CHÍNH NIỆM - THỰC TẬP THIỀN QUÁN
Nguyễn Duy Nhiên dịch,
Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
Nhà xuất bản: Thanh Hóa 2009
Chương Ba
Thiền là gì?
Thiền là một danh từ. Và từ ngữ thì được sử dụng qua nhiều cách khác nhau, bởi nhiều người khác nhau. Điều này nghe qua có vẻ rất tầm thường, nhưng không phải vậy. Bao giờ chúng ta cũng cần phải hiểu được chính xác ý nghĩa của những từ ngữ mà một người nào đó sử dụng. Điều đó rất quan trọng. Có thể là trên toàn thế giới này, bất cứ một nền văn hóa nào cũng có những phương pháp đào luyện tâm linh, mà họ gọi là thiền (meditation). Tất cả tùy thuộc vào việc bạn định nghĩa thiền như thế nào. Phương pháp thiền thì trên thế giới này có rất nhiều và khác biệt nhau, nhưng chúng ta sẽ không bàn đến ở đây. Có nhiều sách khác đã làm việc ấy. Ở đây, chúng ta chỉ giới hạn vào những phương pháp thiền quen thuộc và phổ thông đối với người phương Tây.
Trong truyền thống Thiên chúa giáo, chúng ta thấy có hai phương pháp chồng lấn lên nhau, đó là cầu nguyện (prayer) và trầm tư (contemplation). Cầu nguyện là một hình thức dâng lên hoặc nói chuyện trực tiếp với một đấng linh thiêng nào đó. Trầm tư là dành một thời gian dài suy tư mặc tưởng về một đề tài nhất định, thường là những lý tưởng tôn giáo hoặc một đoạn kinh nào đó. Theo quan điểm của thiền tập thì cả hai phương pháp trên đều là những bài tập thuộc về thiền định. Những tư tưởng tạp nhạp, ồn ào trong đầu đều bị hạn chế, hành giả đem tâm ý mình tập trung vào một đề mục duy nhất. Và kết quả cũng giống với những gì ta tìm thấy trong mọi phương pháp thiền định khác: một sự tĩnh lặng sâu sắc, những hoạt động tâm sinh lý chậm lại, với một cảm giác rất an vui và khỏe khoắn.
Trong truyền thống Ấn độ giáo (Hindu), ta có pháp môn yoga, và đây cũng là một pháp môn thuần túy thuộc về thiền định. Phương pháp thực tập căn bản là đem tâm ý tập trung vào một đối tượng duy nhất - như là một hòn đá, một ngọn nến, một âm thanh, hay một điều gì đó - và không suy nghĩ lan man. Sau một thời gian thực hành thuần thục, hành giả sẽ tiếp tục nới rộng sự thực tập của mình ra bằng cách chọn những đối tượng khác phức tạp hơn - như là những bài kinh, những hình ảnh tâm linh màu sắc, những luân xa trong người... Nhưng cho dù đề mục thiền tập của họ có phức tạp, cầu kỳ đến đâu, phương pháp cũng vẫn là một, thuần túy đó chỉ là những bài tập về định.
Trong truyền thống của đạo Phật thì thiền định có một giá trị rất cao. Nhưng nó còn có cộng thêm một yếu tố mới, và được nhấn mạnh hơn, đó là yếu tố tỉnh giác. Tất cả những phương pháp thiền tập trong đạo Phật đều nhắm đến cùng một mục tiêu là sự phát triển tuệ giác, và định lực được dùng như là một công cụ để đi đến đó. Pháp môn của đạo Phật thì rất mênh mông, và vì vậy mà có nhiều con đường khác nhau để đi đến mục tiêu ấy.
Trong truyền thống của Zen thì người ta sử dụng hai phương cách. Cách thứ nhất là trực tiếp đi thẳng vào tâm thức bằng nghị lực và ý chí của chính mình. Ta chỉ việc ngồi xuống, và cứ ngồi yên đấy, có nghĩa là ta bỏ ra ngoài tất cả những gì trong đầu, chỉ trừ cái ý thức tỉnh giác về sự ngồi thiền của mình mà thôi. Nghe thì có vẻ rất là giản dị. Nhưng thật ra là rất khó. Nếu bạn không tin cứ thử ngồi xuống thực hành trong giây lát đi, bạn sẽ hiểu những gì tôi nói. Phương cách thứ hai, được dùng trong truyền thống thiền Lâm Tế, là khéo léo lừa tâm ý của ta ra khỏi những lối suy nghĩ thông thường và đi vào một sự tỉnh giác đơn thuần. Theo phương cách này người ta sử dụng công án, tức là những vấn đề không thể giải đáp được, những câu hỏi không có câu trả lời, và thiền sinh bị bắt buộc phải giải quyết, trong một hoàn cảnh huấn luyện rất gian nan. Và vì thiền sinh không thể nào trốn chạy đi đâu được, họ bắt buộc phải nhảy thẳng vào cái kinh nghiệm thật của giây phút hiện tại, chứ đâu còn một nơi nào khác hơn nữa? Zen là một pháp môn thực tập khá gian nan. Nó có thể mang lại hiệu quả cho nhiều người, nhưng là một pháp môn rất cam go.
Một pháp môn khác nữa là Phật giáo Mật tông, (Tantric Buddhism) phương pháp này thì hoàn toàn trái ngược lại. Những tư tưởng bình thường, thường ngày của ta là những biểu hiện của một tự ngã, một cái “tôi” mà ta nhận đó là mình. Mọi ý thức của ta đều có liên hệ đến một ý niệm về cái ngã. Thật ra ý niệm về một cái tôi, hay cái ngã chỉ là những phản ứng và những hình ảnh đã được đặt lên trên những ý thức đơn thuần của mình. Pháp môn tantra này cố gắng đập tan đi những hình ảnh đó, để giúp ta trở về với ý thức thanh tịnh. Và phương pháp của họ dùng là quán tưởng. Thiền sinh được trao cho một hình ảnh thiêng liêng nào đó để quán tưởng, ví dụ như là một vị thần trong truyền thống của họ. Người thiền sinh sẽ thực tập cho đến khi nào họ trở thành vị thần linh ấy. Ta bỏ cái ngã của mình đi và mang lên một cái ngã khác. Công việc này, như bạn thấy nó đòi hỏi nhiều thời gian, nhưng rất có hiệu quả. Qua tiến trình ấy, hành giả sẽ hiểu được cách cấu thành bản ngã và hoạt động của nó. Từ đó, họ có thể nhận diện được tính chất vô nền tảng của mọi cái ngã, bao gồm cả bản ngã của chính mình, và nhờ đó mà họ có thể giải thoát khỏi sự trói buộc với bản ngã. Họ cũng nhận thức rằng, ta có thể chọn lấy bất cứ một cái ngã nào nếu muốn, và ta cũng có thể không chọn một cái nào hết, tùy tiện. Và kết quả là một ý thức đơn thuần. Nhưng pháp môn tantra này cũng không phải dễ.
Thiền quán vipassana là một pháp môn thiền tập xa xưa nhất của đạo Phật. Phương pháp này bắt nguồn từ kinh Tứ niệm xứ (Bốn lĩnh vực quán niệm - Satipatthana Sutta, Trung bộ, 10) do chính đức Phật dạy. Thiền quán vipassana là một phương pháp trực tiếp và từ tốn, nó nuôi dưỡng và giúp ta phát triển chính niệm và tuệ giác. Thiền quán là một phương pháp tiến chậm rãi từng bước, từng bước một, qua nhiều năm tháng. Hành giả đem sự chú ý của mình chiếu soi thật cặn kẽ vào một số phương diện nào đó trong đời sống của chính mình. Ta ghi nhận mọi kinh nghiệm của đời sống. Thiền quán là một pháp môn rất nhẹ nhàng, nhưng nó cũng rất là tỉ mỉ và hoàn toàn. Nó là một pháp môn cổ truyền và là một truyền thống rất nghiêm túc, gồm những bài thực tập giúp ta phát huy chính niệm, và ý thức được những kinh nghiệm trong cuộc sống mình rõ ràng hơn. Đó là nhờ ta biết lắng nghe chăm chú hơn, quán sát tỉnh thức hơn, và thực nghiệm kỹ càng hơn. Chúng ta thực tập ngửi nếm mùi vị tinh nhuệ hơn, xúc chạm trọn vẹn hơn, và ý thức được hết những biến đổi xảy ra trong tất cả những kinh nghiệm ấy. Chúng ta học cách lắng nghe những tư tưởng của mình mà không bị vướng mắc vào chúng.
Mục đích của thiền quán là để thấy được tự tính của vô thường, vô ngã và sự bất toại nguyện có mặt trong tất cả mọi hiện tượng. Chúng ta cứ tưởng rằng mình đã biết hết chúng rồi, nhưng thật ra đó chỉ là một ảo tưởng mà thôi. Trong cuộc đời, chúng ta rất ít khi nào chú ý đến những kinh nghiệm sống của mình, nhiều khi chúng ta hành xử như một người đang mơ ngủ. Chúng ta không có chính niệm đủ để ý thức được rằng mình không có chính niệm!
Qua sự thực tập chính niệm, dần dần chúng ta sẽ ý thức được mình là ai. Chúng ta sẽ nhìn xuyên qua được tấm màn của tự ngã. Ta tỉnh dậy và tiếp xúc với sự sống đang có mặt. Cuộc sống không phải chỉ là những cuộc thăng trầm, hơn thua, còn mất. Chúng không thật. Sự sống sâu sắc hơn thế, nếu ta biết nhìn, và nhìn bằng một con mắt quán chiếu.
Thiền quán là một phương pháp tôi luyện tâm ý, dạy cho ta biết kinh nghiệm sự sống này qua một đường lối hoàn toàn mới lạ. Lần đầu tiên, ta sẽ thực sự trải nghiệm được những gì đang xảy ra cho ta, chung quanh ta và trong ta. Nó là một tiến trình tự khám phá, một sự khảo sát mà trong đó ta vừa quán sát những kinh nghiệm của mình, lại vừa trực tiếp tham gia vào đó. Chúng ta thực tập với một thái độ: “Không cần biết những gì tôi đã học. Bỏ qua hết một bên những lý thuyết, ý niệm và thành kiến của mình. Tôi chỉ muốn hiểu được tự tính của sự sống này. Tôi muốn biết được thế nào là một kinh nghiệm sống thực sự. Tôi muốn được hiểu thấu và sâu sắc tính chất của cuộc đời này, và tôi không muốn chỉ nghe lời giải thích của bất cứ một người nào khác. Tôi muốn tự chính mình nhìn thấy.”
Và nếu bạn theo đuổi con đường thực tập thiền quán với thái độ ấy, tôi tin chắc bạn sẽ thành công. Bạn sẽ biết cách nhìn sự vật bằng con mắt khách quan, như chúng thật sự đang hiện hữu - biến chuyển và thay đổi trong từng mỗi giây phút. Cuộc sống lúc ấy sẽ tự nhiên trở nên vô cùng phong phú và kỳ diệu. Ngôn ngữ không thể nào diễn tả được, ta chỉ có thể tự trải nghiệm mà thôi.
Trong tiếng Pali, danh từ chuyên môn của thiền quán là vipassana bhavana. Bhavana có ngữ căn là bhu, có nghĩa là tăng tiến hay trở thành. Vì vậy, bhavana có nghĩa là một sự tôi luyện, và luôn luôn nó được dùng có liên quan đến tâm ý. Bhavana có nghĩa là sự đào luyện tâm ý. Chữ vipassana được ghép từ hai chữ gốc: Passana có nghĩa là thấy, hay là nhận biết. Vi là một tiếp đầu ngữ (prefix) bao gồm nhiều nghĩa mà ta có thể tạm dịch là “bằng một cách đặc biệt”, và cũng có thể là “đi vào” hay “xuyên qua một cách đặc biệt”. Toàn nghĩa của chữ vipassana là nhìn thẳng vào một vật, hay một đối tượng nào đó, một cách rõ rệt và chính xác, thấy rõ được từng yếu tố riêng biệt, và xuyên thấu qua tất cả để nhận diện được bản chất thực sự của nó. Vipassana còn được dịch là minh sát tuệ. Tiến trình ấy dẫn ta đến một tuệ giác về tự tính căn bản của đối tượng mà ta đang quán sát. Ghép hai chữ ấy lại với nhau, vipassana bhavana có nghĩa là sự đào luyện tâm ý, giúp ta nhìn sự vật qua một phương cách đặc biệt để mang lại tuệ giác và một sự hiểu biết trọn vẹn.
Trong thiền quán vipassana, chúng ta thực tập một cách nhìn đặc biệt đối với sự sống. Chúng ta tập tiếp xúc với thực tại đúng thật như chúng đang hiện hữu, và ta gọi cách nhìn này là chính niệm. Chính niệm là một cách nhìn mới mẻ, khác với cách nhìn thông thường của ta.
Thường ngày, chúng ta có nhìn nhưng không thấy được những gì đang thật sự có mặt ở ngay trước mắt mình. Chúng ta nhìn cuộc đời qua một lăng kính của tư tưởng và ý niệm, và rồi ta nhầm lẫn chúng với thực tại. Chúng ta bị chìm trôi trong dòng sông ý tưởng bất tận này, trong khi thực tại vẫn đi ngang qua mà ta không hề hay biết đến. Ta miệt mài trong những sinh hoạt của đời sống, đeo đuổi theo những thú vui và sự thoả mãn, trốn tránh những khổ đau và sự thất vọng. Chúng ta dồn hết năng lực để cố gắng làm sao cho mình được dễ chịu hơn, che giấu đi những lo lắng và sợ hãi và không ngừng tìm kiếm một sự an ổn. Trong khi ấy, thực tại vẫn đi ngang qua, mà ta không hề tiếp xúc, không hề hay biết đến. Trong thiền quán vipassana, chúng ta thực tập buông bỏ hết những thôi thúc mong muốn được dễ chịu hơn. Thay vào đó, chúng ta tiếp xúc trực tiếp và hòa nhập với thực tại. Bởi vì điều nghich lý ở đây là, hạnh phúc thật sự chỉ có mặt khi chúng ta không còn theo đuổi nó. Đây cũng là một tình huống bế tắc cho hầu hết chúng ta!
Khi ta biết dừng lại, không để cho sự ham muốn những cảm giác dễ chịu thúc đẩy mình nữa, hạnh phúc thật sự sẽ có mặt. Khi ta thôi không còn theo đuổi ngoại cảnh, sự sống mầu nhiệm sẽ bắt đầu hiển lộ. Khi ta sẵn sàng muốn biết một thực tại trọn vẹn, không ảo tưởng, gồm cả những đau đớn và hiểm nguy, khi ấy ta sẽ có được tự do và an ổn thật sự. Đây không phải là một kiểu giáo thuyết mà tôi muốn bạn tin theo, nhưng là một sự thật rất hiển nhiên mà bạn có thể và nên tự mình kiểm chứng.
Đạo Phật đã có từ hơn 2.500 năm, và bất cứ một
hệ thống tư tưởng nào được trao truyền
lâu đời như vậy đều có đủ
thời gian để tạo dựng nên nhiều tầng lớp giáo thuyết và
nghi thức. Dù vậy,
thái độ căn bản của
đạo Phật vẫn là sự thực nghiệm và không
dựa vào thần quyền.
Đức Phật Cồ-đàm (Gotama) là một người không bị
trói buộc vào
truyền thống và
chống lại chủ nghĩa giáo điều. Ngài không bao giờ xem những lời dạy của mình như là những
tín điều độc đoán, mà chỉ xem đó như là những
ý tưởng đề xuất mà mỗi người phải tự mình kiểm chứng.
Lời mời gọi của
đức Phật lúc nào cũng vẫn là “Hãy đến và thấy.” Ngài dạy rằng: “Đừng bao giờ đặt thêm lên đầu mình một cái đầu nào khác nữa.” Có nghĩa là ta đừng bao giờ
chấp nhận lời
giải thích của bất cứ một ai khác. Hãy tự mình thấy.
Và tôi muốn bạn cũng có cùng một
thái độ ấy khi đọc quyển sách này. Tôi sẽ trình bày những điều mà bạn không nên tin và
chấp nhận chỉ vì
uy tín của tôi trong lĩnh vực này. Một
niềm tin mù quáng không có
ích lợi gì. Tất cả những
sự thật này đều có thể
chứng nghiệm được. Bạn hãy học biết thay đổi cách nhìn của mình theo những
chỉ dẫn trong sách này, và rồi bạn sẽ thấy. Khi đó, và chỉ đến khi đó bạn mới có được nền tảng cho
niềm tin của mình.
Thiền quán nhất thiết phải là một sự
thực hành quán xét
khám phá tự thân.
Và giờ đây tôi xin phép được trình bày
sơ lược một số điểm chính trong
giáo lý đạo Phật. Tôi không muốn
nói nhiều, vì tôi nghĩ bạn có thể
tìm thấy đầy đủ hơn ở những
nơi khác. Nhưng những điều tôi trình bày ở đây có
liên hệ trực tiếp và sẽ giúp ta
hiểu rõ thêm về
thiền quán.
Theo cách nhìn của
đạo Phật thì
loài người chúng ta đang sống theo một cung cách rất kỳ lạ.
Chúng ta nhìn thấy những sự vật
vô thường, thay đổi chung quanh mình, nhưng cứ vẫn tin rằng chúng sẽ
tồn tại vĩnh cửu. Những thay đổi xảy ra
liên tục và không ngừng nghỉ. Ngay cả trong khi bạn đang đọc những dòng chữ này, cơ thể của bạn cũng đang
già nua đi. Nhưng bạn đâu có chú ý đến việc ấy đâu! Quyển sách bạn cầm trên tay đang
mục nát đi. Những dòng mực đang
phai mờ, và những tờ giấy đang vụn vỡ ra. Những bức tường chung quanh bạn đang đổ nát đi. Những phân tử bên trong bức tường ấy đang
rung động với một tầng số rất cao, tất cả đều đang trong tiến trình
đảo ngược, tan vỡ và từ từ
tiêu hủy. Và bạn cũng chẳng hề
để ý gì đến việc ấy.
Rồi
cho đến một ngày, bạn chợt nhìn lại. Da mình sao lại nhăn nheo và những khớp xương bắt đầu đau nhức. Quyển sách này bây giờ chỉ còn là những tờ giấy ố vàng,
phai mờ,
rời rã. Căn nhà, những bức tường là những đống gạch vụn. Bạn tiếc nuối
tuổi trẻ đã mất, khóc thương cho những gì đã là của mình. Nhưng nỗi đau ấy phát xuất từ đâu? Nó phát xuất từ sự thiếu
tỉnh thức của chính mình. Ta đã không chịu nhìn cho rõ sự sống. Ta đã không nhìn thấy một dòng sông
biến đổi trôi chảy liên tục trong
cuộc đời này.
Chúng ta xây dựng lên những
ý niệm,
hình ảnh về “tôi”, “quyển sách”, “căn nhà”, và rồi ta cứ đinh ninh cho chúng là thật, là
bất biến, không bao giờ thay đổi! Ta
nhất định cho rằng chúng sẽ
tồn tại mãi mãi. Điều đó chẳng bao giờ có được! Nhưng bạn có thể
thực tập tiếp xúc với những sự
biến đổi liên tục ấy. Bạn có thể học cách
nhận thức đời mình như là một dòng chuyển động không ngừng, như một vũ điệu hay một nhạc khúc rất
tuyệt vời. Bạn có thể học cách tìm được niềm vui trong sự
trôi qua liên tục của tất cả mọi
hiện tượng. Bạn có thể học
cách sống với dòng chảy của
thực tại thay vì là
liên tục chống lại những đổi thay. Bạn có thể làm được tất cả những điều ấy.
Vấn đề chỉ là
thời gian và sự
thực tập mà thôi.
Thói quen nhận thức của
con người chúng ta rất là
sai lầm.
Chúng ta bỏ ra ngoài hết 99% những
cảm xúc thu nhận qua các
giác quan của mình. Và 5% còn lại, ta đem đông cứng lại thành một
nhận thức kiên cố trong tâm. Và rồi ta
phản ứng với
nhận thức ấy bằng những tập quán và
thói quen của mình.
Ví dụ, bạn đang ngồi
một mình yên tĩnh trong một buổi tối
thanh vắng. Bỗng từ xa có tiếng chó sủa.
Bản thân sự
nhận biết âm thanh ấy thật
tuyệt vời đến mức không thể
mô tả được, nếu như bạn chịu
để tâm phân tích nó. Trong màn đêm tịch mịch như mặt biển
im lặng bỗng nổi lên những con sóng
âm thanh rung động. Tai bạn
tiếp nhận những
âm thanh phức tạp đáng yêu đó, biến chúng thành những điện từ
li ti kích thích tế bào
thần kinh.
Bản thân tiến trình
nhận thức đó thật
tuyệt vời và
hoàn hảo. Nhưng
con người chúng ta thường có khuynh hướng bỏ qua không
nhận biết tất cả những điều đó. Thay
vì vậy,
chúng ta đông cứng sự
nhận thức ấy lại thành một đối tượng tâm ý. Ta dán thêm lên đó một
hình ảnh, và rồi
tiếp theo là một chuỗi
phản ứng tâm lý và
vật lý: “Cũng lại con chó đó nữa! Hễ tới khuya tối là cứ sủa om lên. Không ai chịu được. Đêm nào cũng như đêm nấy thì ai đây mà chịu nổi! Phải có ai làm gì đi chứ! Chắc là mình phải gọi cảnh sát! Không được, gọi chỗ bắt chó mới phải! Thôi, để mình viết một lá thư thật nặng rồi gửi thẳng cho người chủ chó. Mà cũng
phiền phức quá, thôi mình cứ nhét bông gòn vào tai cho
xong chuyện.” Thật ra, tất cả những cái đó chỉ là những tập quán và
thói quen nhận thức.
Chúng ta đã được học cách
suy nghĩ và
phản ứng như thế từ lúc còn nhỏ, từ những người sống quanh ta. Lối
phản ứng ấy không phải là một cơ cấu
di truyền có sẵn trong hệ
thần kinh của ta. Những mạch điện tuy đã có ở đấy rồi, nhưng đó không phải cách
duy nhất ta có thể
sử dụng chúng. Những gì ta đã học được thì cũng có thể bỏ được.
Bước đầu tiên là
nhận diện rõ ràng những hành động của mình đang làm, và bước lùi lại, lặng yên
quán sát.
Theo
quan điểm của
đạo Phật thì
con người của
chúng ta có một cái nhìn khá
đảo ngược về
cuộc đời.
Chúng ta nhìn những
nguyên nhân gây nên khổ đau, và lại thấy đó là
hạnh phúc.
Nguyên nhân của khổ đau là cái bệnh
ham muốn và ghét bỏ mà ta đã nói đến trước đây. Một
nhận thức nào đó khởi lên. Có thể là bất cứ một điều gì, một cô gái
dễ thương, một anh chàng đẹp trai, một chiếc xe hơi đời mới,
mùi thơm của một chiếc bánh mới nướng, một chiếc xe tải lao thẳng vào bạn... bất cứ một
nhận thức nào. Và ngay sau đó sẽ là cái
phản ứng thương ghét của mình đối với nó.
Ví dụ như sự
lo lắng chẳng hạn.
Chúng ta lo lắng rất nhiều.
Lo lắng tự nó chính là một
vấn đề. Sự
lo lắng là một tiến trình có thứ lớp.
Lo lắng không phải chỉ là một
trạng thái của sự sống, mà nó còn là một tiến trình rất
rõ ràng.
Chúng ta chỉ việc nhìn vào giai đoạn đầu của tiến trình ấy, lúc
sơ khởi trước khi nó bắt đầu phát triển lớn mạnh. Móc đầu tiên trong sợi dây xích
lo lắng chính là cái
phản ứng thương-ghét của ta. Ngay khi có một
hiện tượng nào đó vừa khởi lên trong
tâm thức,
lập tức ta
phản ứng bằng cách hoặc có ý nắm giữ, hoặc
xua đuổi nó đi. Và từ đó vòng quay
lo lắng bắt đầu xoay chuyển. Nhưng
may mắn thay,
thiền quán là
phương cách có thể giúp
chúng ta làm cho chiếc bánh xe ấy dừng lại.
Thiền quán dạy cho
chúng ta cách
quán sát tỉ mỉ tiến trình
nhận thức của mình một cách
chính xác. Ta sẽ học
theo dõi sự
sinh khởi của những
tư tưởng và
nhận thức của mình, với một
thái độ tĩnh lặng khách quan. Ta sẽ nhìn thấy
rõ ràng những
phản ứng của ta khi bị kích động, với một sự
an tĩnh. Và từ đó, ta sẽ thấy được mình đang
phản ứng, nhưng không hề bị dính mắc vào những
phản ứng ấy.
Chúng ta vẫn có thể
lập gia đình.
Chúng ta vẫn có thể tránh sang một bên mỗi khi có một chiếc xe tải lao thẳng vào mình. Nhưng ta không
cần phải khổ đau vì chúng.
Khi ta
giải thoát ra khỏi được những
ràng buộc của
tư tưởng, một chân trời mới sẽ
mở rộng ra. Đó là một
biến chuyển rất lớn lao, một cách
nhận thức mới
hoàn toàn khác biệt. Nó
mang đến cho ta một niềm vui
được giải thoát ra khỏi sự khống chế. Vì những
lý do đó mà
đạo Phật xem cách nhìn này là một cách nhìn
chân chính về
cuộc đời. Trong kinh Phật gọi đó là nhìn sự vật đúng thật như chúng đang
hiện hữu.
Thiền quán là một phương
thức thực tập giúp
chúng ta dần dần mở ra một cách nhìn mới về
thực tại đúng thật như nó đang
hiện hữu. Và cùng với
thực tại mới mẻ ấy là một cách nhìn mới về khía cạnh quan trọng nhất của
thực tại, đó là cái “tôi”. Thật ra, cách ta
xử sự với cái “tôi” này, cũng giống
y như cách ta
xử sự đối với những
nhận thức khác.
Chúng ta đem những
biến chuyển không ngừng của
tư tưởng, cảm thụ,
cảm xúc đông cứng lại thành một cấu trúc
tâm linh. Rồi
chúng ta dán lên đó một nhãn hiệu là “tôi”. Từ đó,
chúng ta hành xử như nó là một
thực thể có thật,
bất biến và
vững bền. Ta xem cái “tôi” đó như là một
cá thể riêng biệt và
độc lập với những thứ khác.
Chúng ta tự tách rời ra khỏi một sự sống mà lúc nào cũng đổi thay, và rồi
than thở rằng mình
cảm thấy quá
cô đơn.
Chúng ta quên đi
bản chất liên hệ mật thiết giữa ta với mọi sinh thể khác, và cứ
nhất định là “tôi” phải gom góp mọi thứ về thành “của tôi”, rồi trách móc sao
con người lại quá
tham lam và vô tình. Và chu kỳ ấy cứ
tiếp tục mãi. Tất cả mọi hành động
ác tâm, những
thái độ vô tình của
con người đối xử
với nhau trên
thế giới này, đều bắt nguồn trực tiếp từ cái
nhận thức sai lầm về một cái “tôi” riêng rẽ này.
Nếu bạn đập vỡ được
ý niệm về cái tôi ấy,
toàn thể vũ trụ của bạn sẽ thay đổi. Nhưng bạn cũng đừng kỳ vọng rằng mình có thể
thực hiện được việc ấy một cách quá nhanh chóng. Bạn đã
bỏ ra một đời mình để
xây dựng nên
ý niệm ấy,
bảo vệ và
nuôi dưỡng nó với mỗi
tư tưởng, trong từng
lời nói và hành động, qua biết bao nhiêu là năm tháng. Nó sẽ không dễ dàng gì mà tan biến ngay. Nhưng nó sẽ thay đổi nếu bạn dành đủ
thời gian và sự chú ý.
Thiền quán là một phương thức giúp ta hóa giải được
ý niệm sai lệch về cái “tôi”. Từng chút, từng chút một, bạn sẽ làm vỡ nó ra, chỉ bằng
sự quán chiếu của mình.
Ý niệm về cái “tôi” là một tiến trình. Và
chúng ta lúc nào cũng ở trong tiến trình ấy. Nhờ
thiền quán,
chúng ta nhận thấy được rõ mình đang làm việc ấy, khi nào ta làm việc ấy, và ta làm như thế nào. Chừng đó,
ý niệm về một tự ngã sẽ tan rã như sương mù buổi sáng, như mây
trôi qua bầu trời tĩnh lặng. Ta
ý thức rằng mình có
tự chủ, ta có thể
quyết định làm hay không làm,
tùy theo việc có
thích hợp với
hoàn cảnh hay không. Sự bắt buộc không còn nữa, ta bây giờ đã có một sự chọn lựa.
Đó là những
tuệ giác lớn. Mỗi
tuệ giác là một sự
hiểu biết rất sâu sắc về những
vấn đề căn bản của
hiện hữu. Nhưng việc ấy sẽ không xảy ra trong một sớm một chiều, và cũng đòi hỏi khá nhiều
công phu. Nhưng
lợi ích của nó rất là to tát, sẽ
chuyển hóa được đời mình. Mỗi giây phút sống của ta sẽ
hoàn toàn thay đổi.
Hành giả đi đến giai đoạn này sẽ
chấm dứt hết mọi khổ đau, có được một
hạnh phúc trọn vẹn, một
tình thương chân thật đối với mọi loài. Việc đó
dĩ nhiên không phải là dễ. Nhưng thật ra bạn cũng không
cần phải đi đến cuối
con đường mới thấy được kết quả. Những kết quả nho nhỏ sẽ có mặt
ngay lập tức, và chúng sẽ
tích tụ thêm theo ngày tháng. Càng
ngồi thiền lâu ta lại càng nhìn thấy rõ được
tự tính của mình. Càng
bỏ ra nhiều giờ
thực tập, ta lại càng có khả năng
quán sát, trong tĩnh lặng, mỗi
tác ý,
tư tưởng và cảm thụ khi chúng vừa khởi lên trong tâm. Sự
tiến bộ trên
con đường giải thoát được đo lường bằng những giờ ngồi trên
tọa cụ. Và bạn cũng có thể dừng lại bất cứ lúc nào, khi bạn
cảm thấy đã quá đủ. Không có một
quy luật tuyệt đối nào bắt bạn phải
tuân theo, tất cả chỉ là vì ta muốn thấy được
tự tính của sự sống, muốn làm cho
cuộc đời của mình và người chung quanh được tươi đẹp hơn thêm.
Thiền quán là một
pháp môn thực nghiệm chứ không phải là
lý thuyết suông.
Thực tập thiền quán sẽ khiến ta trở nên
nhạy cảm trước những
kinh nghiệm sống, giúp ta
tiếp xúc được với những gì đang thật sự có mặt quanh ta. Ta không ngồi
suy tưởng,
mơ mộng về
cuộc đời. Ta thực sự sống. Và
thiền quán, trên hết tất cả, chính là một
phương cách sống!