Hoa Vô Ưu

Giới Bồ Tát: Tất Cả Chúng Sanh Đều Có Phật Tánh

Giới Bồ Tát: Tất Cả Chúng Sanh Đều Có Phật Tánh


Nguyễn Thế Đăng

bo tat
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đó là niềm tin và hành động, ý nghĩa sống của một người thực hành Bồ tát đạo. Sự thật ấy được nói đến nhiều trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, hơn nữa, sống như thế nào, hành động như thế nào trong cuộc đờithế giới này được nói trong Kinh Phạm Võng Bồ tát giới(Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344-413) dịch, Đại chánh tân tu – số T24n1484).

1/ Nền tảng của đời sống

Kinh này được gọi là “phẩm Tâm Địa Pháp Môn”. Kinh nói Tâm Địa pháp môn như sau:

Nơi cung của Đại Tự Tại Thiên Vương, Đức Phật giảng phẩm Tâm Địa Pháp Mônthuở trước Phật Lô Xá Na đã giảng ở thế giới Liên Hoa Tạng.

Lại từ cung trời Thiên Vương, đức Phật xuống cõi Diêm Phù Đề, dưới cây Bồ đề, vì tất cả chúng sanh trên trái đất này, hạng phàm phu mờ tối mà giảng một giới Kim Cương Quang Minh Bảo Giới. Giới này Phật Lô Xá Na khi mới phát tâm Bồ đề đã thường trì tụng.

Giới pháp này là bổn nguyên của tất cả chư Phật, bổn nguyên của tất cả Bồ tát, là hạt giốngPhật tánh (của tất cả chúng sanh).

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả ý thức, sắc, tâm, là tình, là tâm đều nhập vào trong giới Phật tánh này. Vì đương nhiên có nhân (Phật tánh) nên đương nhiên có Pháp thânthường trụ.

Giờ đây Đức Phật sẽ giảng lại cho đại chúng mười giới phẩm Vô tận tạnggiới bổn nguyên tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh”.

Giới Bồ tát là tin rằng ta và tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có nền tảng Phật tánh bình đẳng với tất cả các bậc giác ngộ, có điều ở chúng ta Phật tánh ấy còn bị nhiễm ô bởi các thứ phiền não tham, sân, si... nên tạm thời bị che mờ.

Thế nên trong Kinh Phạm Võng này, Đức Phật tuyên bố:

Đại chúng nên tin chắc

Các ngươi sẽ thành Phật

Ta là Phật đã thành

Thường tin được như vậy

Giới phẩm đã trọn vẹn.

Tâm địa pháp môn là nơi đất tâm (tâm địa) của mỗi chúng sanh vốn có Phật tánh, và Phật tánh này là “giới bổn nguyên tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh”. Phật tánh này vốn hằng hằng thanh tịnh, đó là “bổn nguyên của tất cả chư Phật, bổn nguyên của tất cả Bồ tát, là hạt giống Phật tánh của tất cả chúng sanh”.

Giới Bồ tát là những hành động của thân, khẩu, ý khiến loại trừ những chướng ngại đối với Phật tánh vốn sẵn và nối kết, tương ưng với Phật tánh thanh tịnh ấy.

Tất cả mọi pháp, từ ý thức, cho đến thế giới vật lý (sắc), tinh thần (tâm), những phiền não(tình), tâm, đều nằm trong Phật tánh.

“Tất cả ý thức, sắc, tâm, là tình là tâm đều nhập vào trong giới (phạm vi) Phật tánh này”.

Tất cả các pháp sắc – tâm đều ở trong Phật tánh. Hơn thế nữa, với người đã ở trong Phật tánh thì tất cả các pháp kinh nghiệm được đều lưu xuất từ Phật tánh, đều là Phật tánh.

Nếu tất cả các pháp đều lưu xuất từ Phật tánh, thế thì tại sao có phiền não? Phật tánh là “Kim Cương Quang Minh Bảo Giới”, luôn luôn trong vắt như kim cương, luôn luôn tỏa chiếu ánh sáng (quang minh). Nhưng sở dĩphiền não bởi vì sự trong vắt và ánh sáng ấy bị khúc xạ qua những gấp khúc, gập ghềnh, cong queo, cá nhân mà thành ra phiền não.

Giới là để cho tâm bằng phẳng, không cong quẹo khiến sự trong vắt và tỏa chiếu ánh sáng của Phật tánh tức “Pháp thân đương nhiên thường trụ”, được hiển bày trọn vẹn.

2/ Giới là sự biểu hiện của Phật tánh trên bình diện thế giới vật lýtâm lý

Các giới Bồ tát là sự biểu lộ của Phật tánh trên bình diện của thế giới kinh nghiệm được của con người. Giới là những điều nên làm và không nên làm, tương ưng, tương thông với Phật tánh.

Như vậy, khi giữ gìn, làm theo với tất cả thân tâm một giới, chỉ một giới, khi ấy chúng ta tiếp thông trực tiếp với Phật tánh.

Ở đây chỉ nói qua vài điểm trong 48 giới nhẹ (khinh cấu tội) để thấy giới liên hệ với Phật tánhnhư thế nào.

Với cha mẹ anh em bà con phải có lòng từ bi, hiếu thuận. Nếu trở lại vu khống cho là phạm tội nghịch sẽ đọa vào nẻo xấu, Phật tử này phạm khinh cấu tội”. (giới thứ 13)

Nên có lòng hiếu thuận, cung kính, không sanh tâm kiêu mạn sân hận, ngu si, không chịu tiếp đón vái chào những bậc đại đức, những người đồng học, đồng kiến, đồng hạnh...” (giới thứ 1)

Kinh nhắc nhiều lần đến “hiếu thuận, cung kính, từ bi” vì nếu không có những tâm này, cái tôi và những phiền não của nó sẽ phá hoại, cắt đứt nẻo đường nối kết với Phật tánh. Hiếu thuận, cung kính, từ bi là sự biểu lộ của Phật tánh nơi thân tâm hạn hẹp của con người. Từ bi hiếu thuận cung kính đối với người khác, bởi vì người khác có Phật tánh, người khác là biểu lộ của Phật tánh.

Giới không đi nghe pháp, không thưa hỏi về pháp” (giới thứ 7): không nghe pháp, không học hỏi pháp là vì phân biệt, thương ghét pháp sư, kiêu mạn xem thường... điều này tăng thêm nhân ngã và có lỗi với chính Phật pháp. Trong khi ấy trong Phật tánh thì không có lỗi lầm nhân ngã, và sự lười biếng không muốn đi học hỏi.

Giới không được chứa binh khí, như dao, gậy, cung tên...” (giới thứ 10): chứa những binh khí là đã có tâm giết hại, dù chưa phát ra thành hành động. Trong Phật tánh hoàn toàntừ bi, làm gì có tâm ý giết hại phá hư tâm từ bi, vốn là một phẩm tính của Phật tánh.

Giới phóng hỏa, vì tâm ác đốt núi rừng đồng cỏ, từ tháng tư đến tháng chín. Tất cả chỗ có sinh vật, không được cố tình thiêu đốt” (giới thứ 14). Không được làm hại đến sinh vật, cỏ cây. Nếu làm hại một cách cố tình hay bất cẩn thì phạm khinh cấu tội. Phá hoại thiên nhiên, làm hại sinh vật là xem cái gì ở ngoài mình đều là đối thủ, kẻ thù. Sự phân cách giữa sự sống của tôi và sự sống của ‘cái khác, người khác’ khiến cho cái thấy Phật tánh bị phân chiathành các mặt chống trái nhau, cái thấy Phật tánh thành phân mảnh đối nghịch nhau. Làm hại cái ở ngoài mình tức là làm hại chính mình.

Nói theo câu kinh ở trên, thay vì “tất cả ý thức, sắc, tâm, là tình là tâm đều nhập vào giới Phật tánh”, thì phạm giớiý thức, sắc, tâm, là tình là tâm đều không nhập vào giới Phật tánh mà chia lìa, ngăn cách nhau. Sự chia lìa ngăn cách nhau này tạo thành khổ đau, tạo thành sanh tử.

Trái lại, giữ giớiduy trì sự nối kết, tương ưng, tùy thuận với Phật tánh. Mỗi giới là sự biểu lộ của Phật tánh, sự phóng chiếu của bản thể Phật tánh lên bình diện thế giới hiện tượng, thế nên đi lần từ sự phóng chiếu ấy, người ta có thể thấu đạt đến nguồn của sự phóng chiếu, tức là Phật tánh “kim cương quang minh”, “Pháp thần đương nhiên thường trụ”.

3/ Giới làm hiển lộ Phật tánh nơi xã hội

Giới Bồ tát hoạt động ở giữa đời, chú trọng đến mối tương quan giữa người với người, nghĩa là những tương quan tạo thành xã hội.

Trong xã hội hiện đại có những lãnh vực mới, cần phải mở rộng các giới hơn để bao trùm hơn nữa. Thí dụ “Giới hai lưỡi” (giới thứ 19), đến với người này, chỗ này thì nói thế này, đến người kia, chỗ kia thì nói thế kia, “đâm thọc hai đầu, gây ra sự bất hòa”.

Giới không nói hai lưỡi, nghĩa là thành thật, trung thực, công bình trong lời nói. Điều này xảy ra trong mọi lúc, mọi nơi: với cấp trên, với cấp dưới, với người mua hàng, trong quảng cáo, trong kinh tế, trong sự sinh hoạt xã hội. Người trung thực, không nói lưỡi hai chiều, trước hết lợi cho mình, có uy tín, và sâu hơn, không gây nhân xấu để phải chịu quả xấu. Hơn nữa khi ta tôn trọng người khác “có Phật tánh, là một vị Phật sẽ thành” người ấy sẽ có ngày nhận raPhật tánh nơi chính họ.

Chỉ một giới không nói lưỡi hai chiều cũng cho thấy nó bao trùm mọi tương quan, mọi giao dịch, mọi làm ăn trong đời sống xã hội. Và như thế, xã hội bớt đi sự lừa đảo, dối trá, vu khống... và sẽ bình an, trật tự hơn.

Giới Bồ tát đặt nền trên nền tảng Phật tánh nên nó Phật tánh hóa mọi tương quan tạo thành xã hội, khiến cho xã hội tiến bộ theo chiều hướng đúng hơn (Chân) tốt hơn (Thiện) đẹp hơn (Mỹ).

Giới Bồ tát là để hiển lộ Phật tánh nơi mình và nơi người. Điều đó sẽ làm cho xã hội đi đúng nhiệm vụtrách nhiệm cao cả của mình. Cho nên giới Bồ tát là một hệ thống thực hànhthực tiễn nhất cho mọi người tiến bộ đồng thời cả ba mặt: thân thể với thế giới vật lýsinh lý, ý thức với thế giới con người, và tâm linhthế giới của Phật tánh.

Giới Bồ Tát: Tất Cả Chúng Sanh Đều Có Phật Tánh


Nguyễn Thế Đăng

bo tat
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đó là niềm tin và hành động, ý nghĩa sống của một người thực hành Bồ tát đạo. Sự thật ấy được nói đến nhiều trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, hơn nữa, sống như thế nào, hành động như thế nào trong cuộc đờithế giới này được nói trong Kinh Phạm Võng Bồ tát giới(Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344-413) dịch, Đại chánh tân tu – số T24n1484).

1/ Nền tảng của đời sống

Kinh này được gọi là “phẩm Tâm Địa Pháp Môn”. Kinh nói Tâm Địa pháp môn như sau:

Nơi cung của Đại Tự Tại Thiên Vương, Đức Phật giảng phẩm Tâm Địa Pháp Mônthuở trước Phật Lô Xá Na đã giảng ở thế giới Liên Hoa Tạng.

Lại từ cung trời Thiên Vương, đức Phật xuống cõi Diêm Phù Đề, dưới cây Bồ đề, vì tất cả chúng sanh trên trái đất này, hạng phàm phu mờ tối mà giảng một giới Kim Cương Quang Minh Bảo Giới. Giới này Phật Lô Xá Na khi mới phát tâm Bồ đề đã thường trì tụng.

Giới pháp này là bổn nguyên của tất cả chư Phật, bổn nguyên của tất cả Bồ tát, là hạt giốngPhật tánh (của tất cả chúng sanh).

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả ý thức, sắc, tâm, là tình, là tâm đều nhập vào trong giới Phật tánh này. Vì đương nhiên có nhân (Phật tánh) nên đương nhiên có Pháp thânthường trụ.

Giờ đây Đức Phật sẽ giảng lại cho đại chúng mười giới phẩm Vô tận tạnggiới bổn nguyên tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh”.

Giới Bồ tát là tin rằng ta và tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có nền tảng Phật tánh bình đẳng với tất cả các bậc giác ngộ, có điều ở chúng ta Phật tánh ấy còn bị nhiễm ô bởi các thứ phiền não tham, sân, si... nên tạm thời bị che mờ.

Thế nên trong Kinh Phạm Võng này, Đức Phật tuyên bố:

Đại chúng nên tin chắc

Các ngươi sẽ thành Phật

Ta là Phật đã thành

Thường tin được như vậy

Giới phẩm đã trọn vẹn.

Tâm địa pháp môn là nơi đất tâm (tâm địa) của mỗi chúng sanh vốn có Phật tánh, và Phật tánh này là “giới bổn nguyên tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh”. Phật tánh này vốn hằng hằng thanh tịnh, đó là “bổn nguyên của tất cả chư Phật, bổn nguyên của tất cả Bồ tát, là hạt giống Phật tánh của tất cả chúng sanh”.

Giới Bồ tát là những hành động của thân, khẩu, ý khiến loại trừ những chướng ngại đối với Phật tánh vốn sẵn và nối kết, tương ưng với Phật tánh thanh tịnh ấy.

Tất cả mọi pháp, từ ý thức, cho đến thế giới vật lý (sắc), tinh thần (tâm), những phiền não(tình), tâm, đều nằm trong Phật tánh.

“Tất cả ý thức, sắc, tâm, là tình là tâm đều nhập vào trong giới (phạm vi) Phật tánh này”.

Tất cả các pháp sắc – tâm đều ở trong Phật tánh. Hơn thế nữa, với người đã ở trong Phật tánh thì tất cả các pháp kinh nghiệm được đều lưu xuất từ Phật tánh, đều là Phật tánh.

Nếu tất cả các pháp đều lưu xuất từ Phật tánh, thế thì tại sao có phiền não? Phật tánh là “Kim Cương Quang Minh Bảo Giới”, luôn luôn trong vắt như kim cương, luôn luôn tỏa chiếu ánh sáng (quang minh). Nhưng sở dĩphiền não bởi vì sự trong vắt và ánh sáng ấy bị khúc xạ qua những gấp khúc, gập ghềnh, cong queo, cá nhân mà thành ra phiền não.

Giới là để cho tâm bằng phẳng, không cong quẹo khiến sự trong vắt và tỏa chiếu ánh sáng của Phật tánh tức “Pháp thân đương nhiên thường trụ”, được hiển bày trọn vẹn.

2/ Giới là sự biểu hiện của Phật tánh trên bình diện thế giới vật lýtâm lý

Các giới Bồ tát là sự biểu lộ của Phật tánh trên bình diện của thế giới kinh nghiệm được của con người. Giới là những điều nên làm và không nên làm, tương ưng, tương thông với Phật tánh.

Như vậy, khi giữ gìn, làm theo với tất cả thân tâm một giới, chỉ một giới, khi ấy chúng ta tiếp thông trực tiếp với Phật tánh.

Ở đây chỉ nói qua vài điểm trong 48 giới nhẹ (khinh cấu tội) để thấy giới liên hệ với Phật tánhnhư thế nào.

Với cha mẹ anh em bà con phải có lòng từ bi, hiếu thuận. Nếu trở lại vu khống cho là phạm tội nghịch sẽ đọa vào nẻo xấu, Phật tử này phạm khinh cấu tội”. (giới thứ 13)

Nên có lòng hiếu thuận, cung kính, không sanh tâm kiêu mạn sân hận, ngu si, không chịu tiếp đón vái chào những bậc đại đức, những người đồng học, đồng kiến, đồng hạnh...” (giới thứ 1)

Kinh nhắc nhiều lần đến “hiếu thuận, cung kính, từ bi” vì nếu không có những tâm này, cái tôi và những phiền não của nó sẽ phá hoại, cắt đứt nẻo đường nối kết với Phật tánh. Hiếu thuận, cung kính, từ bi là sự biểu lộ của Phật tánh nơi thân tâm hạn hẹp của con người. Từ bi hiếu thuận cung kính đối với người khác, bởi vì người khác có Phật tánh, người khác là biểu lộ của Phật tánh.

Giới không đi nghe pháp, không thưa hỏi về pháp” (giới thứ 7): không nghe pháp, không học hỏi pháp là vì phân biệt, thương ghét pháp sư, kiêu mạn xem thường... điều này tăng thêm nhân ngã và có lỗi với chính Phật pháp. Trong khi ấy trong Phật tánh thì không có lỗi lầm nhân ngã, và sự lười biếng không muốn đi học hỏi.

Giới không được chứa binh khí, như dao, gậy, cung tên...” (giới thứ 10): chứa những binh khí là đã có tâm giết hại, dù chưa phát ra thành hành động. Trong Phật tánh hoàn toàntừ bi, làm gì có tâm ý giết hại phá hư tâm từ bi, vốn là một phẩm tính của Phật tánh.

Giới phóng hỏa, vì tâm ác đốt núi rừng đồng cỏ, từ tháng tư đến tháng chín. Tất cả chỗ có sinh vật, không được cố tình thiêu đốt” (giới thứ 14). Không được làm hại đến sinh vật, cỏ cây. Nếu làm hại một cách cố tình hay bất cẩn thì phạm khinh cấu tội. Phá hoại thiên nhiên, làm hại sinh vật là xem cái gì ở ngoài mình đều là đối thủ, kẻ thù. Sự phân cách giữa sự sống của tôi và sự sống của ‘cái khác, người khác’ khiến cho cái thấy Phật tánh bị phân chiathành các mặt chống trái nhau, cái thấy Phật tánh thành phân mảnh đối nghịch nhau. Làm hại cái ở ngoài mình tức là làm hại chính mình.

Nói theo câu kinh ở trên, thay vì “tất cả ý thức, sắc, tâm, là tình là tâm đều nhập vào giới Phật tánh”, thì phạm giớiý thức, sắc, tâm, là tình là tâm đều không nhập vào giới Phật tánh mà chia lìa, ngăn cách nhau. Sự chia lìa ngăn cách nhau này tạo thành khổ đau, tạo thành sanh tử.

Trái lại, giữ giớiduy trì sự nối kết, tương ưng, tùy thuận với Phật tánh. Mỗi giới là sự biểu lộ của Phật tánh, sự phóng chiếu của bản thể Phật tánh lên bình diện thế giới hiện tượng, thế nên đi lần từ sự phóng chiếu ấy, người ta có thể thấu đạt đến nguồn của sự phóng chiếu, tức là Phật tánh “kim cương quang minh”, “Pháp thần đương nhiên thường trụ”.

3/ Giới làm hiển lộ Phật tánh nơi xã hội

Giới Bồ tát hoạt động ở giữa đời, chú trọng đến mối tương quan giữa người với người, nghĩa là những tương quan tạo thành xã hội.

Trong xã hội hiện đại có những lãnh vực mới, cần phải mở rộng các giới hơn để bao trùm hơn nữa. Thí dụ “Giới hai lưỡi” (giới thứ 19), đến với người này, chỗ này thì nói thế này, đến người kia, chỗ kia thì nói thế kia, “đâm thọc hai đầu, gây ra sự bất hòa”.

Giới không nói hai lưỡi, nghĩa là thành thật, trung thực, công bình trong lời nói. Điều này xảy ra trong mọi lúc, mọi nơi: với cấp trên, với cấp dưới, với người mua hàng, trong quảng cáo, trong kinh tế, trong sự sinh hoạt xã hội. Người trung thực, không nói lưỡi hai chiều, trước hết lợi cho mình, có uy tín, và sâu hơn, không gây nhân xấu để phải chịu quả xấu. Hơn nữa khi ta tôn trọng người khác “có Phật tánh, là một vị Phật sẽ thành” người ấy sẽ có ngày nhận raPhật tánh nơi chính họ.

Chỉ một giới không nói lưỡi hai chiều cũng cho thấy nó bao trùm mọi tương quan, mọi giao dịch, mọi làm ăn trong đời sống xã hội. Và như thế, xã hội bớt đi sự lừa đảo, dối trá, vu khống... và sẽ bình an, trật tự hơn.

Giới Bồ tát đặt nền trên nền tảng Phật tánh nên nó Phật tánh hóa mọi tương quan tạo thành xã hội, khiến cho xã hội tiến bộ theo chiều hướng đúng hơn (Chân) tốt hơn (Thiện) đẹp hơn (Mỹ).

Giới Bồ tát là để hiển lộ Phật tánh nơi mình và nơi người. Điều đó sẽ làm cho xã hội đi đúng nhiệm vụtrách nhiệm cao cả của mình. Cho nên giới Bồ tát là một hệ thống thực hànhthực tiễn nhất cho mọi người tiến bộ đồng thời cả ba mặt: thân thể với thế giới vật lýsinh lý, ý thức với thế giới con người, và tâm linhthế giới của Phật tánh.