Thư Viện Hoa Sen

Khái Niệm Về “Phật Tánh”

KHÁI NIỆM VỀ “PHẬT TÁNH”
Thích Nữ Hằng Như

I.NGUỒN GỐC

Thich Nu Hang Nhu “Phật tánh” là thuật ngữ của Thiền tông. Ngài Thế Thân đã đề cập danh từ “Phật tánh” này trong quyển “Phật tánh luận”, Ngài cho rằng Phật tánh chính là tâm Tathã (tâm Như) vì đức Phật thành đạo qua tâm này. Thời đó gọi là “Phật chủng” nghĩa là hạt giống Phật. Thế Thân âm từ tiếng Phạn là Vasubandhu. Ngài gốc người Bắc Ấn, sinh năm 316 Tây lịch, tức 860 năm sau khi đức Phật diệt độ, và mất năm 396, được xem là Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ. Lúc đầu Thế Thân tu học theo phái Nhất Thiết Hữu Bộ thuộc Phật giáo Nguyên Thủy (Trưởng Lão Bộ), về sau được người anh là ngài Vô Trước điểm hóa nên chuyển tu theo Phật giáo Đại Thừa.

Khái niệm Phật tánh (Buddha-nature) trong Phật giáo, đặc biệttư tưởngtất cả chúng sanh đều có Phật tánh” bắt đầu xuất hiện trong văn bản Đại Thừa khoảng 700 đến 900 năm sau khi đức Thế Tôn nhập diệt. Dưới đây là các mốc lịch sử quan trọng về sự xuất hiện của từ ngữtư tưởng về Phật tánh:

-Thời kỳ hình thành: Vào khoảng thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3 Công nguyên là giai đoạn Phật giáo Đại thừa khởi đầu đưa ra các khái niệm mới trong các kinh điển Như Lai Tạng, nhằm minh định khả năng thành Phật của mọi chúng sanh, đối lập với cái nhìn Nguyên Thủy cho rằng chúng sanh chỉ có thể chứng quả A-la-hán.

-Thời kỳ phát triển: Từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 5- CE, khái niệm Phật tánh được củng cố vững chắc thông qua các bộ kinh lớn đặc biệt Kinh Đại-Bát Niết-Bàn, phẩm Sư-Tử-Hống Bồ-Tát” ghi: “Tất cả chúng sanh vị lai sẽ có vô-thượng bồ-đề, đây gọi là Phật tánh. Tất cả chúng sanh hiện tại đều có phiền não, nên hiện tại không có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tất cả chúng sanh quá khứ có dứt phiền não nên hiện tại thấy được Phật tánh. Do nghĩa này Phật thường tuyên nói: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, cho đến nhứt-xiển-đề cũng có Phật tánh” (hết trích). Đoạn kinh văn này khẳng định mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, ngay cả “nhất-xiển-đề” là những kẻ cố chấp sống ngược với thiện pháp, nếu “tỉnh ngộ”, tu hành đúng chánh pháp, cũng có thể thành tựu được Phật tánh. Như vậy Phật tánh là khả năng giác ngộ tiềm ẩn trong mỗi con người, khi nào chấm dứt phiền não thì Phật tánh tự hiển lộ.

- Thời kỳ tư tưởng Phật tánh hưng thịnh nhất: Vào thế kỷ thứ 7 và thế kỷ thứ 8 Công Nguyên, là thời kỳ khái niệm Phật tánh phát triển mạnh nhất. Trong quyển “Pháp Bảo Đàn Kinh”, ở phẩm thứ hai có ghi lại lời giảng của Lục Tổ Huệ Năng rằng: “Dẫu kẻ ngu, dẫu người trí cũng đều có Phật tánh như nhau. Chỉ tại sự mê, ngộ chẳng đồng đó thôi. Cho nên có kẻ ngu người trí.” (hết trích)

Trong kinh Nikàya, tuy không đề cập đến hai từPhật tánh”, nhưng đức Phật mô tả trạng thái tâm Như (tức định bất động) như sau: “Với ... tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, nhu nhuyến, ngoài lý luận, dễ sai khiến, vững chắc bình tĩnh như vậy, ta dẫn tâm đến Túc mạng minh.., Thiên nhãn minh.., Lậu tận minh...”. Ngay lúc đó tâm Ngài bừng sáng kiến giải thông suốt về ba minh, đưa đến chứng ngộ quả vị A-la-hán Vô thượng chánh đẳng chánh giác. (Ngài Thế Thân sau này khẳng định rằng tâm Như chính là Phật tánh là ở chỗ này).

Vậy Phật tánh cũng tức là Chân Như, là tánh chân thật như nhiên, như thường, không sanh không diệt, không biến đổi. Ai cũng có. Nhưng đối với những kẻ sống với tâm nhiều dục vọng, bị nghiệp chướng che phủ, nên Phật tánh hay Chân Như bị lu mờ. Còn đối với người trí, ít tham lam, dục vọng, thường tu tập sống trong chánh niệm, nên Chân Như, Phật tánh sẽ dần hiển lộ. Theo quan niệm Phật giáo Đại Thừa thì tất cả chúng sanh trong Thập giới đều có Phật tánh.

- Đối với chúng sanh trong 3 cõi Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh sống trong ngu muội, tham lam, sân hận, đau khổ, nên Phật tánh hoàn toàn bị che lấp.

- Đối với chư Thiên, Người, A-tu-la nhờ có trí hiểu biết, nếu chịu tu tập đúng pháp, đoạn trừ tham-sân-si, tâm hoàn toàn yên lặng, thì Phật tánh sẽ xuất hiện.

- Còn các bậc Thanh Văn, Duyên giác, Bồ tát thì Phật tánh tỏ rõ hơn nhiều, nhưng chưa thể hoàn hảo như đức Phật.

- Đức Phật là bậc đại giác ngộ nên Phật tánh nơi tâm của Ngài hoàn toàn lan tỏa chiếu sáng.

II. VÀI BỘ KINH ĐỀ CẬP ĐẾN KHÁI NIỆM “PHẬT TÁNH”

-Kinh Đại Bát Niết bàn: Khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. “Nhất thiết chúng sanh tất hữu Phật tánh”. Kinh triển khai yếu tính của Phật tánhchân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh, ai cũng có, nhưng bị phiền não vô minh che lấp, nên Phật tánh không xuất hiện. Không xuất hiện chứ không biến mất.

-Kinh Pháp Hoa: “Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến.” Khái niệm cốt lõi trong kinh Pháp HoaPhật tánh, còn gọi là Như Lai tánh hay tánh Giác, vốn thanh tịnhthường hằng, sẵn có từ kẻ phàm phu đến bậc thánh, nên bản thể của Phật tánhbình đẳng tuyêt đối .

Điểm nhấn mạnh của kinh là phá bỏ quan niệm phân biệt, khẳng định tất cả mọi chúng sanh đều có khả năng thành Phật nếu tu tập đúng pháp. Kinh ví Phật tánh như viên ngọc quý sẵn có trong chéo áo nhưng chúng sanh bị phiền não vô minh che lấp nên không nhận ra dẫn đến luân hồi sanh tử. Tu tập theo tinh thần Pháp Hoa“kiến tánh” (nhận ra tánh Giác) để thức tỉnh khỏi giấc mộng vô minh, trở về với chân tánh của chính mình.

- Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm: Bản kinh này chủ trưởng “vạn pháp do tâm sanh” . Tâm là thực thể của vạn pháp. Phật tánh chính là tâm Chân như. Khi tâm vọng thì Phật tánh bị che lấp. Khi vô minh diệt thì Phật tánh hiện tiền. Phật tánh trong kinh Hoa Nghiêmcốt lõi của sự giác ngộ, nhấn mạnh tiềm năng thành Phật ngay tại tâm hành giả thông qua việc tu hành theo hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền .

-Kinh Phạm Võng: “Phẩm Bồ Tát Tâm Địa” khẳng định Phật tánhbản tánh sáng suốt, chân thật sẵn có nơi tất cả chúng sanh. Kinh nhấn mạnhTất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có khả năng thành Phật” nhằm khuyến khích mọi người tin vào chính mình, và kiên trì tu tập theo giới luật Bồ tát để hiển lộ Tánh giác.

-Kinh Lăng Già: Xem Phật tánhNhư Lai tạng (Tathãgatagarbha) nhấn mạnh bản thể Phật tánh vốn sáng suốt, thanh tịnh, là báu vật vô giá, nhưng bị vô minh che lấp đưa đến bị luân hồi. Tu hành theo kinh Lăng Giàchuyển Thức thành Trí, loại bỏ vọng tưởng để hiển lộ Tánh giác vốn sẵn có. Nói cách khác, Phật tánh trong kinh Lăng Giàbản chất chân thật, thanh tịnh bị vọng tâm che lấp, chỉ cần tâm không dao động, dừng vọng tưởng thì Phật tánh tự hiển lộ.

- Kinh Thắng Man: Phật tánh được luận giải sâu sắc thông qua khái niệm Như Lai Tạng (Tathãgatagarbha) là bản tánh sáng suốt thanh tịnh sẵn có nơi mỗi chúng sanh, ẩn giấu sau các phiền não. Kinh khẳng định “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật”.

III. Ý NGHĨA “PHẬT TÁNH”

- Phật, phiên âm từ tiếng Phạn là “Buddha”, danh từ Buddha phát xuất từ động từ “Budh” có nghĩa là “tỉnh thức” hay “thấu hiểu”.

Phật là danh từ chỉ một “bậc Giác ngộ” hay “Bậc tỉnh thức”. Đây là danh hiệu dành cho những ai đã tự mình thấu hiểu chân lý vũ trụ, chấm dứt hoàn toàn khổ đau và luân hồi. Phật không phải là thần linh hay đấng tạo hóa ban phước hay giáng họa, mà chỉ là một bậc Đạo sư, hướng dẫn mọi người tu tập để tự giải thoát giác ngộ như Ngài. Phật là hình mẫu cao nhất về trí tuệ và sự giác ngộPhật giáo hướng đến. Khi nhắc đến Phật, chúng ta hiểu đó là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là vị Phật lịch sử đã sáng lập ra Phật giáo trong thời đại chúng ta.

-Tánh hay Tính (nature): Trong Phật giáo, Tánh là bản thể cốt lõi, chân thật, vĩnh hằng, không sinh diệt của mọi sự vật và con người. Nó là tâm nguyên thủy, bản lai diện mục, vô hình, không bị biến đổi bởi vô thường. Trái ngược với Tướng là hình tướng bên ngoài. Tánh là bản thể ẩn sau.

- Phật tánh (Buddha-nature): Là bản tánh sáng suốt, thanh tịnh, bất sinh bất diệt sẵn có trong mỗi chúng sinh, có khả năng giác ngộ thành Phật. Phật tánh khôngvật chất, mà là tánh thấy-nghe-hiểu biết chân thật bị che lấp bởi vô minh, phiền não, nhưng không bao giờ mất đi.

IV. ĐẶC ĐIỂM CỦA “PHẬT TÁNH”

Theo Kiến thức Phật giáo, thì Phật tánhbản thể sáng suốt, thanh tịnh không cấu nhiễm, là khả năng đưa đến giác ngộ. Ngoài những đặc điểm này Phật tánh còn có những đặc tánh khác như:

- Tánh bình đẳng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau.

- Tánh thường hằng: Phật tánh vốn sẵn có trong mỗi con người từ vô thủy, không bị ô nhiễm bởi phiền não, nên không phải do tu mà có. Phật tánh vốn dĩ trong sạch (thanh tịnh, vô cấu) chỉ do vọng tưởng che lấp nên tạm thời không hiển lộ.

- Tánh Không: Phật tánh khônghình tướng cụ thể, không thể nắm bắt, nhưng lại có khả năng ứng dụng, hiểu biết chân thật mọi hiện tượng sự vật nên Phật tánh cũng được xem là tánh Không.

- Phật tánh có tám phẩm chất tốt đẹp đó là: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Từ, Bi, Hỷ, Xả... được ví như tinh thể quý báu, dù bị phiền não che lấp nhưng bản chất vẫn sáng trong.

Tóm lại, Phật tánh là nền tảng tu tập. Nhận ra Phật tánh (kiến tánh) được coi là con đường dẫn đến giác ngộ. Nhưng người chưa tu tập, khi nghe nói “giác ngộ hay Phật tánh”, liền cho rằng điều đó thật xa vời, một trạng thái siêu nhiên, một năng lực đặc biệt, vượt ra ngoài sự lãnh hội của người phàm phu. Nhưng thật ra ý nghĩa của từ “Phật” phát xuất từ tiếng Pali là “Buddha” có nghĩa là “tỉnh thức” là “hiểu biết trọn vẹn” về bản thể của hiện tượng thế gian. Kinh ghi rõ sở dĩ con người không ngộ được Phật tánh là bởi vì bị vô minh dục vọng che lấp.

Để hiểu rõ ý niệm này, đức Phậtbản tâm, hay Phật tánh của con người giống như mặt trời tỏa sáng, nhưng khi bầu trời bị đám mây che khuất, thì với đôi mắt bình thường, chúng ta tưởng rằng mặt trời đã biến mất, nhưng thật ra mặt trời vẫn trụ yên một chỗ. Trong giáo lý nhà Phật, ánh sáng mặt trời ví như Phật tánh, những đám mây kia chính là vô minh phiền não.

- Vô minh không có nghĩa là không hiểu biết gì. Một người có thể rất thông minh, học rộng hiểu nhiều, là người thành công trong xã hội, nhưng người ấy không nhận thấy bản chất chân thật của cuộc đời, nên lúc nào cũng đắm chìm trong dục vọng tham-sân-si là những thứ ô nhiễm nên bị xem là vô minh. Khi tâm hoàn toàn trong sạch, ánh sáng từ bi trí tuệ, tức Phật tánh liền chiếu sáng.

Người sống với tánh Phật hay Tánh Giác là sống tỉnh thức, thấy biết rõ ràng, như thị những gì xảy ra xung quanh, trên thân hay trong tâm vị ấy, giống như tấm gương phản chiếu cảnh vật trước nó. Sống chân thật như vậy, tâm vị ấy được tự do giải thoát. Ngược lại người bị vô minh che mờ tâm trí, lúc nào cũng suy nghĩ đủ thứ chuyện, bám víu vào quá khứ, hiện tại, vị lai. Sống như vậy nên luôn bị vướng mắc vào những cảm xúc vui, buồn, lo âu, sợ hãi, tham, sân, si... Lâu dần, người ấy tin rằng tất cả những thứ đó chính là con người thật của mình nên bám víu lấy, thuật ngữ trong giáo lý nhà Phật gọi đó là “chấp ngã”. Nhưng đức Phật dạy rằng tất cả những tư tưởng, những cảm thọ đó chỉ xuất hiện tạm thời, giống như đám mây vô minh trôi qua che khuất mặt trời trí tuệ là tánh Phật thường hằng. Khi đám mây ấy bay đi thì ánh sáng mặt trời xuất hiện chiếu sáng chan hòa.

Tóm lại, Phật tánh hay Chân như không phải là những gì huyền bí xa vời, mà chính là bản tánh tự nhiên, là khả năng giác ngộ tiềm ẩn trong tâm của mỗi người.

V. CHỨNG NGỘ “ PHẬT TÁNH”

Hiểu ý nghĩa Phật tánh là một lẽ, còn chứng ngộ hay sống được với Phật tánh là một điều khác. Thấy được Phật tánh là một quá trình, nó đòi hỏi hành giả phải tu tập từng bước, vượt qua cái nhìn giới hạn của người phàm phu, tức thoát khỏi những hình thức hữu hạn của hiện tượng thế gian, để thấy được cái chân thật của mình và vạn pháp.

Muốn chứng ngộ được Phật tánh, hành giả phải bắt đầu từ trí năng tỉnh ngộ.

Trí năng tỉnh ngộ nhận ra cuộc đời lắm khổ, nhiều đau, nên hướng tâm tìm đến pháp Phật để được giải thoát. Khi các cơ chế mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với đối tượng bên ngoài là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; tâm sẽ có cái biết đơn thuần về các đối tượng đó, gọi là: Nhãn thức, nhỉ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thứcý thức.

Nếu cái biết của nhãn thức dừng lại trên hình dáng, vật chất, mà tâm không bị dính mắc, suy nghĩ, so sánh bởi hình bóng đó, thì tâm hành giả đang trụ trong Tánh thấy. Tai nghe âm thanh, nhỉ thức biết một cách thầm lặng, tri giác không phân loại đặt tên âm thanh này âm thanh nọ, thì hành giả đang trụ trong Tánh nghe, hoặc khi thân va chạm với bất cứ vật gì, mà tâm hoàn toàn yên lặng, chỉ biết cái xúc đang là trên thân (mũi, lưỡi, da) thì tâm hành giả đang ở trong Tánh xúc chạm. Những cái biết yên lặng không suy nghĩ không phán xét đó thông qua giác quan là cái biết của Tánh giác, nhưng chỉ ở mức độ Tánh biết, chưa phải là Phật tánh.

Khi hành giả tọa thiền, “trạng thái biết yên lặng” thường xuyên được cất giữ vào ký ức của mỗi Tánh, sẽ trở thành Nhận thức biết cô đọng. Khi có xúc tác “khởi ý tắt ý” về một vấn đề gì, thì tiềm năng giác ngộ nằm im trong Tánh Nhận thức mới bật lên kiến giải cho hành giả biết những gì muốn biết. Như Đức Phật, trong trạng thái tâm Như, Ngài khởi ý muốn biết về “túc mạng” của Ngài như thế nào, thì Phật tánh trong Nhận thức bật ra kiến giải.

Phật tánh là mầm mống giác ngộ, bản tánh sáng suốt, là năng lực sẵn có nơi mỗi chúng sanh, thường được ví như kho tàng chứa đựng công đức vô lượng nhưng bị vô minh phiền não che lấp. Còn Tánh giác chỉ là cái biết của người mới tu tập khi giác quan tiếp xúc với cảnh trần, mà tâm không dao động, không nói thầm về đối tượng. Cái biết của Ba Tánh (thấy, nghe, xúc chạm) chỉ mới là nền tảng đưa đến tiềm năng giác ngộ thành Phật.

Tánh giác, Phạn ngữ là Buddhitã, chỉ mới là Tánh Biết thông qua giác quan. Còn Phật tánh là Buddhatã là tiềm năng giác ngộ. Hành giả chỉ nhận ra Phật tánh bằng nhận thức, chứ không qua giác quan. Cố Thiền sư Thông Triệt dạy: Tánh giác (tánh Biết) xuất hiện trong tâm hành giả qua sự xúc tác của “phản xạ giác quan”. Còn Phật tánh hay Chân như chỉ xuất hiện khi tâm hành giả hoàn toàn yên lặng trong tỉnh thức, đó là “phản xạ tự động”.

Tóm lại, từ cái biết có lời, tức có tư duy của trí năng tỉnh ngộ, tiến tới giai đoạn chánh niệm tỉnh giác, tức biết rõ “cái đang là của đối tượng” trong yên lặng. Thực tập nhiều lần, “trạng thái yên lặng” được cất vào ký ức của một trong ba tánh, dần dần trở thànhNhận thức không lời” tức “Nhận thức cô đọng”.

Bước này, hành giả chỉ cần gợi lên “trạng thái nhận thức không lời về đối tượng”, rồi “buông”. Tâm rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối, hành giả đạt “định không đối tượng” tức Chân Như định. Khi có xúc tác, Phật tánh sẽ bừng sáng kiến giải. Phật tánh bây giờ có nhiều tên gọi trong đạo Phật như : Trí huệ Bát nhã, Bản lai diện mục, Tánh Không, Chân như, Viên giác, Niết-bàn, Viên ngọc quý trong chéo áo v.v...

IV. KẾT LUẬN

Phật tánh hay Chân Như hay Niết-bàn... là kho tàng chứa những đức hạnh hoàn hảo của một vị Phật, vốn đã có sẵn trong mọi hữu tình. Qua tiến trình tu tập gột rửa sạch sẽ mọi phiền não, Phật tánh sẽ xuất hiện. Lúc đó, từng phẩm chất tốt đẹp của Phật tánh sẽ hiển lộ sáng tỏ như viên ngọc quý được mài giũa. Phật tánh được ví như viên ngọc quý, đã có sẵn trong mỗi người, chỉ cần siêng năng lau chùi đánh bóng, thì một ngày kia viên ngọc tự tỏa sáng. Ánh sáng đó chính là Phật tánh, là tuệ giác chân thật của chính hành giả.

Bàn về Phật tánh, Phật giáo Đại thừa quan niệm Phật tánh không phải là một khái niệm trừu tượng xa vời, mà nó hiển lộ thành những phẩm chất cụ thể sống động có thể cảm nhận trong từng khoảnh khắc đời thường. Người xưa gom lại thành tám tánh chất. Bốn tánh chất thuộc về tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả; và bốn tánh chất thuộc về bản thể Niết-bàn là: Thường, lạc, ngã, tịnh. Tám đức ấy, không phải do Đức Phật ban cho, mà chúng vốn có sẵn trong mọi chúng sanh, nhưng muốn chúng xuất hiện thì hành giả phải buông bỏ mọi tham-sân-si. Khi tâm hoàn toàn trong sạch, không còn một chút ô nhiễm nào, thì những phẩm chất cao quý của Phật tánh kể trên sẽ hiển lộ.

Bài viết “Khái niệm về Phật tánh” chỉ là phần chia sẻ khiêm nhường trên mặt lý thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa rất căn bản của hai từ “Phật tánh” nhằm mục đích giúp cho chúng ta, những người mới học Phật có thêm lòng tự tin, xóa bỏ lòng tự ti, vì Phật dạy ai cũng có Phật tánhPhật tánh của mọi người đều bình đẳng như nhau.

Sau cùng, muốn chứng ngộ Phật tánh, hành giả cần phải thực hành thông qua các phương pháp đức Phật dạy. Thí dụ như tu tập theo lộ trình Giới-Định-Tuệ, thực hành Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo v.v... Khi chứng ngộ trên thân, trên tâm, nhận ra bản thể chân thật của chính mình và vạn pháp... thì tự nhiên sẽ hiểu rõ Chân như, Phật tánh như thế nào, chứ ngôn từ thế gian không thể giải thích chính xác trạng thái tâm của người giác ngộ. Nam Mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật...

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

(Thiền Viện Chân Như, 27/4/2026)