Thư Viện Hoa Sen

Long Thọ. Ca Tụng Sự Kính Lễ Hữu Tình

LONG THỌ
CA TỤNG SỰ KÍNH LỄ HỮU TÌNH
(SATTVARADHANASTAVA).
Nagarjuna. In Praise of Pleasing Sentient Beings (Sattvaradhanastava)
Bản dịch Anh: Translated from Tibetan by Karl Brunnholzl
Bản dịch Việt: Đặng Hữu Phúc

[1]

Kệ tụng 1

Có sự tôn kính đối với tôi, khi có kiến lập sự an lạc cho các hữu tình, và chẳng có bất kỳ cách tôn kính nào khác. Những kẻ không buông bỏ đại bi, đều là những kẻ có sự tôn kính đối với tôi.

Những kẻ do bởi duyên hội, sống trong tâm trạng xa lìa đại bi, có thể được nâng cao về đạo đức thông qua đại bi, nhưng chẳng thông qua bất kỳ một cái gì khác.

[2]

Những kẻ quan tâm giúp đỡ các hữu tình với lòng đại bi, họ đều đang giao truyền các giáo pháp và làm tôi hoan hỷ.

Những kẻ nào sở hữu các đức hạnh, học sâu biết rộng, đại bi, thiền chỉ, và thiền quán đều luôn luôn tôn kính Như Lai.

[3]

Tôi thành tựu ứng hóa thân bởi vì tôi đã làm lợi ích cho các hữu tình – chỉ để kiến lập an lạc cho các hữu tình mà tôi đã ứng hóa với thân này.

Những kẻ chứa chấp tâm ý hãm hại các hữu tình, họ bất kính với tôi, tại sao họ vẫn thỉnh cầu tôi trợ giúp?

[4]

Quan tâm kiến lập các lợi ích cho các hữu tình là sự kính lễ -- hiến dâng này làm cho tôi, người được kính lễ hoan hỉ.

Bất kỳ sự kính lễ nào mà bản chất của nó là nguy hại hoặc làm tổn thương các kẻ khác, cho dù nghi lễ khá tốt, không là kính lễ bởi vì không tuân theo ý nguyện của tôi, người được kính lễ.

[5]

Tôi từ biệt vợ, con, giàu sang, huy hoàng, vương quốc, thịt, máu, mỡ, mắt, và thân thể.

Các hy sinh này do lòng từ bi với các hữu tình, bởi thế nếu các ông làm tổn thương các hữu tình, các ông làm tổn thương tôi.

[6]

Làm tăng tiến sự an lạc của hữu tình là cách cao siêu để tôn kính tôi, nhưng áp đặt các tổn hại trên hữu tình là cách cao siêu gây tổn hại tôi.

Bởi vì các hữu tình và tôi trải nghiệm hạnh phúcđau khổ một cách giống nhau, làm cách nào có thể một kẻ thù nghịch với các hữu tìnhđệ tử của tôi?

[7]

Chính vì phục vụ các hữu tình mà tôi hoàn thành các công đức, làm các đấng bảo hộ [= chư Phật] hài lòng, và thành tựu các ba la mật, chỉ đặt căn cứ trong an lạc của tất cả các hữu tình.

Thông qua lòng thiết tha kiến lập an lạc của hữu tình, do nhờ nhận biết hữu tình hành sử cách nào trong đủ loại cách thức, tôi đã đánh bại Ma Vương, và tôi đã thành một vị Phật.

[8]

Nếu trước kia không có hữu tình, được quý mến như các người bạn, qua tất cả các đời tôi, vậy từ bi được an lập ở đây trên căn bản nào, đại bi được đặt trên tiêu điểm nào,

Cái gì đã là đối tượng của bình đẳng, hoan hỷ, v.v... ai đã có giải thoát, và sự giải thoát đã được duyên hội như thế, và do vì lợi ích của ai mà an nhẫn được đào luyện lâu dài với tâm quyết định thực hành đại bi ?

[9]

Nói chính xác những hữu tình đó lang thang xuyên qua các hình dáng tồn sinh khác biệt, tỉ dụ các con voi, tôi đã có nhân duyên nhiều lần hiển thị bố thí tới những hữu tình đó; chính các hữu tình này đã tiếp cận tôi như các bình chứa nhận các tặng phẩm của tôi, và tôi đã đón nhận họ.

Nhờ có các hữu tình này lang thang xuyên qua nhiều hình dáng tồn sinh, đại bi của tôi đã tăng hoạt tốt đẹp; nếu tôi bảo vệ những hữu tình này, vậy an lạc này cung cấp tốt đẹp cho ai?

[10]

Nếu không có các hữu tình trong luân hồi bị quá nhiều tình cảnh dẫn chúng tới tai họa – những kẻ gieo trồng thói quen tự đi đến cõi Yama bằng cách đảm nhận vai trò của chúng trong vòng quay xuyên qua nhiều đời của chúng.

Tại sao tôi – Thiện Thệ, đấng tuyệt diệu này – mong ước giải thoát các hữu tình thoát khỏi luân hồi, nếu không có các hữu tình mà tôi thương quý đang trong luân hồi?

[11]

Trong suốt thời kỳ các giáo pháp của tôi giảng dạy cho thế giới này đang chiếu sáng rực rỡ, các ông những kẻ mong ước đem lại lợi ích cho những kẻ khác nên tiếp tục nhiệm vụ.

Nghiên cứutiếp tục nghiên cứu những gì tôi đã làm với mục đích tạo các sự tốt đẹp cho các hữu tình, các ông sẽ là những người chẳng bao giờ chán nản mệt mỏi về nó; do bởi không bị kiệt sức, các ông nên sử dụng thân hiện nay để hiển lộ cái tinh yếu của những điều tôi thuyết giảng.

****

Đây là hoàn tất những gì Phật nói cho 16 đại thanh văn trong một đoạn kinh danh đề “Giòng sông địa ngục”, trong Kinh Bồ tát tạng, được ngài Long Thọ viết tóm tắt thành kệ tụng “.....”

(Lời kết thúc của bản Sanskrit)

----------------------

Nagarjuna. In Praise of Paying Homage to Sentient Beings (Sattvaradhanastava)

Translated from Tibetan by Karl Brunnholzl.

(Source: In Praise of Dharmadhatu by Nagarjuna. Commentary by the third Karmapa. Translated and Introduced by Karl Brunnholzl. Snow Lion 2007—pp 313-315)

*

[1]

To have respect for me means [to act for] the welfare of beings, not any other [kind of] respect.

Those who do not abandon compassion are the ones who have respect for me.

Those who have fallen, being in a state of abandoning compassion,

Can be uplifted from that [state only] through compassion but not through anything else.

[2]

Those who take care of sentient beings with compassion

Both please me and carry the load of the teachings.

Those who possess ethics, erudition, compassion,

Insight, and clarity always venerate the Tathagata.

[3]

I reached accomplishment because I benefited sentient beings –

It is only for the welfare of sentient beings that I have assumed this body.

Those who harbor harmful intentions toward sentient beings,

Why would they resort to me, being the ones who disrespect me?

[4]

Looking after the benefit of sentient beings is veneration –

It offers joy to [my] mind as the one being venerated.

But any veneration whose nature is harmful or which hurts others

Is not, even if well performed, as it does not comply with [me as] the one being venerated.

[5]

My wives, children, riches, grandeur, kingdom,

Flesh, blood, fat, eyes, and body

I sacrificed out of loving-kindness for these [beings]—

So if you harm them, you harm me.

[6]

To promote the welfare of beings is the supreme way to venerate me,

But to inflict harm on beings is the supreme way to harm me.

Since sentient beings and I experience happiness and sufferings in the same way,

How could someone who is hostile toward beings be my disciple?

[7]

It was for sentient beings that I achieved virtuous deeds, pleased to protectors,

And attained the paramitas, solely being grounded in the welfare of the assembly of beings.

Through my mind being eagerly engaged in the welfare of beings, I vanquished Mara’s power.

It was by virtue of how sentient beings acted in all kinds of ways that I became a Buddha.

[8]

If there had been no beings, cherished like friends, through all my lifetimes,

On what basis had loving-kindness been established here, what had compassion focused on,

What had been the object of equanimity, joy, and so forth, for whom had liberation and such occurred,

And for whose sake had patience been cultivated for a long time with a mind set on compassion?

[9]

It was precisely who those wandering through [various] forms of existence such as elephants, to whom I showed generosity many times.

It was these very sentient beings who approached me as the vessels for my gifts and whom I had taken them.

By virtue of these sentient beings wandering through various forms of existence, my compassion flourished.

If I were not protecting these sentient beings, for whose sake was this welfare provided?

***

Note from the English Translation:

Unlike the Tibetan, the Sanskrit has no negative here.

[10]

If there were no beings in samsara – which abounds with [situations of them] heading for disaster,

Who have grown so accustomed to arriving [nowhere but] in the realm of Yama through playing their parts in spinning through their lives,

Why would I – the Sugata, this amazing great being – wish to liberate them from samsara.

If there were no sentient beings whom I cherished?

[11]

For as long as my teachings that instruct the world are shining brilliantly

You people who long to benefit others should remain.

Studying again and again what I did for the sake of sentient beings, you who never grow weary of it,

Without becoming exhausted, should apply this body [so that it embodies] the essence of my words.

-----------

This completes what the Bhagavat spoke to sixteen great sravakas in the passage called “Alkaline River” (Skt. Ksaranadi) in the Bodhisattvapitaka [sutra] summarized in verses by Master Nagarjuna as “In Praise of Pleasing Sentient Beings”.

-----------

Chú thích

Dịch giả bản Anh ngữ ghi – hai kệ tụng đầu chỉ có bản dịch Tibetan. Các kệ tụng sau có bản Sanskrit.

__________________________________________
GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM
SATTVARADHANA STAVA

Tác phẩm Sattvārādhana Stava của ngài Long Thọ (Nāgārjuna), thường được dịch là “In Praise of Pleasing Sentient Beings” hay “In Praise of Worshipping Sentient Beings”, là một bản tụng ngắn nhưng sâu sắc, thể hiện tinh thần cốt lõi của Đại thừa: lòng bi mẫn là nền tảng của mọi thực hành Phật pháp.
Tác phẩm được viết bằng tiếng Phạn, sau đó được dịch sang tiếng Tây Tạng bởi ngài Atisha Dipankara Srijnana.
• Đây là một bản tụng ngắn gồm khoảng 10 bài kệ, sử dụng nhiều thể thơ cổ điển như Vasantatilakā và Śārdūlavikrīḍita.
• Được xem là một văn bản quan trọng để quán chiếu và tụng đọc trong thực hành Đại thừa, đặc biệt khi người tu cảm thấy lạc hướng hoặc rơi vào trạng thái tu tập hình thức.

Nội dung và thông điệp chính

Tôn kính chúng sinhtôn kính chư Phật: Ngài Long Thọ nhấn mạnh rằng việc phục vụ và chăm sóc chúng sinh chính là cách cao quý nhất để cúng dường chư Phật. Nếu khônglòng bi mẫn, thì mọi hành động tu tập đều trở nên vô nghĩa.
Chúng sinh là đối tượng của từ bi, nhẫn nhụctrí tuệ: Không có chúng sinh thì cũng không có cơ hội để thực hành sáu ba-la-mật (lục độ), và do đó không thể đạt được giác ngộ.
Tâm từ bi là cốt lõi của Phật đạo: Ngài viết rằng chính nhờ lòng từ bi mà ngài đã thành tựu Phật quả. Tất cả những gì ngài đã hy sinh—thân thể, tài sản, quyền lực—đều là vì lợi ích của chúng sinh.
Phê phán sự tu tập thiếu lòng bi: Ngài cảnh báo rằng nếu người tu hành không có lòng bi mẫn thì không thể gọi là đệ tử của ngài, và cũng không thể đạt được ý nghĩa chân thật của Phật pháp.
Dưới đây là ý nghĩa từng bài kệ trong tác phẩm Sattvārādhana Stava của ngài Long Thọ, dựa trên bản dịch và chú giải từ truyền thống Tây Tạng và các học giả hiện đại. Tác phẩm gồm 11 bài kệ, chia làm ba phần chính: (1) tán thán lòng từ bi, (2) khẳng định vai trò của chúng sinh trên con đường giác ngộ, và (3) cảnh báo về sự tu tập thiếu lòng bi mẫn.
Kệ 1–2: Tán thán lòng từ bi
“Phục vụ chúng sinhcúng dường chư Phật,
Là hành động cao quý nhất trong Phật đạo.”
Ý nghĩa: Ngài Long Thọ mở đầu bằng tuyên bố mạnh mẽ rằng lòng từ bi không chỉ là một phẩm chất tốt đẹp, mà là nền tảng của mọi thực hành Phật pháp. Việc chăm sóc chúng sinh chính là cách trực tiếp nhất để tôn kính chư Phật.
Kệ 3–4: Chúng sinh là đối tượng của ba-la-mật
“Không có chúng sinh, thì không có bố thí, trì giới, nhẫn nhục…
Không có ai để thực hành, thì con đường giác ngộ không thể thành tựu.”
Ý nghĩa: Sáu ba-la-mật (lục độ) đều cần đối tượng để thực hành. Chúng sinh chính là “tấm gương” để người tu rèn luyện tâm từ, trí tuệ và hành động. Không có chúng sinh, thì không có Phật đạo.
Kệ 5–6: Từ biđộng lực giác ngộ
"Chính vì lòng bi mẫn mà ta đã từ bỏ thân mạng, tài sản, và quyền lực.
Nhờ đó, ta thành tựu quả vị Phật.”
Ý nghĩa: Ngài Long Thọ nói về chính hành trình của mình (hoặc của chư Phật nói chung), nhấn mạnh rằng sự hy sinhchúng sinhđộng lực chính dẫn đến giác ngộ. Đây là lời nhắc nhở cho người tu không được quên mục tiêu ban đầu.
Kệ 7–8: Phê phán sự tu tập thiếu lòng bi mẫn
“Ai tu hành mà không có lòng bi mẫn,
Thì không phải là đệ tử của ta.”
Ý nghĩa: Đây là lời cảnh tỉnh. Nếu người tu chỉ chăm chăm vào hình thức, vào thiền định hay trí tuệ mà thiếu lòng bi, thì không thể gọi là hành giả Đại thừa. Ngài Long Thọ không ngần ngại gọi đó là “sự phản bội Phật pháp”.
Kệ 9–10: Chúng sinh là thầy của Bồ Tát
“Chúng sinh là thầy dạy ta nhẫn nhục, bố thí, và từ bi.
Ta phải tôn kính họ như tôn kính chư Phật.”
Ý nghĩa: Một nghịch lý đầy cảm hứng: chính những người đau khổ, phiền não, thậm chí làm tổn thương ta—lại là thầy dạy ta trưởng thành. Đây là tinh thần của Bồ Tát đạo: thấy sự khổ đau là cơ hội để tu tập.
Kệ 11: Tổng kết
“Nếu không có lòng bi mẫn, thì Phật pháp không tồn tại.
Nếu khôngchúng sinh, thì không có Phật.”
Ý nghĩa: Câu kết đầy sức mạnh. Ngài Long Thọ khẳng định rằng bản chất của Phật pháp là lòng bi. Không có chúng sinh, thì không có lý do để tu tập, không có con đường để đi, và không có quả vị để thành tựu.

(BBT TVHS)