Ý NGHĨA CHÍNH CHƯ PHẬT AN LẬPTỊNH ĐỘ Sa môn Thích Phổ Tuệ
1. Độ là cõi nước, nghĩa này khác với nghĩa nước nhà. Cõi nước ở đây chỉ vào thế giới mà nói. Thế giới, theo căn cứ sách Phật là “hư không vô biên, thế giới vô số”.
Tư tưởngTrung Quốcxưa nay, lấy phạm vi đất nước là trên trời, dưới đấtngoài ra không có thế giới, cõi nước nào khác nữa, hơi khó được thông. Nhưng với thiên văn học hiện đại thì chính có thể thông được. Căn cứ thiên văn học hiện tạinghiên cứu được trong thế giới sao hỏa có nhân dân, trong không gian cực hằng tinh thái dương đại hệ là thế giới cũng có thể có người ở cho nên thế giới là không có hạn lượng. Ở trong thế giớivô lượngvô số này phải là có khổ vui tịnh uế tốt xấu nhiều thứ, sai biệt với thế giớithanh tịnhtốt đẹptrang nghiêm kia, tức là tịnh độ bởi thế nói đến tây phương tịnh độ. Về thiên văn học hiện đại rất dễ thừa nhận. Thế giới Ta bà này là thế giới khổ, không phải là thế giớitrang nghiêm yên vui tốt đẹp. Ở trong thế giới mọi khổ bức bách này, muốn cầu thoát khổ vãng sinh cõi vui, không tu tịch nghiệp thì không được, nếu tu tịnh nghiệp nhân tịnh độ có thể được quả vui cõi tịnh. Phật Thích Ca ở trong thế giới tịnh uế tốt xấu khổ vui khác nhau này đặc biệt nói ra thế giớithanh tịnh thắng diệu yên vui này. Kinh Di Đà đã nói, từ đây qua 10 vạn ức cõi Phật có thế giới gọi là Cực lạc. Người bình thường ở thế giớiSa bà này còn có chỗ không thấy, không biết, nghe ở 10 vạn cõi Phật, lại có thế giới hẳn cho là cái chuyện viển vông không căn cứ. Nhưng lấy con mắt trí tuệ của Phật mà nhìn thực có thế giới ấy như người ta hiện tiền thấy có bàn ghế. Cho nên đức Thế TônThích Ca khuyên dạy chúng sinh cõi thế giới này có những nỗi tai nạn, bức bách, phát ra tâm niệmcầu sinhthế giới Cực lạc, cần tu nghiệp tịnh sinh sang tịnh độ. Phần trên nói rõ nghĩa nhưng rất nông về thuyết vãng sinh. 2. Y vào thiên văn học, về khoa học cũng y vào trong thù thắngnghĩa đế của Phật học, cõi Phậtthanh tịnh cứu kính là tất cả tướng một pháp giớichân thật lìa tất cả phân biệt môn thuyết. Một pháp giới thực này, ở khắp mọi nơi ai ai cũng đủ nhưng không hiển hiện bởi bị phiền não làm chướng ngại, tuy khắp tất cả mà không hợp nhau, vẫn ở trong sinh tử như mộng như huyễn, lưu chuyển không thôi. Nếu có khả năng phá được nghiệp báo, phiền não huyễn mộng này, một niệm giác ngộ, một thoáng hợp nhau ngay với tịnh độ, thế là đi mà không đi đâu, sinh mà không nơi sinh đó là vãng sinh vậy. Nếu nói vãng sinh theo về thế tục đế: Đi thì quyết định đi, sinh thì quyết định sinh. Bởi tu nhân tịnh nghiệp, đến khi mệnh chungquyết định lìa cõi Sa bà này vãng sinhthế giới Cực lạc phương tây, hợp nghĩa vãng sinhthế tục đế, lại có thể nói “đi thì không đi đâu, sinh thì quyết định sinh”. Bởi ai vãng sinh, xét ra lấy báo thể (báo thân của chúng sinh) nào đúng là năng vãng sinh. Nếu bảo ngoài xác thịt người có một linh hồn, là báo thể vãng sinh thời cái thuyết linh hồn đã bị Phật học phá bỏ lâu rồi. Về Phật học dạy báo thể vãng sinh tức là thức A lại da. Thức A lại da này khắp hết mọi phương sở sinh trong quốc độ này, là bởi cái nghiệp lực năng sinh đã chín muồi, mà báo thể quốc độ này thành tựu, như thể tịnh nghiệpthành thục được sinh tịnh độ, là báo thể sinh tịnh độ được thành tựu cho nên nói: “đi thì không đi đâu, sinh thờiquyết định sinh”. Báo thân đã thành nhưng chưa hết, là báo thân ở thế giới này, nếu chết mà vãng sinhCực lạc, là thành báo thân của thế giới Cực lạc, thời đi có nơi đi, nhưng không có năng sinh, sở sinh thật tại. Xét từ đâu mà sinh ra Sa bà, từ đâu mà sinh ra Cực Lạc? Nếu tự sinh khi chưa sinh tự thể, còn không thì tự sinh sao được? Nếu là tha sinh trông mình nói người, mình đã không sinh, thì ai sinh được nếu khôngnhân sinh, thì bằng vô sinh. Trung Luận đã nói: “Mọi pháp không tự sinh, cũng không từ tha sinh, không chung mà cũng chẳng vô nhân sinh vì vậy nói là vô sinh”. Cho nên nói được đi có nơi đi, mà sinh khôngnơi sinh. Trở lên 4 câu đều không thể chấp nhậnthiên lệch, nếu có thể lìa chấp thì có thể tùy cơphương tiện đặt ra ngôn thuyết. Phàm đã sinh ra thế giới Cực lạc phương tây, đều có đủ 32 tướng của các bậc đại Bồ tát. Thế là đã sinh sang Cực lạc, tuy có nhị thừa, phàm phu… khác nhau nhưng đều thẳng tiến vào Đại thừathành Phật tất cả. Vì vậythế giới Cực lạc phương tây, thành tựu được là bởi từ thiện căn đại thừavô lậu. Bởi vì cõi thiện cănđại thừa, không những không có thể tínhnhị thừa, căn khuyết (người què, mù, điếc, câm, ngọng) nữ nhân, mà những tên (danh) nữ nhân, căn khuyết và nhị thừa v.v, đều không, chỉ có tên các bậc Bồ tátbất thoái. Không những chỉ có cõi tịnh của Phật A Di Đà mà chư Phật Bồ Tátmười phương, đều có tịnh độ. 3. Nhưng xét đến, chư Phật cớ gì lập ra cõi tịnh; Đức Thích Ca xét hợp cơ nào, mà thuyết pháp môn tịnh độ? Đó là vấn đề người tu tịnh độ phải mau giải đáp. Thì đây xin thuật: - Đời có người nhân ác báohiện tiềnsợ hãi hoảng hốt mà cầu sinhcõi tịnh. Có người nhân đói rét khốn khổ, sinh hoạtbức bách mà cầu sinhcõi tịnh. Có người về những khổ già bệnh bức não mà cầu sinhtịnh độ, đều về tâm lý “lánh khổ tìm vui” làm động cơ vãng sinhtịnh độ.
Xét ra bản ý đó chư Phật an lập ra tịnh độ. - Phật Thích Ca thuyết ra pháp môntịnh độ, tuy có phụ cái ý để chúng sinh chán khổ ưa vui, nhưng không phải cái bản ý của Phật xây dựng tuyên truyền tịnh độ, bản ý của Phật ở chỗ vì người chân chính phát tâmđại thừaBồ tát, mà an lậptuyên thuyết vậy. Tâm lý tránh khổ tìm vui của chúng sinhphàm phu chỉ ở sung sướng, không cầu đoạn tuyệt hẳn sinh tử, như chán lìa khổ ở ba đường ác, muốn giữ đời người không mất. - Chán lìa khổ não ở loài Người, muốn cầu sinh lên Trời; chán khổ cõi Dục cầu sinh lên cõi Sắc; chán khổ cõi Sắc cầu sinh lên cõi Vô sắc thì chỉ cần dùng phép “nhân thiên thừa” trong Phật pháp thụ nhặt 5 giới, 10 thiện, 8 định. - Giữ 5 giới có thể giữ được không mất thân Người, Tu 10 thiện, 8 định được sinh đạo Trời, cần gì chư Phật lập ra tịnh độ? - Đức Thích Ca thuyết ra pháp môntịnh độ này vì Người nhị thừa coi 3 cõi như ngục tù, coi sinh tử như kẻ oán, cầu ra 3 cõi dứt hẳn sinh tử, chỉ cần hiểu biết những nghĩa 3 cõi là khổ; chúng sinhbất tịnh, vô thường, vô ngã. Dựa vàotứ niệm xứ, khởi tứ chính cần, phép 8 đạo chính, v.v, 37 phận Bồ đề, tinh tiến siêu tu ở trong một đời tuy chẳng được ngay quả A la hán, có thể quyết định được quả Tu đà hoàn (dự lưu). Bởi được quả Dự lưu, thì vẫn không bị thoái chuyển để lại chịu được những khổ phiền nãosinh tử, cũng chẳng cần phải y vào pháp môntịnh độ, để cầu sinh về tịnh độ, như tiểu thừaPhật pháp ở những nước Tích Lan, Miến Điện. Chỉ chuyên cầu quả vô sinhthoát khỏisinh tử, vì vậy những xứ Tích Lan, Miến Điện kia không có pháp môntịnh độ này vậy. Bởi thế xét ra chư Phật ở dĩ an tập tịnh độ, đức Thích casở dĩ thuyết ra tịnh độ, không phải vì phàm phunhị thừa, mà vì chúng sinh có căn tínhđại thừanghe đượcPhật pháp. Không cầu phúc báo an vui đời sau, không mưu đồ mình khỏi sinh tửkhổ não trong 3 cõi, mà vì người phát tâmđại thừa, phải độ tất cả chúng sinh, mà tuyên thuyết và lập ra vậy. Người phát tâmđại thừa, biết rõ đạo lý mọi pháp duyên định, bởi pháp là mọi duyên sở sinh, thì một pháp là tất cả pháp, chúng sinh là chúng duyên sinh ra, một chúng sinh là tất cả chúng sinh, lìa tất cả chúng sinh thì tuyệt không có ta, không cho tất cả chúng sinh đều cùng thành Phật, thì không có Phật thành nhânthế phátđại nguyệnphả độ tất cả chúng sinh đều thành Phật đạo, quyết không lìa tất cả chúng sinh mà mình tự bỏ cái lý liễu thoát sinh tử. Bởi chúng sinh là mình, mình là chúng sinh, không có chúng sinh khác với ta. Thế là không tướng ngã, không tướng nhân, không tướngthọ giả, không có lìa khỏi chúng sinh ra mà độ thoát được mình vậy. Bồ tát đã lấy ra tất cả chúng sinh là đồng thể không hai mà phát bi nguyện phả độ tất cả chúng sinh, nhưng muốn thành nguyện ấy một cách đầy đủ, không chứng được quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác thì không thể được. Nếu không có nguyện này, về sự thật quyết không có ngày nào thành được. Bởi phát tâmđại bi muốn độ hết chúng sinh khắp pháp giớihư không, muốn độ hết vô sốchúng sinh ấy, phải đoạn vô tậnphiền não, tu họcvô lượngpháp môn, thành tựu quả Phật vô lượng, phúc đứctrí tuệtrang nghiêm, phải trải qua 3 đại vô số kiếp, vào vô lượngthế giới độ vô lượngchúng sinh, không phải một đời có thể làm được. Luận Khởi Tín dậy thành tựutín tâm vào tu chính định, phải trải qua 1 vạn đại kiếp, thành tựulòng tinđại thừa còn khó như thế, huống hồ là quả Phật ư? Một đời đã không thể thành Phật được, mà đã phát tâmđại thừa thì phải tu lục độ, khi tu lục độ có lúc bị nhiều duyên phá hoại thoái đọa tâm đại thừa, có cái nguy hiểm hoại mất tâm đại thừa, mà mệnh người vắn chóng, vô thường đến sớm chiều, hoặc lên chốn vui, hoặc chìm xuống chốn khổ, lại có cái nguy hiểm làm mê mất tâm đại thừa, tâm Bồ đề. Nhân có mọi thứ duyên ác như thế - Bồ tát tuy đã phát tâmđại thừa, mà muốn giữ được bất thoáithật không phải việc dễ. Chư Phật có trách nhiệmhộ niệm các Bồ tát. Kinh Kim Cương dạy: “Như Lai khéo hộ niệm các Bồ tát”, đối với Bồ tát đã phát tâmBồ đề mà chưa có thể bất thoái này thì lấy phép từ bi nào mà hộ niệm, để cho Bồ tát đã phát tâmđại thừa không đến nỗi có nguy hiểm thoái đọa hoại mất? - Nhân đó chư Phật vì muốn hộ niệmBồ tát đã phát tâmđại thừa như thế mà chưa vững vàngbất thoái, liền an lập ra quốc độthanh tịnh trang nghiêm. Bồ tát đối với cõi nào có duyên, phát nguyệnvãng sinh cõi nào, tùy nơi phát nguyện, khởi lòng tin, quyết định một lòng chuyên chú, thì tới khi mệnh chung, tùy nơi quốc độ Ngài nguyện mà vãng sinh, nghe pháp không thoái chuyển rồi lại về độ khắp tất cả chúng sinh. Nếu không có tịnh độ chư Phật an lập ra, làm nơi y quy cho Bồ tát đã phát tâmđại thừa, lỡ thoát lúc nào, thì bao nhiêu công đức tu bố thí, trí giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ bị phí mất vô ích. Vì vậyBồ tát phải lấy tịnh độ làm nơi nghỉ ngơi, mới không đến nỗi thoái mất tâm đại thừa, tâm Bồ đề, mà phí mất công đức trước của các Ngài vậy. Đó là nghĩa chínhđức PhậtA Di Đà và chư Phật mười phươngthành lập ra tịnh độ cũng là đúng nghĩa Phật Thích Ca thuyết ra pháp môntịnh độ. Người tu họcpháp môntịnh độ phải nên chú ý hiểu rõ sâu sắc nghĩa này.