HẠNH PHÚC LÀ KHI ĐỌC…
Nguyên Giác

Nhiều thói quen cũ đã thay đổi. Môi trường cũng trở nên dị biệt với nhiều người chúng ta. Nhiều thập niên trước, chúng ta còn thói quen mỗi ngày ra các tiệm nơi góc phố để thuê sách về đọc. Lúc đó, chúng ta say mê đọc, và trân trọng chữ. Lúc đó, Kim Dung hiện ra như một vị thần, mở ra các chân trời võ hiệp từ các đỉnh núi mịt mù sương. Lúc đó, chưa có Internet, tối tân nhất chỉ là các máy đánh chữ lóc cóc. Lúc đó, chúng ta còn viết nắn nót các dòng chữ trên các trang giấy học trò. Hạnh phúc là khi đọc...
Bây giờ, chúng ta đang sống trong một thời đại rất đặc biệt. Một thời đại mà mọi thứ diễn ra nhanh đến mức đôi khi chúng ta không kịp thở. Vây quanh chúng ta là các video dài 30 giây, các tin nhắn dài chữ vài từ. Chúng ta xem rất nhiều, nghe rất nhiều… nhưng lại đọc rất ít. Không chỉ những người của thế hệ "một ngàn chín trăm hồi đó..." như chúng ta, mà ngay cả giới trẻ cũng thấy hành vi đọc không còn thiết thân. Tội nghiệp.
Theo thống kê của UNESCO và World Bank, tỉ lệ biết chữ của giới trẻ toàn cầu hiện nay lên đến 93.11%. Nghĩa là hầu hết chúng ta đều có khả năng đọc. Nhưng khả năng đọc không đồng nghĩa với thói quen đọc. UNESCO cho biết chỉ 51% trẻ em đạt mức đọc hiểu tối thiểu ở cuối tiểu học, và 50% ở cuối trung học cơ sở. Một nửa thế hệ trẻ bước vào đời mà chưa thật sự đọc sâu, đọc chậm, đọc để hiểu.
Tuy nhiên, đọc tới say mê, đọc để cho phê thì không bao nhiêu người còn giữ thói quen này. Đó là nói tới đọc các sách thế gian. Hẳn là, nếu say mê đọc các sách trong cõi trần gian cũng sẽ là trở ngại cho người muốn sống với Chánh pháp, vì sách muốn viết cho hay là phải gay cấn, phải nhiều ngang trái, phải đẫm lệ, phải đủ thứ chuyện tham sân si (dĩ nhiên, chỉ trừ thơ của cụ Bùi Giáng).
Vậy, rồi có bao nhiêu người say mê đọc sách về các pháp xuất thế gian? Thí dụ, đọc thơ Thiền, đọc Kinh điển? Chúng ta không biết, không tìm được thống kê về các số liệu tại Việt Nam. Nhưng các thống kê về Nam Hàn và Nhật Bản cho thấy số lượng Phật tử đang suy giảm ở hai nước này, khoảng 40% người trưởng thành từng lớn lên trong gia đình theo đạo Phật ở cả hai quốc gia này hiện không còn theo tôn giáo nào. Ngay cả khi còn chút niềm tin tâm linh, đa số vẫn không gắn liền với tôn giáo nào, theo thống kê vào tháng 3/2026 của Pew Research. Tình hình như thế, có đọc hầu hết cũng vì ý riêng. Tại Nhật Bản, có một thống kê nói rằng hơn 60% người dân không đọc cuốn sách nào trong một tháng. Nghĩa là, cả sách thế gian lẫn sách Phật học không còn lôi cuốn nhiều nữa, trong thời đại nơi nào cũng là các video rất ngắn. Tình hình tại Việt Nam có lẽ cũng phần nào tương tự.
Nơi đây, chúng ta vẫn công nhận giá trị của video, của phát thanh, và của các công cụ điện tử. Tôi vẫn tự thấy mình rất mực ưa thích đọc hơn. Một phần vì thói quen của nghề báo, và phần lớn vì khi rãnh rỗi để đọc, là cần giữ im lặng. Tôi ưa thích mở điện thoại di động, vào các trang web Phật học để tìm đọc. Không gì hạnh phúc hơn là trong đêm rất là khuya, tôi đọc các kinh văn trong khi nằm nghiêng về bên phải theo tư thế Đức Phật nằm khi nhập diệt (Thú thật, tôi vẫn tin như thời trẻ nhỏ: rủi mình có chết trong giấc ngủ hay trong khi đọc Kinh, thì cũng có nơi an lành để về).
Trong đó, tôi ưa thích nhất là đọc hai nhóm Kinh Nhật Tụng mà tứ chúng đọc hàng ngày khi Đức Phật sinh tiền. Hai nhóm Kinh Nhật Tụng này là:
-- Phẩm Tám (Atthaka Vagga) trong Kinh Tập (The Suttanipata), gồm 16 Kinh.
-- Phẩm Qua Bờ Bên Kia (Parayanavagga) cũng trong Kinh Tập, gồm 16 Kinh.
Trong Kinh Sona Sutta (Kinh Ud 5.6), có đoạn nói về ngài Sona khi được Đức Phật yêu cầu đọc Phật Pháp. Kinh ghi rằng Đức Thế Tôn nói với Thượng tọa Maha Sona, "Tỳ khưu, tôi muốn ông đọc lên Chánh Pháp." Lúc đó, Ngài Sona trả lời Đức Phật rằng, "Xin vâng lời," và đọc toàn bộ 16 kinh trong Phẩm Tám của Kinh Tập.
Như thế, chúng ta thấy rằng, ngày xưa là phải đọc hàng ngày cho tới khi học thuộc lòng, để tới khi được hỏi, là sẽ đọc ngay 16 Kinh liền.
Tương tư Kinh AN 7.53 (Nandamātāsutta) bản dịch của Thầy Minh Châu viết rằng: "Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàmoggallàna đang du hành ở Dakkhinàgiri, cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda thức dậy trước khi mặt trời mọc, và đọc lớn tiếng bài “Pàràyana” (Con đường đưa đến bờ bên kia). Lúc bấy giờ, Đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) đang đi từ phương Bắc đến phương Nam vì một vài công việc. Đại vương Vessavana nghe nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền đứng lại, chờ đợi cho bài được đọc xong. Và nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền im lặng."
Đó là nhóm 16 Kinh trong Phẩm Qua Bờ Bên Kia. Và tôi đã say mê đọc hai nhóm Kinh Nhật Tụng Sơ Thời này, rồi nhận ra đây là lời Đức Phật nhưng cũng đúng là ngôn phong của Lục Tổ Huệ Năng trong Thiền Trung Hoa, và của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong Thiền Việt Nam. Rất là kinh ngạc và hạnh phúc khi nhận ra như thế.
Thực ra, đọc, tụng, học thuộc lòng đã nằm trong truyền thống tu học từ thời Đức Phật. Ngày xa xưa đó, trong thời Đức Phật, các vị Tỳ-kheo không có sách in, không có thư viện lớn. Nhưng họ đọc mỗi ngày. Họ đọc thầm khi ngồi một mình ở góc rừng. Họ tụng đọc lớn tiếng khi ngồi chung bên nhau, để nhắc nhau tinh tấn. Họ cũng đọc bằng trí nhớ, bằng hơi thở, bằng sự tỉnh thức. Quý ngài đọc như một công cụ thiền tập, để thanh tịnh hóa ba nghiệp.
Kinh DN 33 trong nhóm Trường Bộ Kinh viết rằng, “Này các Hiền giả, có một pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị này đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.”
Nghĩa là, ngay khi chúng ta đọc kinh, tụng kinh, lợi ích sẽ vô cùng vô tận cho khắp thế giới này, như một cách gìn giữ chánh pháp và nuôi dưỡng tâm thanh tịnh. Truyền thống tụng đọc kinh điển bây giờ vẫn còn giữ gìn ở các chùa Nam Tông, Bắc Tông, Kim Cang Thừa. Và cả ở các Thiền viện Thiền Tông, bản văn Bát Nhã Tâm Kinh vẫn được đọc tụng hàng ngày.
Trong Kinh AN 5.26 (Vimuttāyatanasutta), nói về năm giải thoát xứ, cho biết tụng đọc kinh điển cũng là một cửa giải thoát. Trích bản dịch của Thầy Minh Châu như sau: "Vị ấy đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo đọc tụng pháp như vậy, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, một cách rộng rãi như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy vị Tỷ-kheo ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Đây là giải thoát xứ thứ ba, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới."
Nghĩa là, đọc kinh là một cửa để giải thoát. Lúc đó, dĩ nhiên, đọc kinh không có nghĩa là đơn giản đọc như máy. Tụng kinh hay đọc kinh là nghiền ngẫm ý nghĩa, là tín thọ về pháp, là đọc bằng tâm, để tâm thanh tịnh. Khi bạn đọc kinh dù đọc lặng lẽ lúc nửa khuya, bạn có thể lắng nghe hạnh phúc hiển lộ trong hơi thở, trong tiếng gió bên cửa sổ. Lúc đó, bạn dừng lại tất cả các pháp thế gian. Bạn lắng nghe lời Đức Phật dạy từ hơn hai ngàn năm xưa trầm hùng, ân cần vọng tới.
Có thể, trong những thời Đức Phật thuyết pháp, chúng ta từng là những con chim sẻ bay trên nóc Tịnh xá Trúc Lâm ở thành Vương Xá (trí nhớ tôi mệt mỏi, có thể bạn nào giòi hơn, có thể nhớ chuyện kiếp trước, không chừng nhận ra rằng người đang viết những dòng này từng là một con chim sẻ bay ở mái hiên Tịnh xá Kỳ Viên nơi thành Xá Vệ?). Nào ai biết được. Nhưng hạnh phúc là cái có thật, ngay khi bạn đọc lại những lời dạy trong Kinh, và nhớ mang máng là bạn đã từng nghe Phật dạy từ nhiều ngàn năm trước.
Vào nửa thế kỷ trước, tôi đọc kinh không theo thứ tự gì hết. Lúc đó, cũng khó tìm được kinh sách, nên hễ gặp là đọc. Bây giờ thì nhiều quá. Mở điện thoại di động ra, các trang web về kinh điển nhiều tới tràn ngập, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Bạn có thể đọc theo thứ tự bạn muốn. Bạn cũng có thể vào các trang thảo luận Phật pháp bằng tiếng Anh. Bạn sẽ tự tìm ra phương cách thích hợp khi đọc Kinh, vừa đọc vừa quán sát tâm mình, rồi bạn sẽ thấy đó là những dòng chữ trôi vào tâm như một dòng suối mát. Rồi bạn có thể giữ thói quen dò tận nguồn; thí dụ, để tìm tận nguồn Kinh AN 5.26 Sutta, bạn chỉ cần vào Google nhờ tìm, không cần thắc mắc vì sao bài viết không ghi link nào cả.
Bạn cũng có thể đọc các truyện ngắn, các bài thơ Thiền, các bài viết về các vấn đề thời đại kiểu như tu học và hoằng pháp trong thời Internet, và đủ thứ chuyện nữa. Bạn hãy đọc mọi thứ bạn nghĩ là có lợi cho việc tu học, theo lựa chọn tự nhiên trong tâm, và đọc trong tinh thần nhận ra Chánh pháp, nơi bạn tín thọ về nghĩa, về pháp, và đọc tâm mình để thấy hân hoan sanh, hỷ sanh, định tĩnh...
Rồi sẽ tới một lúc bạn nhận ra đọc không chỉ là dò theo chữ. Đọc còn là nhìn thế giới này, nhìn nắng hàng hiên buổi sáng, nhìn chiếc lá lay lắt trước gió nửa khuya nơi cửa sổ. Vâng, một cách tự nhiên, bạn thấy bạn đang đọc ánh nắng hiên nhà để thấy rằng đó là một trang sách nơi tâm tịch lặng, nơi tự tâm tương ưng với Chánh kiến, Chánh tư duy... cho tới Chánh niệm, Chánh định.
Và lúc đó khắp ba cõi thế gian trở thành trang sách mới cho bạn. Từ bi lúc đó sẽ sinh khởi trong tâm, khi bạn thấy rằng mình và tất cả chúng sinh rất là tội nghiệp khi đã vô lượng kiếp không thấy được tâm tịch lặng này, nơi đó Đức Phật nói trong Kinh SN 35.117 rằng hãy nhìn và nghe với mắt và tai đã đoạn diệt, nơi sắc tưởng được ly tham, nơi các xứ cần phải được hiểu. Lúc đó, đọc và thấy không có ai đang đọc, chỉ có cái được đọc. Lúc đó, nghe và thấy không có ai đang nghe, chỉ có cái được nghe.
Bạn sẽ thấy rằng, hạnh phúc là khi bạn đọc và nhận thấy tâm mình mỗi ngày có thêm một phần tịch lặng, thêm một chút nào đoạn diệt. Hạnh phúc chính là khi bạn đọc và thấy khắp thế giới trước mặt và bên tai đều là những chữ lặng lẽ hiển lộ trong tâm ly tham này. Không có niềm vui nào hơn khi bạn nhận ra bạn đang tắm trong hạnh phúc, nơi đó chỉ có hạnh phúc ngập tràn nhưng không hề có cái gì gọi là tôi, là ta, hay người.
Xem thêm:
https://thuvienhoasen.org/a30590/kinh-nhat-tung-so-thoi