Thư Viện Hoa Sen

Sơ Lược Về Thiền Tông Việt Nam

THIỆN PHÚC
SƠ LƯỢC VỀ
THIỀN TÔNG VIỆT NAM
(SUMMARIES OF THE
VIETNAMESE ZEN SCHOOLS)

SƠ LƯỢC VỀ THIỀN TÔNG VIỆT NAM-VIET
SƠ LƯỢC VỀ THIỀN TÔNG VIỆT NAM-ANH

Copyright © 2026 by Ngoc Tran. All rights reserved.

No part of this work may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying and recording, or by any information storage or retrieval system without the prior written permission of the author, except for the inclusion of brief quotations. However, staff members of Vietnamese temples who want to reprint this work for the benefit of teaching of the Buddhadharma, please contact Ngoc Tran at (714) 778-2832.

Mục Lục

Mục Lục
Lời Đầu Sách
Phần Một: Sơ Lược Về Đạo Phật & Thiền Phật Giáo
Chương Một: Tóm Lược Về Đạo Phật
Chương Hai: Đại Cương Về Thiền Định
Chương Ba: Thiền Trong Thời Sơ Kỳ Phật Giáo
Chương Bốn: Thiền và Đức Phật
Chương Năm: Thiền Trong Giáo Lý Đạo Phật
Phần Hai: Thiền Tông Từ Tây Thiên Đến Đông Độ Buổi Sơ Thời
Chương Sáu: Thiền Tông Ấn Độ
Chương Bảy: Tổng Quan Về Dòng Truyền Thừa & Hai Mươi Tám Tổ Trong Thiền Tông Ấn Độ
Chương Tám: Sơ Lược Về Thiền Tông Trung Hoa
Chương Chín: Lc Tổ Đầu Tiên Ca Thiền Tông Trung Hoa
Phần Ba: Sơ Lược VPhật Giáo & Thin Tông Vit Nam
Chương Mười: Sơ Lược VPhật Giáo Vit Nam
Chương Mười Mt: Sơ Lược VThin Tông Vit Nam
Chương Mười Hai: Giáo Lý Thiền Bắc Truyền Của Thiền Tông Việt Nam Dựa Theo Truyền Thống Bắc Truyền Hay Tổ Sư Thiền
Chương Mười Ba: Giáo Lý Thiền Nam Truyền Của Việt Nam Cũng Là Giáo Lý Thiền Của Truyền Thống Phật Giáo Nguyên Thủy
Chương Mười Bốn: Con Đường Thiền Quán Của Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam
Chương Mười Lăm: Chư Thiền Đức Mở Đạo Tại Việt Nam Trước Thời Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi
Phần Bốn: Các Thin Phái Tại Việt Nam
Chương Mười Sáu: Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi
Chương Mười Bảy: Thiền Phái Vô Ngôn Thông
Chương Mười Tám: Dòng Thiền Thảo Đường
Chương Mười Chín: Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử
Chương Hai Mươi: Thiền Phái Tào Động Việt Nam
Chương Hai Mươi Mốt: Thiền Phái Lâm Tế Việt Nam
Chương Hai Mươi Hai: Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam & Thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ
Chương Hai Mươi Ba: Hệ Phái Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam & Con Đường Thiền Quán
Chương Hai Mươi Bn: Phật Giáo Mật Tông Việt Nam & Con Đường Thiền Quán
Tài Liệu Tham Khảo

Lời Đầu Sách


Phật giáo có lẽ đã được đưa vào Việt Nam bằng đường biển hồi đầu thế kỷ thứ nhất. Người ta tin rằng trong ba trung tâm Phật giáo cổ đại ở Đông Á là Lạc Dương, Bành ThànhLuy Lâu thì trung tâm Luy Lâu ở Giao Chỉ là trung tâm Phật giáo đầu tiên được thành lập dưới triều Hán vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch. Thời đó Luy Lâu là thủ phủ của Giao Chỉ, lúc bấy giờ là thuộc địa của Trung Hoa. Vì Luy Lâu nằm giữa con đường giao thương Ấn Hoa, nên thời đó các nhà sư tiền phong Ấn Độ trước khi đến Trung Hoa họ đều ghé lại Luy Lâu. Vì thế mà Luy Lâu đã trở thành một điểm thuận tiện và hưng thịnh cho các đoàn truyền giáo tiên phong từ Ấn Độ đến lưu trú, truyền bá giáo lý nhà Phật trước khi các vị tiếp tục cuộc hành trình đi về phương Bắc. Cũng chính vì thế mà Tăng Đoàn Luy Lâu được thành lập trước cả Lạc DươngBành Thành. Vào thời đó trung tâm Luy Lâu có trên 20 ngôi chùa và 500 Tăng sĩ. Chính ra Khương Tăng Hội là vị Thiền sư Việt Nam đầu tiên; tuy nhiên, thiền phái Việt Nam chỉ bắt đầu được thành lập từ thời Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi vào thế kỷ thứ VI mà thôi.

Vào khoảng thế kỷ thứ hai thì tại Giao Chỉ đã có những vị Tăng nổi tiếng, điển hình là ngài Khương Tăng Hội. Tuy nhiên, Phật giáo Việt Nam chưa được phát triển mạnh cho mãi đến năm 580 khi Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một vị sư Ấn Độ, là đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán, trước khi dòng Thiền Trung Hoa bị chia làm hai, Bắc và Nam tông, đã đến Việt Namsáng lập dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Tổ truyền của dòng Thiền đầu tiên nầy chấm dứt sau khi tổ thứ 28 của nó thị tịch vào năm 1216. Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó còn rất mạnh ở phía Bắc. Dòng Thiền thứ hai tại Việt Nam được phát khởi bởi một nhà sư Trung Hoa tên là Vô Ngôn Thông, một đệ tử của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải. Tổ truyền của dòng Thiền nầy chấm dứt vào thế kỷ thứ 13, dù dòng Thiền nầy vẫn tồn tại. Mặc dù hai dòng Thiền nầy không còn tồn tại như những dòng truyền thừa, nhưng chính hai dòng Thiền nầy đã đặt nền móng vững chắc cho Phật giáo Việt Nam. Dưới thời nhà Đinh (969-981), vua Đinh Tiên Hoàng đã đặt ra Tăng Già Việt Nam được nhà vua bảo trợbổ nhiệm những vị sư nổi tiếng vào các chức vụ trong triều, những chức vụ mà trước kia đều do các học giả Khổng Nho đảm nhiệm. Dưới thời nhà Tiền Lê (981-1009), bộ Đại Tạng bằng Hán văn đầu tiên đã được thỉnh về từ Trung Quốc, làm căn bản giáo điển cho Phật giáo Việt Nam.

Thời nhà Lý là thời hoàng kim của nền tự chủ Việt Nam. Năm 1069, vua Lý Thánh Tôn phát động chiến dịch Nam tiến chống lại Chiêm Thành, trong chiến dịch nầy trong số hàng trăm ngàn tù binh bắt được, có một tù binh rất đặc biệt được đưa về kinh đô Thăng Long, một nhà sư Trung Hoa tên Thảo Đường. Với sự hổ trợ mạnh mẽ của vua Lý Thánh Tôn, dòng Thiền Thảo Đường đã được khai sáng. Về sau nầy tông phái Tịnh Độ cũng được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc chiếm vị thế khá mạnh và tồn tại cho đến ngày nay. Ngoài ra, hầu hết những tông phái Phật giáo Trung Hoa đều được truyền bátồn tại tại Việt Nam.

Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử là một trong những thiền phái tiên khởi của Việt Nam, được vua Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba dưới thời nhà Trần sáng lập. Thiền phái này khởi nguồn từ Thiền phái Lâm TếVô Ngôn Thông từ Trung Hoa, và có lẽ đây là thiền phái riêng biệt đầu tiên của Thiền Tông Việt Nam. Tuy nhiên, thiền phái này chỉ tồn tại được đến đời vị tổ thứ ba là ngài Huyền Quang. Theo lịch sử Việt Nam, Phật giáo đời Trần, tức Phật giáo Trúc Lâm, do Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông lãnh đạo đã trở thành một hệ thống tư tưởng triết lý Phật giáo gắn chặt với dân tộc.

Phái Tào Động được truyền thẳng từ Thiền phái của Lục TổTào Khê, Trung Hoa. Truyền thống Thiền tông Trung Hoa được ngài Động Sơn Lương Giới cùng đệ tử của ngài là Tào Sơn Bổn Tịch sáng lập. Tên của tông phái lấy từ hai chữ đầu của hai vị Thiền sư này. Có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của phái Tào Động. Một thuyết cho rằng nó xuất phát từ chữ đầu trong tên của hai Thiền sư Trung QuốcTào Sơn Bổn TịchĐộng Sơn Lương Giới. Một thuyết khác cho rằng đây là trường phái Thiền được Lục Tổ Huệ Năng khai sáng tại Tào Khê. Ở Việt Nam thì Tào Động là một trong những phái Thiền có tầm cở. Những phái khác là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Lâm Tế, Thảo Đường, vân vân. Tào Động nhấn mạnh đến tọa thiền như là lối tu tập chính yếu để đạt được giác ngộ. Trong khi phái Tào Động đặt pháp Mặc Chiếu Thiềnphương pháp 'Chỉ Quán Đả Tọa' lên hàng đầu; thì phái Lâm Tế lại đặt lên hàng đầu Khán Thoại Thiềnphương pháp công án.

Phái Lâm Tế được truyền thẳng từ Trung Hoa từ tổ Lâm Tế sang Việt Nam. Ngày nay hầu hết các thiền viện của Việt Nam đều thuộc tông Lâm Tế. Tưởng cũng nên nhắc lại, Lâm Tế là một trong những trường phái Thiền nổi tiếng của trung Quốc được Thiền sư Lâm Tế sáng lập. Lâm Tếđại đệ tử của Hoàng Bá. Vào thời kỳPhật giáo bị ngược đãi ở Trung Quốc khoảng từ năm 842 đến năm 845 thì thiền sư Lâm Tế sáng lập ra phái thiền Lâm Tế, mang tên ông. Trong những thế kỷ kế tiếp, tông Lâm Tế chẳng những nổi bật về Thiền, mà còn là một tông phái thiết yếu cho Phật giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Tông Lâm Tế mang đến cho Thiền tông một yếu tố mới: công án. Phái Thiền Lâm Tế nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự “Đốn Ngộ” và dùng những phương tiện bất bình thường như một tiếng hét, một cái tát, hay đánh mạnh vào thiền sinh cốt làm cho họ giựt mình tỉnh thứcnhận ra chân tánh của mình. Phái Lâm Tế tu tập theo các công ánhệ thống đã được các bậc thầy sưu tập, và xem nhẹ việc đọc tụng kinh điển cũng như thờ phượng tượng Phật, tìm về Phật Tánh trực tiếp bằng những công ántu tập sống thực. Phái Lâm Tế được truyền sang Việt Nam ngay sau thời tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền. Ngày nay, tông Lâm Tế vẫn còn là một trong những tông phái mạnh nhất của Phật giáo Việt Nam.

Tập sách nhỏ có tựa đề là “Sơ Lược Về Thiền Tông Việt Nam” chỉ nhằm phác họa lại sơ lược về sự phát triển Thiền Tông Việt Nam và một số chư Thiền Đức tiêu biểutác giả ghi nhận được, chứ không phải là một bộ sách nghiên cứu thâm sâu về Thiền Tông Việt Nam. Phải thật tình mà nói, khi Phật giáo và Thiền được truyền sang Việt Nam, giáo pháp nhà Phật hòa quyện một cách tuyệt vời với tín ngưỡng dân gian để trở nên một thứ giáo lý vô cùng đặc biệt như giáo pháp Phật giáo Hòa Hảo chẳng hạn. Dầu bất cứ chuyện gì đã xảy ra, sự am hiểu Phật giáo và Thiền vẫn luôn luôn là một vấn đề không dễ lãnh hội như những giáo pháp khác. Cuộc hành trình của người tu Phật đòi hỏi nhiều cố gắnghiểu biết liên tục. Chính vì thế mà mặc dù hiện tại đã có quá nhiều sách viết về Phật giáo và Thiền được truyền sang Việt Nam, tôi cũng mạo muội biên soạn tập sách nhỏ có nhan đề “Sơ Lược Về Thiền Tông Việt Nam” song ngữ Việt Anh nhằm giới thiệu sơ lược về sự phát triển Thiền Tông Việt Nam cũng như một số các tông phái Thiền Tông Việt Nam và cách tu tập của tông phái này. Đồng thời một số chư thiền đức kiệt xuất tiêu biểu của Việt Nam cũng được giới thiệu trong tập sách nhỏ này. Mong cho ai nấy đều thâm nhập giáo lý vi diệu về Thiền của đức Phật và đều có được cuộc sống tỉnh thức, an lạchạnh phúc.

Cẩn đề,

Thiện Phúc