Thư Viện Hoa Sen

Pháp Tu Như Lý Tác Ý

PHÁP TU “NHƯ LÝ TÁC Ý”
Thích Nữ Hằng Như


I. DẪN NHẬP

“Như lý tác ý” là một trong các pháp môn tu tập quan trọng đưa tới chánh trí an lạc Niết-bàn trong đạo Phật. Trong bài kinhTất Cả Các Lậu Hoặc” Đức Thế Tôn đã đề cao vai trò của pháp môn qua đoạn văn: “... Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt”. (*) (hết trích)

Lậu hoặc nghĩa đen là những chất dơ bẩn ô uế. Theo giáo lý nhà Phật thì những tánh xấu bất thiện bao gồm tham sân si bị xem là lậu hoặc. Lậu hoặc rò rỉ đục khoét tâm con người, khiến cho con người thường sống trong phiền não khổ đau nhiều hơn là an lạc hạnh phúc. Người tu theo đạo Phậttu tập làm sao đoạn tận lậu hoặc, thoát khỏi vô minh phiền não.

Đoạn kinh trên đức Thế Tôn dạy rằng người có “Như lý tác ý” các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt. Như vậy muốn diệt trừ lậu hoặc thì người tu tập phải có tác ý đúng đắn nghĩa là phải “như lý tác ý”. Nhưng thế nào là “tác ý” và thế nào là “như lý tác ý”?

II. “ TÁC Ý ” TRONG KINH TẠNG NIKÀYA

Trong đời sống hằng ngày, khi làm việc gì, người ta thường “tác ý” trước khi hành động. Thí dụ như: - Tác ýmong cầu điều tốt đẹp” đến với mình, tác ýgọi điện thoại cho ai đó”, tác ýđi chợ...”, tác ýlau nhà, nấu cơm”, tác ýthương người này, ghét người kia”, v.v... Nói chung, trước khi làm cái gì, người ta đều phải “tác ý” trước... Nhưng những tác ý này không phải là định nghĩa “tác ý” trong kinh tạng Nikàya.

Trong Kinh Nikàya, “tác ý” gốc từ tiếng Pali là “Manasikàra”. Manasikàra có nghĩa là: Hướng tâm, chú tâm, tác ý, chú ý... đến một đối tượng để nhận thứcquán chiếu. Đức Phật nhắc nhở tác ý có hai loại. Tác ý đúng gọi là “Như lý tác ý”. Tác ý sai gọi là “Phi như lý tác ý”.

A. NHƯ LÝ TÁC Ý

“Như lý tác ý” tiếng Pali là “Yoniso Manasikàra” .

Yoniso: Mang ý nghĩa là cội nguồn, gốc gác, thấu triệt bản chất một cách sáng suốtđúng đắn.

Yoniso manassikãra: Thường được dịch là “như lý tác ý”, có nghĩa sự chú tâm, suy xét, hay khởi tâm tư duy một cách đúng đắn ... hợp với chánh pháp, giúp nhìn thấu bản chất thật của hiện tượng thế gian là: vô thường (anica), khổ (dukkha), vô ngã (anattã). “Như lý tác ý” là “chìa khóa” trong đạo Phật nhằm chuyển hóa tâm thức người tu hành từ phiền não sang an lạc bằng cách tác ý đúng, nhận diện thực tại qua lăng kính trí tuệ, thay vì si mê.

Trong kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy một pháp nào khác đưa đến sự sanh khởi Chánh Kiến chưa sanh hay làm cho Chánh Kiến đã sanh được tăng trưởng như Như Lý Tác Ý”. (hết trích)

Để có Chánh kiến, Đức Phật thường dạy các Tỳ kheotác ý” đến các đề mục tu tập như: Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), Vô thường, Khổ, Vô ngã, sự bất tịnh, cái chết, sự nguy hiểm của Dục, sự sanh diệt của các Pháp, các đề mục thiền định, đoạn tận Tham, Sân, Si v.v... Tác ý về các đối tượng này là tạo ra đối tượng trong tâm để quán sát, nhận ra thực tại của chúng, đúng với đường lối Đức Thế Tôn giảng dạy.

Thí dụ:

- “Như lý tác ý” theo bài kinh Tứ diệu đế: Thấy Khổ là khổ, “không tác ý vẻ vời cuộc đờihạnh phúc”. Thấy nguyên nhân của Khổ, “tác ý tham ái là gốc của Khổ”. Thấy sự Diệt Khổ là có thật, Niết-bàn không phải là huyền thoại. Thấy con đường Diệt Khổ, là Bát chánh đạo.

- Khi thực hành thiền Tuệ, thấy thân là thân, thấy thọ là thọ, thấy tâm là tâm, thấy pháp là pháp là “Như lý tác ý”. Nếu thêm “thân này, thọ này, tâm này, pháp này... là tôi, của tôi, linh hồn tôi” thì đó là “Phi như lý tác ý”.

- Hoặc trên đường tu, biết Ngũ uẩnvô thường, thì tác ý ngũ uẩnvô thường. Ngũ uẩn là Khổ thì tác ý ngũ uẩn là Khổ.... Ngủ uẩn là Vô ngã thì tác ý ngũ uẩnVô ngã... Ngũ uẩnbất tịnh thì tác ý ngũ uẩnbất tịnh.... Tác ý như vậy là “tác ý như lý” . Nếu như tác ý ngược lại thì đó là “Phi như lý tác ý”.

III. PHI NHƯ LÝ TÁC Ý

Phi Như lý tác ý”, gốc từ tiếng Pali là “Ayoniso Manasikãra, nghĩa là chú tâm sai lầm, lệch lạc, suy nghĩ không đúng chân lý.

Thí dụ: - Thấy Vô thường cho là thường. Chẳng hạn như thấy sắc đẹp, khởi tham ái, cho rằng: Cái này sẽ đẹp mãi, hạnh phúc sẽ ở mãi bên mình. Thấy khổ là vui – Thấy ngũ uẩn thường hằng – Thấy Vô ngã là Ngã – Thấy bất tịnh là tịnh v.v... Từ đó tham ái, chấp thủphiền não tiếp tục tăng trưởng.

IV. ÍCH LỢI CỦA “NHƯ LÝ TÁC Ý”

A. TRONG VIỆC TU TẬP.

Thường xuyên thực tập pháp “Như lý tác ý” giúp tâm thức dần dần hết tán loạn, nhờ định tĩnh nên tâm sáng suốt kiểm soát và làm lắng dịu các triền cái như tham lam, sân hận, hôn trầmnghi ngờ ngay trong khi tọa thiền.

“Như tác ýchuyển hóa thói quen phản ứng, biến một người bình thường vốn hành động theo bản năng, hoặc thói quen vô minh ... thành người có chánh niệm, thấy rõ bản chất, duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của vạn vật.

“Như lý tác ýnuôi dưỡng những tâm thức tốt đẹp, sự tỉnh thức, phát huy lòng từ bi và trí tuệ.

“Như lý tác ý” là nhân tố quan trọng hàng đầu phát triển tuệ giác, dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau luân hồi theo lộ trình Phật dạy.

B. TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY

Trong cuộc sống hằng ngày, thường có hai điều xảy ra tác động vào tâm của con người. Đó là chê bai, xúc phạm hay đề cao, khen tặng.

1) Khi bị chê bai: Người “Phi như lý tác ý” sẽ tác ý rằng “họ không ưa tôi, họ ghét tôi”. Tác ý như vậy khiến cơn buồn bực, sân hận, mỗi lúc một gia tăng nhiều hơn. Người có tu tập pháp mônNhư lý tác ý” sẽ tư duy rằng: “Lời nói đó, dù có nặng nề hỗn xược cách mấy, cũng chỉ là âm thanh, có thể người phát ra âm thanh đó đang bị phiền não chi phối. Mình không nên nổi sân, mà ngược lại nên tội nghiệp cho họ thì đúng hơn”. Do tác ýthông cảm” như vậy, tâm sẽ lắng dịu ngay lập tức.

2) Khi được khen ngợi: Người “Phi Như lý tác ýcảm thấy thích thú, hãnh diện, sanh kiêu mạn. Người có “Như lý ” xem lời khen đó là vô thường, danh vọng không bền vững, tác ýkhông dính mắc”. Không dính mắc, thì không khổ. Ngoài ra, nhờ tu tập pháp mônNhư lý tác ý” khi đối diện với sự mất mát người thân, hay nghĩ đến cái chết của chính mình, vị ấy sẽ quán “Cái gì sinh thì sẽ diệt ” nên không bám víu. Nhờ vậy tâm người đó được bình ổn không rơi vào trạng thái sợ hãi. Ngược lại người “Phi như lý” sẽ hoảng loạn, bám víu, sợ hãi.

V. KẾT LUẬN

“Như lý tác ý ” không những là một pháp tu quan trọng của người học Phật, mà còn là một nghệ thuật sống. Người “Như lý tác ý” nhìn đời bằng trí tuệ, nhận ra bản chất chân thật của mọi hiện tượng thế gian theo đúng chân lý, không bị chi phối bởi tham, sân, si hay những quan niệm mê lầm. Theo lời Phật dạy thì “Như lý tác ý” chính là nền tảng của Chánh kiến, nên người sống với “Như lý tác ý ” là người sống tỉnh thức, thấu hiểu và hành xử khôn ngoan bởi hướng tâm (tác ý) đúng chân lý, thấy pháp đúng như thật.

“Như lý tác ý” là điều kiện sinh trưởng trí tuệ và là cửa ngõ đi vào Thánh đạo. Trong đời sống hàng ngày, thực hànhnhư lý tác ý” giúp hành giả tránh bị cuốn theo những cảm xúc tiêu cực, giảm bớt phiền não, sống tỉnh thức, biết nhìn nhận mọi việc một cách khách quan, bình tĩnh. Đây là những nhân tố cần thiết xây dựng tâm an lạc, phát triển trí tuệ và hướng đến cuộc sống hòa hợp, hạnh phúc./.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

(CHÂN TÂM Thiền thất, ngày 24-8-2026)