinh tế hơn của nó. Ở đây bạn đang lấy đi sự sống trong từng hơi thở, và đó cũng là một hình thức giết chóc nếu bạn làm điều đó với ý định giết người. Tất nhiên, chúng tôi đang đi vào chi tiết ở đây.

Chúng sinh trong cơ thể bạn chỉ là những sinh vật bình thường nếu bạn không tu luyện. Nếu quý vị tu luyện thì họ sẽ thành Phật tánh. Đều có thể trở về nguồn. Bạn quay trở lại cội nguồn và chúng cũng đi theo bạn – tất cả những dạng sống nhỏ bé mà bạn nuôi dưỡng. Nếu chư vị tu luyện đến mức có chút kỹ năng, thì chúng sinh bên ngoài và chúng sinh bên trong chư vị đều trở thành một với chư vị. Nhưng tính đến thời điểm hiện tại, về cơ bản có quá nhiều sinh vật sống.

Khi đại Bồ Tát ở nơi căn lành nầy: Tu hành, an trụ, nhập vào, nhiếp thọ, tích tập, biện đủ, ngộ hiểu, tâm tịnh, khai thị, phát khởi, thì được tâm kham nhẫn, đóng bít cửa đường ác. Khéo nhiếp các căn, đầy đủ oai nghi. Xa lìa điên đảo. Chánh hạnh viên mãn. Kham làm pháp khí của tất cả chư Phật, làm ruộng phước đức tốt của chúng sinh. Được Phật nghĩ nhớ, lớn căn lành Phật. Trụ nơi nguyện của chư Phật, thực hành nghiệp của chư Phật. Tâm được tự tại, đồng với chư Phật ba đời. Hướng về đạo tràng của Phật, vào sức lực của Như Lai. Đủ sắc tướng của Phật, vượt khỏi các thế gian, chẳng thích sinh về trời, chẳng tham phước lạc, chẳng chấp các hành. Tất cả căn lành đều đem hồi hướng.

Như thị chân thật chư Phật tử,
Tùng ư Như Lai pháp hóa sanh,
Bỉ năng như thị thiện hồi hướng,
Thế gian nghi hoặc tất trừ diệt.

Hay tư duy tất cả các pháp như vậy, thì mới chân chánh là đệ tử của Phật. Đó là từ trong Phật pháp hoá sinh. Bồ Tát hay tích tập căn lành và công đức như vậy, thảy đều hồi hướng cho pháp giới chúng sinh. Khiến cho nghi hoặc của thế gian đều trừ diệt hết không còn.

— o O o —

 

Tức nhất thiết pháp, ly nhất thiết tướng. Duy tức dữ ly, nhị vô sở trước. Danh như tướng hồi hướng. Tức nơi nhất thiết pháp, mà lìa nhất thiết tướng cái “tức” cái “lìa”, cả hai đều chẳng dính mắc, gọi là Chơn Như Tướng Hồi Hướng. Bảy loại hồi hướng ở trên, đều có hình tướng. Nhưng chân như là không hình, không tướng, tuyết đối đối đãi, bặc lời lẽ tư tưởng. Tuy nhiên như vậy, nhưng căn lành có thể hợp vào nơi chân như, cho nên có môn hồi hướng nầy.

Tất cả các pháp đều tách rời khỏi mọi hình tướng. Ngay trong các pháp phải xa rời mọi hình tướng. Trong sự xuất hiện của các pháp người ta phải tách rời khỏi sự xuất hiện của các pháp. Tuy nhiên, không có sự gắn bó nào với họ tồn tại hoặc tách khỏi chúng. Điều này được gọi là Chuyển di hình tướng của Chơn như.

Đại Bồ Tát nầy chánh niệm thấu rõ. Tâm của Ngài an trụ vững chắc. Xa lìa mê hoặc. Chuyên tâm tu hành. Thâm tâm chẳng động. Thành tựu nghiệp bất hoại. Hướng về nhất thiết trí. Trọn không thối chuyển. Chí cầu đại thừa. Dũng mãnh không sợ hãi. Trồng các gốc công đức. An ổn khắp thế gian. Sinh căn lành thù thắng. Tu pháp trắng tịnh. Đại bi tăng trưởng. Tâm báu thành tựu. Thường niệm chư Phật. Hộ trì chánh pháp. Nơi Bồ Tát đạo tin tưởng ưa thích vững chắc. Thành tựu vô lượng căn lành tịnh diệu. Siêng tu nhất thiết công đức trí huệ. Làm Điều Ngự Sư. Sinh các pháp lành. Dùng trí huệ phương tiện để hồi hướng.

Trí giả liễu tri chư Phật Pháp,
Dĩ như thị hạnh nhi hồi hướng,
Ai mẩn nhất thiết chư chúng sanh,
Lệnh ư thật Pháp chánh tư duy.

Người có trí huệ, minh bạch thấu hiểu pháp của chư Phật nói, dùng căn lành tích tập, hạnh Bồ Tát tu như vậy, vì chúng sinh hồi hướng. Tại sao vì chúng sinh hồi hướng? Vì thương xót tất cả chúng sinh. Bồ Tát thấy tất cả chúng sinh quá ngu si, làm những việc đều là điên đảo. Giáo hoá thế nào cũng không minh bạch; dạy họ xả mình vì người, bỏ ngọn theo gốc, ủng hộ chánh pháp, khiến cho chánh pháp trụ thế, thì họ không tin. Cho nên chúng sinh là kẻ đáng thương, khuyên họ đừng làm các điều ác, hãy làm các điều lành, đối với pháp chân thật, phải làm đúng. Thế nào là không đúng ? Phải phản tỉnh lại, suy nghĩ kỹ càng, không những nghĩ một lần, mà lúc nào cũng phải nghĩ, rằng mình làm có sai nhân quả chăng ? mình đối với Phật giáo có hết sức mình và trách nhiệm chăng ? Ngược lại có tạo ra đủ thứ tội lỗi chẳng? Do đó, lúc nào cũng phải hồi quang phản chiếu, phản tỉnh, lại phản tỉnh, kiểm tra rồi kiểm tra, như thế mới là Phật giáo đồ chân chánh.

— o O o —

 

Chân đắc sở như, thập phương vô ngại. Danh vô phược giải thoát hồi hướng. Thật đắc Chơn Như, mười phương vô ngại, gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng. Chẳng “ràng buộc”, chẳng “chấp trước”, sinh hoạt ở trong chân lý nhậm vận tự tại, chẳng bị mọi sự ràng buộc nào, đắc được tự do giải thoát. Bồ Tát đắc được “giải thoát không ràng buộc, không chấp trước”, cũng hy vọng tất cả chúng sinh đều đắc được sự tự do” giải thoát không ràng buộc, không chấp trước”, do đó đem sự đắc được của mình, hồi hướng cho pháp giới chúng sinh.

Một định nghĩa về Chân như là thứ thực sự đạt được. Nó cũng được mô tả là sự khôn ngoan do đó làm nảy sinh nguyên tắc như vậy. Khi được như vậy thì mười phương không còn chướng ngại. Bạn có thể du hành khắp cõi Phật trong mười phương mà không gặp trở ngại nào. Đây gọi là Chuyển di Giải thoát Vô trói buộc. Không có gì ràng buộc bạn. Bạn được tự do.

Bồ Tát dùng tâm giải thoát thanh tịnh, không chấp trước không ràng buộc, không quái ngại, không thị phi, không thiện ác, không nghiệp báo, để thành tựu thân nghiệp của Bồ Tát Phổ Hiền, thân nghiệp thanh tịnh chẳng có giết hại, trộm cắp, dâm dục.

Bồ Tát dùng tâm giải thoát thanh tịnh, chẳng có sự chấp trước, chẳng có sự ràng buộc, để thanh tịnh nghiệp lời nói của Bồ Tát Phổ Hiền, chẳng có nói dối, thêu dệt, chưởi mắng, hai lưỡi, nghiệp lời nói thanh tịnh.

Bồ Tát dùng tâm giải thoát thanh tịnh, chẳng có sự chấp trước, chẳng có sự ràng buộc, để viên mãn ý nghiệp của Bồ Tát Phổ Hiền, chẳng có tham sân si, ý nghiệp thanh tịnh.

Bồ Tát dùng tâm giải thoát không chấp trước, không ràng buộc, để đầy đủ âm thanh vô ngại môn Đà la ni của Bồ Tát Phổ Hiền. Âm thanh đó rộng lớn, khắp cùng mười phương.

Dùng tâm giải thoát không chấp trước không ràng buộc, để đầy đủ môn Đà la ni thấy tất cả chư Phật của Bồ Tát Phổ Hiền. Luôn luôn thấy tất cả chư Phật trong mười phương.

Dùng tâm giải thoát không chấp trước không ràng buộc, để thành tựu hiểu rõ tất cả âm thanh môn Đà la ni. Đồng tất cả âm, nói vô lượng pháp.

Dùng tâm giải thoát không chấp trước không ràng buộc, để thành tựu tất cả kiếp trụ môn Đà la ni của Bồ Tát Phổ Hiền, khắp trong mười phương tu hạnh Bồ Tát.

Nhược nhân năng tu thử hồi hướng
Tức vi học Phật sở hạnh đạo
Đương đắc nhất thiết Phật công đức
Cập dĩ nhất thiết Phật trí tuệ.

Nếu như có người hay tu hành hồi hướng bình đẳng, tức là học tập theo con đường của Phật thực hành, sẽ đắc được hết thảy công đức của mười phương chư Phật, cùng với hết thảy trí huệ của mười phương chư Phật.

— o O o —

 

Tánh đức viên thành Pháp giới lượng diệt. Danh pháp giới vô lượng hồi hướng. Đức tánh viên mãn thành tựu, số lượng của pháp giới tiêu diệt, gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng. Bồ Tát vào sâu pháp giới, thực hành vô lượng vô biên công đức lành, tận cùng hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có bố thí công đức lành của chư Phật Bồ Tát. Bồ Tát đem căn lành công đức đó, hồi hướng cho pháp giới vô lượng vô biên chúng sinh.

Trước khi công đức của bản tánh được thành tựu viên mãn, trước khi bạn trở thành một với Pháp giới, bạn thậm chí không biết ranh giới của Pháp giới. Khi đức tính của tánh đã được thành tựu viên mãn và bạn trở thành một với Pháp giới, thì bạn biết được ranh giới của Pháp giới. Nhưng vì nó vẫn còn ranh giới nên bạn chưa đạt được thành tựu tối hậu. Bây giờ, “Khi công đức của tánh viên mãn viên mãn thì ranh giới của pháp giới bị tiêu diệt. Ngay cả pháp giới cũng trống rỗng. Đây gọi là Chuyển di Vô lượng Pháp giới.

Thế nào gọi là pháp giới? Pháp là các pháp, giới tức là phân giới. Các pháp đều có tự thể, mà phân giới khác nhau, nên gọi là pháp giới. Tóm lại, pháp giới tức là tâm của con người, lớn mà không ngoài, nhỏ mà không ở trong, tức cũng là bổn thể thân tâm của chúng sinh. Pháp giới là vô lượng, chẳng có bờ mé; nếu có lượng, thì chẳng phải là pháp giới. Tuy nhiên vô lượng, nhưng đại Bồ Tát dùng năm nhãn để quán sát, cũng biết được bờ mé của pháp giới.

“Mười pháp giới không lìa khỏi một tâm niệm”, tức cũng là đạo lý tất cả do tâm tạo. Thế nào gọi là hồi hướng? Có nhiều lối nói. Một là hồi tự hướng tha: Đem hết thảy công đức của mình cho người khác. Hai là hồi nhân hướng quả: Tại nhân địa tu tập đủ thứ căn lành, tương lai sẽ đắc được công đức quả địa. Ba là hồi sự hướng lý: Đem sự hồi hướng về lý. Bốn là hồi tiểu hướng đại: Hồi tiểu thừa hướng về đại thừa. Đó là ý nghĩa của hồi hướng.

Bồ Tát thường thường rộng thực hành bố thí pháp, sinh khởi tâm đại từ đại bi.An lập tất cả chúng sinh. Đối với tâm bồ đề (trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh) vĩnh viễn không giải đãi, không có lúc nào ngừng nghỉ. Thường làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, trong niệm niệm đều nghĩ tới lợi ích chúng sinh, mà không có lúc nào ngừng nghỉ.

Bồ Tát dùng tâm bồ đề, nuôi lớn căn lành của mình. Vì tất cả chúng sinh mà làm Điều Ngự Sư, mở bày cho chúng sinh, khiến cho họ được đạo nhất thiết trí huệ. Vì tất cả chúng sinh, mà làm mặt trời pháp tạng, nói tạng pháp, giống như mặt trời, ánh sáng chiếu khắp tất cả chúng sinh. Căn lành và trí huệ quang minh của Bồ Tát tu tập, chiếu sáng khắp tất cả. Đối với tất cả chúng sinh, đối đãi bình đẳng, chẳng phân biệt đó đây. Tu tất cả hạnh lành, chẳng có lúc nào ngừng nghỉ.

Vị đại Bồ Tát nầy tu hành Bồ Tát đạo, dùng bố thí pháp làm hàng đầu, phát sinh tất cả pháp trắng thanh tịnh, nhiếp thọ tất cả chúng sinh, hướng về tâm nhất thiết trí. Phát nguyện lực thù thắng, đắc được tâm kiên cố rốt ráo, thành tựu viên mãn, tăng trưởng lợi ích, đầy đủ sức đại oai đức. Nương tựa thiện tri thức, gần gũi thiện tri thức; thiện tri thức biết được tâm ý, chỉ dẫn chúng sinh về con đường lành; tức cũng là hay giáo hoá chúng sinh xa lìa mười điều ác, tu hành mười điều lành. Trong tâm không xiểm nịnh vị thiện tri thức đó, cũng không lừa dối vị thiện tri thức đó. Thường thường suy gẫm, quán sát, nghiên cứu môn nhất thiết trí huệ, có cảnh giới vô biên. Bồ Tát đem căn lành đó, hồi hướng như vầy: Nguyện được tu hành, học tập, thành tựu, viên mãn, tăng trưởng, rộng lớn, vô ngại, đủ thứ tất cả cảnh giới.

Nhất mao độ không khả đắc biên
Chúng sát vi trần khả tri số,
Như thị đại tiên chư Phật tử
Sở trụ hạnh nguyện vô năng lượng.

Dùng một sợi lông để trắc lường hư không lớn bao nhiêu? Có thể biết được bờ mé, tức cũng là lường được hư không. Cõi nước của mười phương chư Phật đập nát thành bụi, cũng có thể biết được có bao nhiêu hạt bụi ! Nhưng công đức hạnh nguyện của chư Phật và tất cả đệ tử Phật tu thập hồi hướng, không cách chi đo lường được có bao nhiêu!