Pháp thiền trực tiếp do
đức Phật Thích Ca đích thân truyền cho
Ma Ha Ca Diếp,
Ma Ha Ca Diếp truyền cho
A Nan,
A Nan truyền cho
Thương Na Hòa Tu, từ Tổ từ Tổ truyền xuống
Bồ Đề Đạt Ma là thứ 28.
Bồ Đề Đạt Ma sang
Trung Quốc làm
sơ tổ, truyền cho nhị tổ
Huệ Khả,
Huệ Khả truyền cho tam
tổ Tăng Xán,
Tăng Xán truyền cho tứ
tổ Đạo Tín,
Đạo Tín truyền cho
ngũ tổ Hoằng Nhẫn,
Hoằng Nhẫn truyền cho
lục tổ Huệ Năng.
Từ đó về sau
Huệ Năng thường ngồi
thuyết pháp dưới gốc cây bồ đề. Không lâu sau, Ngài lại tới Thiều Quan,
Tào Khê thuyết pháp cho
mọi người, tu sửa
Tự viện. Sau mười năm,
tiếng tăm truyền khắp, học trò có đến hơn mười vạn người.
Những
hoạt động của
Lục Tổ Huệ Năng bắt rễ trong dân gian.
Tư tưởng học thuyết của Ngài
thể hiện trong “Đàn kinh” mở ra cục diện
hoàn toàn mới mẻ trong
Phật giáo Trung Quốc.
Giáo phái này chính là phái
Thiền tông Trung Quốc luôn luôn
cường thịnh. Tổ
Huệ Năng danh tiếng truyền khắp
Trung Quốc, tính từ
Ấn Độ đến
Trung Quốc thì
Huệ Năng là Tổ thứ 33. Trước kia mỗi Tổ
kiến tánh chỉ truyền năm bảy người, đến
Lục Tổ có 43 người
kiến tánh, cháu của
Lục Tổ là
Mã Tổ có 139 người
kiến tánh. Cho nên,
Thiền tông gọi là
Tổ sư thiền với 4 chữ “
từ Nghi đến Ngộ”.
Nghi là nhân, Ngộ là quả; có Nghi mới có Ngộ, nên nói bất Nghi bất Ngộ; tiểu Nghi tiểu Ngộ; đại Nghi đại. Muốn Ngộ phải có Nghi, nếu không có Nghi thì không có Ngộ; không những pháp xuất thế gian có Nghi có Ngộ, mà pháp thế gian cũng vậy.Như nhà khoa học Newton (1642- 1727) thấy một quả táo rơi xuống. Ông đã nghĩ tại sao quả táo lại rơi thẳng xuống đất?
Quả táo chín rồi, tại sao lại rơi xuống đất?
Tại vì gió thổi chăng? Không phải, khoảng không rộng
mênh mông, tại sao lại phải rơi xuống mà không bay lên trời? Như vậy trái đất có cái gì hút nó sao?
Mọi vật trên trái đất đều có sức nặng, hòn đã ném đi
rốt cuộc lại rơi xuống đất, trọng lượng của
mọi vật có phải là kết quả của lực hút trái đất không?
Tại sao nó không đi ngang, hoặc
đi lên ? Nhưng lại
liên tục đến
trung tâm trái đất ?
Chắc chắn, không lý nào khác rằng trái đất đã hút nó. Phải có một
sức mạnh hút kéo
vật chất & tổng
sức mạnh hút kéo trong
vấn đề trái đất phải được ở
trung tâm đất, không phải trong bất kỳ bên của trái đất do đó đó quả táo này có rơi vuông góc, hay hướng về
trung tâm nếu có
vấn đề do đó hút lấy
vật chất.. nó phải được cân đối với lượng của nó do đó táo rút ra trái đất., cũng như trái đất thu hút sự táo.
Từ đó, ông
nghiên cứu phát minh được
hấp dẫn lực của
vạn hữu. Phát minh của nhà khoa học cũng do Nghi mới Ngộ, nhưng cái Nghi của nhà khoa học gọi là
Hồ nghi. Cái Nghi của
Thiền tông gọi là Chánh nghi.
Tại sao gọi là Hồ nghi?
Hồ nghi phải qua bộ óc
nghiên cứu tìm hiểu được ngộ. Còn Chánh nghi không qua bộ óc
nghiên cứu tìm hiểu mà giữ
Nghi tình,
cuối cùng Nghi tình bùng vỡ thì Ngộ.
Vì vậy, gọi là
phương pháp tự ngộ.
Tại sao nói là
phương pháp tự ngộ?
Tự ngộ giống như
thức tỉnh chiêm bao.
Chiêm bao có hai thứ:
mở mắt chiêm bao và nhắm mắt
chiêm bao. Nhắm mắt
chiêm bao là một thức thứ 6 biến hiện (
độc đầu ý thức biến hiện).
Mở mắt chiêm bao do hai thức
đồng thời biến hiện. Nói chung là “nhất thiết
duy tâm tạo”.
Tại sao gọi là nhắm mắt chiêm bao? Nhắm mắt
chiêm bao quý vị đều có
kinh nghiệm, ban đêm ngủ trên giường,
chiêm bao thấy thân
chiêm bao tiếp xúc thế giới chiêm bao. Như
tiếp xúc cái tách, cái bàn… đều có thật chất,
tiếp xúc cái gì đều có thật chất cái nấy,
tiếp xúc nóng lạnh biết nóng lạnh, thân
chiêm bao bị đánh cũng biết đau.
Giả sử trong
chiêm bao có một vị
thiện tri thức giải thích cái tách, cái bàn… đều
không thật, luôn cả thân
chiêm bao của ông cũng
không thật. Người
chiêm bao không thể tin. Tại sao? Người
chiêm bao nói “tôi
tiếp xúc cái nào cũng thật chất, nếu nói thân tôi
không thật, vì sao người ta đánh tôi biết đau?” Nhưng khi
thức dậy, tự mình
chứng tỏ, hồi nảy những cái thật đó bây giờ ở đâu! Tìm không ra, luôn cả thân
chiêm bao cũng không tìm được.
Đang
chiêm bao, đồ vật trong phòng không thấy, lại thấy xa, thấy bên Tây, Việt Nam… Vì 5 thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân-mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) ngưng nghỉ
hoạt động, 5 thức trước là đối với
tiền trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc-sắc chất, âm thinh, mùi hương, sự xúc chạm).
Ý căn (thức thứ 6) biết xa, biết
quá khứ, biết
vị lai; nên biến hiện nhắm mắt
chiêm bao.
Tôi đang giảng, các vị đang nghe là ở trong
mở mắt chiêm bao.
Mở mắt chiêm bao gọi là
đồng thời ý thức biến hiện. Tại sao gọi là
đồng thời ý thức biến hiện? Vì 5 thức trước đang
hoạt động, như
nhĩ thức nghe được tiếng, nhưng không biết tiếng gì, tiếng người, tiếng chim, tiếng đàn bà, tiếng đàn ông… đều không biết; phải có thức thứ 6
đồng thời nổi lên, mới
phân biệt được tiếng đàn ông, tiếng đàn bà, tiếng chim…Nếu chỉ có thức thứ 6 thì không
nghe được tiếng, lấy cái gì để phân biệt? Cho nên phải có
nhĩ thức nghe tiếng, rồi thức thứ 6
phân biệt. Hai cái thức
đồng thời nổi lên biến hiện
mở mắt chiêm bao.
Nhưng nhắm mắt
chiêm bao, mình ngủ
đã rồi tự
thức dậy; còn
mở mắt chiêm bao không bao giờ
thức tỉnh, phải
trải qua tu đúng lời dạy của Phật
Thích Ca (pháp thiền trực tiếp là
Tổ sư thiền), sau này tự
thức tỉnh gọi là
kiến tánh thành Phật.
Chưa
thức tỉnh tiếp xúc cái gì cũng thấy thật chất, như nhắm mắt
chiêm bao vậy. Dẫu cho Phật
Thích Ca giải thích cái này cái kia đều
không thật,
chúng ta không thể tin. Như Phật nói trong
Bát Nhã Tâm Kinh “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý;
vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. Cái nào cũng không có, nhưng
tuyệt đối không phải không có. Chữ Vô là
không thật, có mà
không thật.
Lục căn,
lục trần,
lục thức đều chẳng thật;
cho đến Tứ Diệu Đế (khổ, tập, diệt, đạo) của
Phật thuyết cũng chẳng thật,
Thập Nhị Nhân Duyên (từ
vô minh đến
lão tử) dùng chữ Vô
quét sạch là
không thật,
trí huệ Bồ Tát cũng Vô (
vô trí diệc vô đắc) tức theo bộ óc
nhận thức đều phải tẩy sạch.
Cái biết
chân thật của
Phật tính, gọi là “Chánh Biến tri”. Tại sao gọi là Chánh Biến tri? Chánh là đúng với
thực tế, Biến là
phổ biến khắp
không gian thời gian, Tri là biết. Cái biết của bộ não biết được chỗ này lại không biết chỗ kia, nên không cùng khắp
không gian thời gian. Biết cùng khắp
không gian không có khứ lai, gọi là “Như lai”; biết cùng khắp
thời gian không có
gián đoạn, không có
sinh diệt nên gọi là “Niết bàn”.
Tại sao
Thiền tông phải tự ngộ? Phật
Thích Ca đã ngộ nói
cho biết được thì mình khỏi tu. Vì cái này không thể nói, tự mình phải
tự ngộ. Như ở trong
chiêm bao tự
thức tỉnh, tất cả khổ trong
chiêm bao tự dứt,
đạt đến tự do tự tại.
Sơ lược phương pháp tự ngộ, cơ bản có 2 yếu tố: Tin tự tâm và phát Nghi tình.
Thế nào là Tin tự tâm? Mình phải Tin
tự tâm như lời Phật
Thích Ca nói “Phật tính
bình đẳng bất nhị”,
Phật tính của mình và
Phật tính của Phật
Thích Ca bằng nhau, không khác. Cho nên, tất cả
thần thông trí huệ của
Phật tính mình bằng với Phật
Thích Ca, không kém hơn một chút nào. Nếu kém hơn một chút thì có cao thấp là không
bình đẳng. Có cao thấp là nhị,
trái với lời Phật
Thích Ca.
Vì vậy, mình phải Tin
tự tâm đầy đủ, mới phát huy hết
tự tâm.
Nếu không tin làm sao phát huy hết
tự tâm, phát hiện
tự tâm gọi là
tự ngộ.
Muốn phát hiện
tự tâm phải làm sao?
Yếu tố thứ nhì là khởi
Nghi tình. Tại sao gọi là Nghi tình? Nghi là không hiểu không biết, một việc gì đã hiểu đã biết thì hết Nghi, hết Nghi không phải
tham thiền.
Tham thiền rất chú trọng cái Nghi,
Thiền tông gọi là
Nghi tình. Cho nên, Tham là Nghi, nói một cách khác là dùng cái không biết của bộ óc, để
chấm dứt tất cả biết của bộ óc.
Muốn
phát khởi Nghi tình, phải hỏi câu
thoại đầu. Như “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” Bây giờ có trời đất có ta ở đây, khi chưa có trời đất ta là cái gì? Không biết, không biết là
Nghi tình.
Thiền tông chỉ giữ cái không biết của bộ óc để
chấm dứt tất cả biết của bộ óc, đến chừng cái biết của bộ óc
chấm dứt hết,
cuối cùng cái không biết của bộ óc bùng vỡ thì cái không biết của bộ óc cũng tan rã, Biết và không Biết đều sạch hết thì cái biết
Phật tính hiện lên, gọi là
kiến tánh thành Phật.
Cái biết của bộ óc là tướng bệnh, nên không cùng khắp, biết chỗ này không biết chỗ kia. Cái biết
Phật tính vốn cùng khắp
không gian thời gian. Cái biết bộ óc ngủ mê không biết, chết giấc không biết, chết rồi không biết. Cái biết
Phật tính thì ngủ mê vẫn biết, chết giấc cũng biết, chết rồi cũng biết.
Nếu chết rồi không biết thì không cùng khắp
thời gian, cùng khắp
thời gian nên lúc nào vẫn biết. Cùng khắp
không gian cũng vậy, như kinh Phật nói “ở ngoài
hằng sa thế giới, có một giọt mưa cũng biết;
vô lượng chúng sinh có một
chúng sinh nổi lên một niệm cũng biết”.
Nếu không biết là
thiếu sót, không phải cùng khắp
không gian.
Phương pháp Tự ngộ Thiền tông rất giản dị, rất dễ.
Trong lịch sử Thiền tông có “con nít sáu bảy tuổi và
bà già tám chín chục tuổi đều
tham thiền được”. Vì muốn biết rất khó, còn không biết rất dễ, người nào cũng làm được; chỉ giữ cái không Biết là hỏi câu
Thoại đầu.
Nếu giữ cái không Biết được một phút thì một phút không
phiền não, giữ được một tiếng thì một tiếng không phiền não… Tại sao? Vì Bộ óc không biết, làm sao có
phiền não để cho mình biết! không biết
phiền não tự nhiên không có
phiền não.
Nhưng lúc
thực hành phải hỏi khít khít, vừa hỏi dứt hỏi nữa; nếu hỏi rồi một hồi hỏi nữa thì có kẻ hở,
phiền não ở nơi kẻ hở nổi lên.
Vọng tưởng nổi lên không được thì tâm mình được
thanh tịnh.
Tâm thanh tịnh hiện ra cái dụng, cái dụng là do cái tâm.Người đời xem “Không Môn” là
tiêu cực, cho rằng Tăng sĩ
chán đời đi
xuất gia.
Sự thật, chữ Không của
Phật pháp rất
tích cực, luôn
hiển bày cái Dụng.
Nếu không có “Không” thì không có Dụng. Cho nên, ngài
Long Thọ nói “vì có nghĩa “Không” nên được
thành tựu tất cả pháp”.
Như cái tách Trà lấp bít, không có khoảng trống thì không để đựng nước Trà, sữa… vì có cái “Không”mới dùng được. Cái bàn không có cái “Không”chẳng thể để đồ, cái ghế không có cái “Không”chẳng thể ngồi… Muốn dùng phải có cái “Không” rộng
chừng nào thì cái Dụng nhiều chừng nấy.
Tin
tự tâm cùng khắp
không gian thời gian,
không gian thời gian mênh mông, làm sao
chứng tỏ cùng khắp. Tâm mình không có
hình tướng, không có
âm thanh, làm sao cho mình biết cùng khắp? Tôi mượn ánh sáng đèn
thí dụ cho quý vị hiểu được cùng khắp
không gian thời gian. Ánh sáng đèn ở đây có một hai, ba, bốn… mỗi cây đèn có ánh sáng đều cùng khắp
không gian (người học khoa học cũng biết ánh sáng cùng khắp
không gian).
Bây giờ, chỉ nói ánh sáng cùng khắp
giảng đường này. Nếu đã cùng khắp thì sự
tương đối không có (
Đại Thừa Tuyệt Đối Luận nói là
tuyệt đối). Nguồn gốc của
tương đối là Có và Không có, tất cả phát sinh
tai họa do có
Ngã chấp, ta muốn hơn người, ta muốn hưởng nhiều hơn người, cái gì cũng muốn hơn người, nên
tranh giành với nhau, xảy ra
xung đột đổ máu.
Phát hiện được
bản thể cùng khắp
không gian thời gian thì sự
tương đối không còn. Như ánh sáng đèn nào cũng cùng khắp, có Ngã và
Vô ngã không thể
thành lập. Tại sao? Thay cho đèn số 1 là ta (Ngã), nếu có Ngã thì quý vị chỉ ra ánh sáng nào thuộc về cây đèn số 1 của ta? Vì ánh sáng cùng khắp nên
chỉ không ra, vậy
Ngã không thể
thành lập. Nói
Vô ngã thì chỉ chỗ nào không có ánh sáng đèn số 1 của ta? Cũng
chỉ không ra, vì đã cùng khắp.