BA MƯƠI NGÀY THIỀN QUÁN
Joseph Goldstein
Nguyễn Duy Nhiên Việt dịch
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội 2008
Buổi tối thứ mười sáu
Nghiệp báo
Có một người hỏi đức Phật rằng tại sao có người sinh ra lại giàu có, trong khi những người khác nghèo khổ; có người được thân thể khỏe mạnh, trong khi kẻ khác lại ốm yếu, bệnh tật? Tại sao có người đẹp đẽ và có người lại xấu xí? Tại sao có người nhiều bạn hữu, trong khi người khác lại chẳng có ai? Điều gì có thể giải thích được sự sai biệt này giữa mọi người với nhau?
Đức Phật trả lời rằng mỗi người đều là kẻ thừa kế, nhận lấy những nghiệp báo mà chính họ đã tạo ra trong quá khứ. Thật ra, chính vì những việc làm trong quá khứ mà chúng ta mới sinh ra trong cõi này. Cuộc sống mà chúng ta đang kinh nghiệm trong giờ phút hiện tại đây chính là kết quả huân tập của những việc làm trong quá khứ.
Đức Phật còn giải thích thêm rằng những hành động như thế nào sẽ đưa đến những kết quả như thế nào. Ngài nói, những ai làm việc giết hại sẽ bị chết yểu. Những ai phóng sinh sẽ có một cuộc sống trường thọ. Những người gây khổ đau cho kẻ khác sẽ sinh ra ốm yếu bệnh tật. Những ai theo con đường không bạo động, sẽ có một cuộc sống khỏe mạnh. Đức Phật dạy rằng, những ai tham lam ích kỷ sẽ có một cuộc sống nghèo khó. Những ai biết bố thí, rộng rãi sẽ được giàu có sung túc. Đây chính là sự vay trả theo luật nhân quả. Mỗi hành động đều tạo thành một kết quả.
Những ai buông thả theo sự tức giận, luôn sử dụng ngôn ngữ thô lỗ sẽ có một vẻ ngoài khó coi, xấu xí. Còn những ai thực hành tâm từ bi, ăn nói dịu dàng, sẽ có một vẻ ngoài đẹp đẽ, sáng sủa. Chúng ta là người nhận lãnh kết quả những hành động của chính mình trong quá khứ. Những người thường có hành động bất hòa, tà dâm, trộm cắp, sẽ phải giao du với những kẻ mê muội, không có nhiều bạn hữu và sẽ không có cơ hội gặp Phật pháp. Còn những ai biết giữ giới luật sẽ gặp những hoàn cảnh thuận tiện, giao du với những thiện tri thức và được nhiều sự giúp đỡ trong cuộc sống. Những ai không bao giờ biết thắc mắc về cuộc sống này, không hề tìm hiểu bản tâm, cũng không để ý phân tách tự thể của sự vật chung quanh, sẽ sinh ra với sự ngu si và mê muội. Còn những ai biết thắc mắc, tìm hiểu, luôn đi tìm câu trả lời về ý nghĩa chân thật cuộc sống này, sẽ sinh ra làm người sáng suốt, khôn ngoan. Tóm lại, tất cả chỉ là sự vận hành của luật nhân quả.
Không có ai ở trên trời quyết định số mạng, vận mệnh của ta hết. Hiểu được luật nhân quả, ta sẽ có thể tự tạo lập số mệnh cho mình. Có những con đường dẫn ta đến nơi cao thượng, an lạc; cũng có những con đường đưa ta xuống chốn khổ đau. Khi chúng ta hiểu được điều này, ta được tự do hoàn toàn trong sự chọn lựa của mình.
Có bốn loại nghiệp chánh tác dụng đến đời sống chúng ta. Loại thứ nhất được gọi là nghiệp tái sinh. Chúng là sức mạnh quyết định cảnh giới cho kiếp sống sắp tới của ta, được tạo ra bởi những hành động mà ta đã làm. Những hành động này có khả năng dẫn ta tái sinh vào cảnh giới của người, hoặc những cảnh giới thấp hơn, hoặc cảnh giới của chư thiên, hoặc của loài a-tu-la.
Loại thứ hai là nghiệp trợ duyên. Đây là những hành động có ảnh hưởng duy trì và trợ lực cho nghiệp tái sinh. Thí dụ như ta có một nghiệp tái sinh tốt và được sinh vào cảnh giới người. Đây là một cảnh giới có hạnh phúc. Nghiệp trợ duyên là những việc làm giúp cho kiếp sống làm người của ta được thuận lợi hơn. Chúng duy trì cho nghiệp tái sinh được tốt và trợ lực cho các hạnh phúc được khởi sinh.
Loại thứ ba là nghiệp bổ đồng. Nó có ảnh hưởng ngăn trở nghiệp tái sinh. Giả sử ta có những thiện duyên và được tái sinh làm con người, nhưng chúng ta lại bị đủ mọi khó khăn, đau đớn, khổ cực. Đó là ảnh hưởng của nghiệp bổ đồng. Nghiệp tái sinh dẫn đến cảnh giới tốt có đầy thiện duyên, nhưng chúng bị ảnh hưởng của nghiệp bổ đồng làm suy yếu và trở ngại, khiến ta gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn. Nhưng nghiệp bổ đồng cũng có tác dụng ngược lại. Giả sử có người bị tái sinh vào cảnh giới súc sinh. Đây là một nghiệp tái sinh xấu, vì bị sinh vào một cảnh giới thấp hơn. Nhưng nghiệp bổ đồng khiến cho kiếp thú đó lại trở nên rất dễ chịu, cũng giống như những con vật được nâng niu, chìu chuộng trong xã hội Tây phương. Những con vật này đôi khi lại còn được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người khác trên thế giới. Loại nghiệp này có tác dụng làm trở ngại nghiệp tái sinh xấu. Nó có ảnh hưởng hai chiều.
Loại nghiệp cuối cùng được gọi là nghiệp tiêu diệt. Nó có khả năng tiêu diệt hoàn toàn năng lực của một nghiệp khác. Giả sử bạn bắn một mũi tên vào không trung. Mũi tên bay theo một sức đẩy nhất định nào đó, và nếu không bị ngăn trở, nó sẽ tiếp tục bay cho đến khi hết sức rồi sẽ rơi xuống. Nghiệp tiêu diệt cũng như một chướng ngại vật chận đứng sức bay của mũi tên và làm nó rơi xuống đất. Có những người bị chết yểu. Những người này có thể có nghiệp tái sinh và nghiệp trợ duyên tốt đẹp, nhưng vì một hành động xấu nào đó trong quá khứ mà nghiệp tiêu diệt đã làm ngưng đường bay của mũi tên, tiêu diệt mọi năng lực của các nghiệp tốt khác.
Vào thời đức Phật, có một câu chuyện thí dụ cho ta thấy sự hoạt động của những nghiệp này. Có một người cúng dường thực phẩm cho một vị A-la-hán. Nhưng sau khi dâng thực phẩm lên, ông lại cảm thấy tiếc rẻ, hối hận. Trong bảy kiếp liên tiếp sau đó, ông ta được sinh ra làm người giàu có nhờ kết quả của việc cúng dường. Cúng dường cho một bậc giác ngộ được phước báu rất lớn. Nhưng kết quả của sự hối hận, tiếc rẻ là mặc dù ông ta sinh ra giàu có nhưng lúc nào cũng keo kiệt, hoàn toàn không hưởng được sự sung túc của mình. Những nghiệp khác nhau đem lại những kết quả khác nhau, tùy thuộc vào trạng thái tâm của ta lúc ấy.
Nghiệp tái sinh rất quan trọng và cần được hiểu rõ, vì nó có tác dụng quyết định cảnh giới tái sinh của ta. Đây là loại nghiệp hoạt động rất mạnh trong giây phút cuối cùng của sự sống. Trong giây phút lâm chung, có bốn loại nghiệp có thể khởi lên:
Thứ nhất là trọng nghiệp, có thể là nghiệp thiện hay nghiệp ác. Trọng nghiệp thuộc về ác có năm thứ, được gọi là ngũ nghịch đại tội. Đó là: giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, chia rẽ Tăng chúng và gây thương tích cho đức Phật. Chỉ một trong năm tội này có khả năng vượt trên mọi hành động trong quá khứ và quyết định việc tái sinh. Chúng chắc chắn sẽ tạo quả trước nhất nên gọi là trọng nghiệp.
Những trọng nghiệp thuộc về thiện là kết quả của việc tu tập đạt được trạng thái thiền định và duy trì cho đến khi lâm chung. Kết quả của nghiệp này là được tái sinh vào cảnh giới của chư thiên.
Trọng nghiệp bao giờ cũng giữ một địa vị ưu thế hơn mọi loại nghiệp khác. Những trọng nghiệp khác thuộc về thiện là kết quả của những giai đoạn giác ngộ khác nhau. Chúng không quyết định chắc chắn cảnh giới tái sinh của ta, nhưng điều chắc chắn là sẽ giúp đi lên những cảnh giới tốt đẹp hơn. Chúng ngăn chặn sự tái sinh vào những thế giới thấp kém.
Những loại nghiệp không có một trọng nghiệp nào để làm điều kiện tái sinh thì được gọi là cận tử nghiệp, tức là nghiệp tạo bởi những hành vi cuối cùng trước khi lâm chung. Nói một cách khác hơn, trong giờ phút lâm chung, nếu ta chợt nhớ đến những việc làm thiện, hay có ai nhắc nhở ta về những việc làm thiện, hoặc là ngay trước khi lâm chung ta làm một điều gì tốt, chúng sẽ trở thành nghiệp quyết định sự tái sinh.
Vào thời
đức Phật, có một tên sát nhân sắp sửa bị treo cổ,
lúc ấy hắn
chợt nhớ lại
trong đời có
một lần hắn đã dâng đồ ăn cho ngài riputra (Xá-lợi-phất), một
đại đệ tử của
đức Phật.
Tư tưởng cuối cùng của anh ta trước khi chết là về sự
cúng dường này. Mặc dù
trong suốt cuộc đời, anh ta đã làm biết bao điều
tội lỗi, nhưng kết quả của
tư tưởng lành
cuối cùng đó đã giúp anh được
tái sinh lên
cõi trời.
Cận tử nghiệp cũng có
tác dụng ngược lại. Nhưng
chúng ta đừng nghĩ rằng những nghiệp thiện, ác khác
tích lũy từ trước sẽ không theo ta. Điều này chỉ có nghĩa là
cận tử nghiệp chiếm phần
ưu tiên kết quả, có thể
quyết định sự
tái sinh của ta. Nhưng thường thì trong giờ phút
lâm chung tâm ta rất dễ
tán loạn,
sợ hãi, nên tập
trung tâm mình để nghĩ về một
việc thiện đã làm không phải là chuyện dễ làm.
Nếu không có
cận tử nghiệp, thì
thường nghiệp sẽ
hiện diện.
Thường nghiệp là nghiệp tạo bởi những hành động
thường xuyên lặp đi, lặp lại, hay những
thói quen. Nghiệp này sẽ
xuất hiện trong giờ phút
lâm chung. Nếu có một người nào thường tạo nhiều nghiệp
sát sinh, những
tư tưởng ấy sẽ
xuất hiện trong giây phút cuối, đó là kết quả của
thường nghiệp. Nếu người thường làm nhiều
việc thiện,
bố thí rộng rãi, hay nhiều lần
tu tập ngồi thiền, thì trong giờ phút
cuối cùng sẽ nhớ lại những hành động ấy, hoặc thấy lại
hình ảnh đang
ngồi thiền trên
tọa cụ. Điều đó sẽ
trở thành nghiệp
quyết định sự
tái sinh vào
đời sống kế tiếp.
Nếu không có
trọng nghiệp, không có
cận tử nghiệp, cũng không có một
thường nghiệp nổi bật nào, thì nghiệp tích trữ sẽ
xuất hiện để hướng dẫn sự
tái sinh. Nếu
cuộc đời chúng ta là một chuỗi dài
vô tận của những
hành vi thiện, ác
lẫn lộn, thì bất cứ hành động nào trong
quá khứ cũng có thể khởi lên trong phút
lâm chung.
Có thể ví dụ sự
hoạt động của những nghiệp này bằng
hình ảnh một đàn bò nhốt chung trong một chuồng. Buổi sáng khi mở cửa, con bò ra đầu tiên sẽ là một con bò khỏe mạnh nhất. Nó chen lấn với những con khác để được ra trước.
Nếu không có con bò nào là khỏe nhất, thì con ra trước nhất có thể là một con bò đứng cạnh cửa chuồng. Nó chỉ cần nhẹ nhàng lách mình đi ra. Nếu như cũng không có con bò nào đứng gần cửa chuồng, thì con bò ra trước nhất sẽ là con bò có
thói quen hướng dẫn những con khác. Và nếu như chẳng có con bò nào có
thói quen đó, thì bất cứ con bò nào trong đàn cũng đều có thể chen ra trước.
Nghiệp lực hoạt động tương tự như thế vào giây phút
cuối cùng của
đời sống:
trọng nghiệp,
cận tử nghiệp,
thường nghiệp và tích trữ nghiệp.
Có một
yếu tố để giữ cho ta lúc nào cũng tiến về sự thanh nhẹ,
hạnh phúc và
an lạc, đó là
chánh niệm.
Chánh niệm có
ảnh hưởng đến kết quả của
trọng nghiệp, vì
yếu tố giác ngộ.
Chánh niệm cũng có
ảnh hưởng đến kết quả ở
cận tử nghiệp. Nếu
chúng ta có
ý thức một cách sâu sắc, thì dù trong giờ phút
lâm chung tâm ta vẫn được
quân bình và không bị
chi phối bởi những sự
bất thiện.
Chánh niệm cũng là
thường nghiệp. Nếu
chúng ta thực tập mỗi ngày một cách
chuyên cần,
chánh niệm sẽ tự động khởi lên trong giây phút
lâm chung.
Ý thức chánh niệm mà
chúng ta đang
tu tập ở đây là một
năng lực vô cùng quan trọng. Chính nó sẽ là
yếu tố quyết định loại nghiệp nào
hoạt động vào phút
lâm chung.
Hỏi: Những
sinh linh ở các cõi thấp hơn
chúng ta có tạo nghiệp không?
Thí dụ như một con chó có thể tạo nghiệp vì sự
hiền lành,
dễ thương hay hung dữ,
bạo động của nó không?
Đáp:
Chúng sinh nào cũng tạo nghiệp cả, loài thú cũng vậy. Bạn có thể thấy những con vật rất
dữ tợn. Bạn có thể thấy được sự
sợ hãi,
giận dữ, thù ghét ở chúng. Cũng có những con vật rất đẹp,
dễ thương,
thoải mái. Tất cả đều
tùy thuộc vào phẩm chất của tâm.
Hỏi: Có
nghiệp chung cho một
gia đình không?
Đáp: Có một loại
nghiệp chung được gọi là cộng nghiệp.
Thí dụ như một
quốc gia theo một chính sách nào đó, sẽ tạo nên một cộng nghiệp cho
quốc gia ấy.
Chúng ta chịu chung một nghiệp với những người khác nếu
chúng ta chấp nhận hành động của họ. Nếu
chúng ta có
tư tưởng chấp nhận việc làm của một người nào, thì cộng nghiệp sẽ phát sinh. Bạn có thể thấy rõ điều này vào thời chiến tranh. Những ai
ủng hộ cuộc chiến sẽ phải cùng nhau chia sẻ nghiệp ấy. Còn những người
không chấp nhận, sẽ
tránh khỏi việc chịu chung cộng nghiệp đó. Khi còn ở
Ấn Độ, tôi có quen một người bạn đến từ Hòa Lan. Anh ta kể lại chuyện của
gia đình anh trong Thế chiến thứ hai. Anh nói rằng, không hiểu vì sao
gia đình anh lúc nào cũng có đầy đủ
thực phẩm, mặc dù cả nước đang trong
tình trạng khủng hoảng,
thiếu thốn thực phẩm, nhưng đây đó
vẫn có một số người không phải chịu chung một
hoàn cảnh đó. Bạn có thể thấy được
ảnh hưởng của
công nghiệp trên những người không
tham dự hay
ủng hộ đường lối
bất thiện của một
quốc gia, một tổ chức; họ không chịu chung một
số mệnh. Và những người tán thành các hành động, chính sách
nhân đạo sẽ
huân tập được những
thiện nghiệp về sau.
Hỏi: Có nhiều danh từ và
thí dụ của ông đưa ra làm tôi hơi
bối rối.
Đáp: Hãy gác qua một bên những
thí dụ. Hãy
đi thẳng vào
vấn đề để tự trải nghiệm thế nào là
chánh niệm. Khi có một
tư tưởng khởi lên, bạn có hai sự chọn lựa: hoặc là
tư tưởng khởi lên rồi bạn
hoàn toàn bị nó
lôi cuốn theo, không còn
ý thức được mình đang nghĩ gì, hoặc là có sự
hiện diện của
chánh niệm và
ý thức được rằng có một tiến trình
tư tưởng đang
hoạt động. Mỗi khi có
chánh niệm,
tư tưởng hay bất cứ
đề mục quán niệm nào cũng đều đến rồi đi, nếu có
ý thức một cách
rõ ràng, tâm ta sẽ giữ được sự
quân bình sau đó.
Những danh từ,
chữ nghĩa mà tôi đã dùng, có người
lãnh hội được, cũng có người không hiểu. Điều đó không quan trọng. Hãy chọn những danh từ,
ý niệm nào giúp bạn làm
sáng tỏ được
vấn đề, còn lại thì cứ bỏ hết. Chỉ có
kinh nghiệm được những gì đang xảy ra mới là quan trọng, chứ không phải sự
mê muội chấp nhận những gì người khác nói.
Trí tuệ phát xuất từ một
nội tâm thinh lặng chứ không phải qua những lời phân tích,
bàn luận.
Hỏi: Nhưng rất nhiều khi người ta ăn một cái bánh vì vẻ ngoài, vì màu sắc của nó.
Đáp: Cứ chọn những vẻ ngoài, những màu sắc nào
hấp dẫn bạn. Nhưng nhớ là phải ăn cái bánh! Có một giáo sư
đại học ra biển trên chiếc tàu nhỏ. Một hôm, ông hỏi người thủy thủ già: “Ông có biết gì về
Đại dương học không?” Người thủy thủ già nói rằng ông ta thậm chí chẳng hiểu danh từ đó có nghĩa là gì. Giáo sư nói: “Ông đã bỏ phí mất một phần tư
cuộc đời vì sống trên biển mà lại không biết gì về
Đại dương học.” Sau đó, vị giáo sư lại hỏi: “Thế ông có biết gì về Khí tượng học không?”
Một lần nữa, người thủy thủ già đáp rằng ông chưa từng nghe qua danh từ đó. Giáo sư
chép miệng than rằng: “Thật đáng tiếc! Vậy là ông đã bỏ phí cả một nửa
cuộc đời rồi!” Lát sau, giáo sư lại hỏi: “Ông có biết gì về
Thiên văn học không?” Người thủy thủ già đáp: “Tôi không biết gì cả.” Vị giáo sư tỏ vẻ thương cảm: “Thật tội nghiệp! Ông đi biển
cả đời, rất cần những vì sao để định
phương hướng, nhưng ông lại không biết gì về
Thiên văn học cả. Vậy là ông đã bỏ phí mất ba phần tư
cuộc đời mình rồi!”
Không lâu sau đó, người thủy thủ già vội vã tìm gặp giáo sư và hỏi: “Giáo sư, ông có biết bơi không?” Vị giáo sư lắc đầu: “Không, tôi không biết. Tôi chưa học bơi bao giờ.” Người thủy thủ già lắc đầu
ái ngại: “Ồ, như vậy thật
tội nghiệp cho giáo sư! Tàu
chúng ta đang chìm. Vậy là giáo sư đã bỏ phí cả
cuộc đời mình rồi!”
Hãy nhớ, chỉ có môn bơi lội mới thật sự là quan trọng!