Thư Viện Hoa Sen

Trước Thuật Luận Sớ Của “Bách Bộ Sớ Chủ” Khuy Cơ

TRƯỚC THUẬT LUẬN SỚ
CỦA “BÁCH BỘ SỚ CHỦ” KHUY CƠ

Thích Trung Nghĩa

.

khuy coĐại sư Khuy Cơ là bậc cao tăng nổi tiếng, tổ sư khai sáng Duy thức pháp tướng tông. Cuộc đời ngài chú sớ rất nhiều kinh điển và luận điển do đại sư Huyền Trang phiên dịch, vả lại dùng hệ thống học thuyết duy thức của Hộ Pháp làm nồng cốt để thuyên thích để kinh điển Du-già hành phái Ấn Độ, nên được thế nhân tôn xưng mỹ hiệu là: Bách bộ sớ chủ, Bách bộ chú sớ. Những trước thuật của ngài truyền đến Nhật Bản, trở thành Nhật Bản Pháp tướng tông.

Ngài sinh năm 632 thời Đường Thái tông, quê quán Trường An, thuộc dòng dõi Bình đông tướng quân triều Bắc Ngụy, cha từng đảm nhiệm qua chức tước Tả kim ngô vệ đại tướng quân, đô đốc Tùng châu. Ngài sinh trong tướng soái gia môn, bẩm tính thông minh có trí tuệ, từ nhỏ học tập tác phẩm kinh điển Nho gia, giỏi viết văn chương. Đêm nọ, mẹ ngài nằm mộng thấy nuốt mặt trăng tròn trong tay rồi mang thai ngài. Nghe đâu, lúc mới chào đời bèn cất tiếng khóc, xuất hiện vòng tròn đỏ lan khắp nhà, cả nhà đều rất kinh hoàng, chỉ có cha ngài cảm nghĩ: thâm trầm bất an, không biết đưa bé này tương lai đối diện con đường nhân sinh thế nào? Lên 9 tuổi thì mẹ qua đời, tâm trạng thường hay cảm thấy cô đơn, sớm có chí hướng xuất gia. Xuất gia năm 17 tuổi, là đệ tử thượng thủ của Huyền Trang, theo tôn sư học tập ngữ văn Ngũ Ấn Độ, Phạn văn và các luận thư duy thức. Ngày nọ, Huyền Trang đi giữa phố thị, thấy một thiếu niên (Khuy Cơ) với dáng vóc cao to, dung mạo thanh tú, bước đi an tường, bất chợt cảm giác như từng gặp nhau. Huyền Trang nhớ lại lúc ở Ấn Độ, từng được ni-kiền tử bói cho một quẻ, nói về phương đông ắt có được triết từ (哲嗣), vội tra hỏi gia thế vị thiếu niên này, vốn là công tử của khai quốc công úy trì tông, Huyền Trang vui sướng nói: “Thiếu niên trí tuệ thần dị sinh trong tướng môn thế này, bất khả tư nghị! Cũng là hữu duyên, y bát của ta có thể truyền sau này”.

Ngài xuất thân gia đình quý tộc, tuy đã xuất gia nhưng vẫn không bỏ dục vọng thế tục, đi thì cỡi tam xa: xe hưu, xe dê và xe trâu, trước xe chở kinh điển và luận điển, giữa xe tự cỡi, cuối xe chở đầy tớ, nữ hầu, đồ ăn thức uống, nên dần dần người trong cổ thành Trường An gọi ngài là Tam xa pháp sư, Tam xa hòa thượng. Sau đó, trải qua 3 lần quở trách của Huyền Trang, ngài từng nêu 3 khoản mới đáp ứng điều kiện xuất gia của mình, tức là “không bỏ dục lạc, không bỏ ngũ tân, quá giờ ngọ có thể ăn”. Sau khi nghe qua 3 điều kiện trên, Huyền TrangĐường Thái tông thương lượng đồng ý, muốn thành tựu một chặng nhân duyên, Huyền Trang bèn ứng dụng nguyên lý giáo dục mà trong kinh Duy-ma-cật nói: “Trước dùng dục niệm lôi kéo chúng sanh hứng thú, sau lại khiến chúng sanh ngộ nhập Phật trí”.

Theo truyền thuyết, do ngài không tuân thủ giới luật nên bị gọi Tam xa hòa thượng, nhưng trong một bản văn Từ Ân tông của nhà Phật học Lữ Trừng nổi tiếng, cho rằng khi về già, lúc ngài giảng kinh Pháp Hoa, kinh này tạo nên thí dụ tam xaThiên Thai tông giải thích về tam xa có khác nhau, nên lời bình luận phê phán Tam xa hòa thượng là nhằm phỉ báng danh dựtiết tháo của người khác, do đó tên gọi này phi sự thật. Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí dụ nói đến ba hình tượng: hỏa trạch, trưởng giảtam xa. Hỏa trạch dụ cho thế giới này đầy dẫy nguy khốn. Trưởng giả đại biểu cho người hướng dẫn có từ bitrí tuệ, dùng phương thức dụ dẫn các con thoát nạn. Trưởng giả dùng tam xa để dụ các con thoát khỏi hỏa trạch, cuối cùng được đại bạch ngưu xa (nhất Phật thừa). Đại sư Thiên thai Trí Di và Hiền Thủ Pháp Tạng dùng xe dê dụ cho Thanh văn thừa, xe hưu dụ cho Duyên giác thừa, xe trâu dụ cho Bồ-tát thừa, còn đại bạch ngưu xa dụ cho nhất Phật thừa. Xe dê tượng trưng cho sự truy cầu Tiểu thừa, tức là sự giải thoát của cá nhân. Xe hưu tượng trưng mục tiêu trung thừa, không chỉ tự mình được giải thoát mà còn bao gồm giúp người giải thoát. Xe trâuthể hiện bồ-tát đạo Đại thừa, lấy việc đem lại lợi ích cho người khác làm mục tiêu cuối cùng.

Năm 25 tuổi, ngài tham gia dịch kinh tại dịch trường do Huyền Trang chủ dịch. Lúc Huyền TrangẤn Độ, đã sưu tập 10 đại luận sư chú giải nổi tiếng đã từng chú giải Duy thức tam thập tụng. Sau khi về nước, lúc mới phiên dịch thì chia các bản cho các dịch giả dịch. Nhưng không lâu sau, ngài kiến nghị: những chú giải này nên tập hợp lại, thành một bộ, tạo nên định giải, giúp người sau tránh khỏi tùy tiện. Huyền Trang đồng ý. Ngài cho rằng, một bộ dịch điển là “Hoa-Phạn thương lượng”. Những sớ ý nghĩa của mười đại luận sư này, thì đã áp dụng lấy bản chú giải của Hộ Pháp làm chính, chín luận sư làm phụ trợ, tiến hành chọn lựa tổ chức, ngài phụ trách ghi chép, biên dịch Thành duy thức luận. Thành duy thức luận được căn cứ từ lục kinh thập nhất luận. Nhưng nguyên tác Phạn văn của mười đại luận sư nay đã thất truyền, luận này chỉ có bản Hán văn lưu truyền sau này. Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục của sa-môn Trí Thăng thời Đường ghi, Huyền Trang biểu thị dịch trong thư bản, Khuy Cơ nghe lời dịch, rồi dùng Hán văn ghi chép, các dịch phẩm ấy là Thành duy thức luận, Biện trung biên luận tụng, Biện trung biên luận, Duy thức tam thập tụng, Di bộ tôn luân luận, Giới thân túc luận. Lúc ở Ấn Độ, Huyền Trang học tập được nhiều yếu nghĩa kinh thư, rồi thông qua phương thức mà lưu truyền, ngài làm thị giả, lại là đa văn đệ nhất nên đã chế tác rất nhiều bản sớ luận, rất nhiều chú sớ vâng theo sự chỉ đạo của Huyền Trang mà viết thành, như Thành duy thức luận thuật ký 20 quyển, , Duy thức nhị thập luận thuật ký. Ngài còn tự soạn Tạp tập luận sớ, Bách pháp luận sớ, Nhân minh đại sớ (còn gọi Khuy Cơ sớ) v.v...

Pháp sư Viên Trắc người nước Tân La (Triều Tiên) cũng là đệ tử của Huyền Trang, nhà chú sớ nổi tiếng, được tôn xưng là “tổ sư Đông Hải du-già”. Trong Bài tựa văn bia Xá-lợi Đại Chu Tây Minh tự cố đại đức Viên Trắc pháp sư ghi, Viên Trắchọc giả cao khiết, được Võ Tắc Thiên tôn sùngđại đức, là nhất đại cao Tăng học đức kiêm ưu, đảm nhiệm chứng nghĩa dịch kinh. Có buổi sáng nọ, Viên Trắc thăng tòa thuyết pháp Duy thức luận ở chùa Cao Minh, hội chúng đều khen ngợi, ngài nghe giảng, cảm phục lối giải thích ý nghĩa viên dung trong kinh điển duy thức, nghĩ nhận: có người vô sư tự thông, cảnh giới liễu ngộ quả thực cao hơn ta một cái đầu, nhưng không biết Viên Trăc cũng là môn nhân của Huyền Trang và dịch giả của dịch trường Từ Ân. Huyền Trang an ủi ngài, nói: “Trắc pháp sư vẫn chưa hiểu nhân minh học, chưa đạt đến cảnh giới chí cao”. Viên Trắc ở chùa Tây Minh, kế thừa giáo nghĩa duy thức của Huyền Trang hoằng truyền, người đời sau gọi những trước tác duy thức của Viên Trắc là Tây Minh. Giải thâm mật kinh sớ của Viên Trắc cũng soạn hoàn thành vào lúc này, sớ này lưu truyền rộng ỡ Tây tạng. Viên Trắc thích du ngoạn sơn thủy, cứ trú chùa Vân Tế trên núi Chung Nam, từng bế quan tịnh tu 8 năm.

Đại nghiệp phiên dịch của ngài, cống hiến mang tính sáng tạo, sáng kiến phương thức phiên dịch tổng hợp. Trong Duy thức nhị thập luận thuật ký, Bải tựa của ngài, có bình phẩm ưu điểm và khuyết điểm của cựu dịch Bát-nhã Lưu ChiChân Đế, nhằm thuyết minh tân dịch đã hiệu chính các khía cạnh cựu dịch. Dịch trường cũng là đạo trường dùng để phiên dịch, phương thức “hành phiên hành giảng”. Chữ “trường” trong cụm từ dịch trường, nhằm chỉ cho đạo trường, sở trường giảng kinh hoặc làm pháp sự. Khái niệm dịch trường, là hình thức tổ chức phiên dịch kinh Phật, “mà không liên quan đến nơi chốn cụ thể”. Nguồn gốc hoạt động dịch trường, dịch kinh viện, sớm xuất hiện vào thời Hán Hoàn đế triều Đông Hán, lúc đó vương triều trưng triệu An Thế Cao đến từ nước An Tức để dịch kinh. Cho nên An Thế Caođại sư dịch kinh đầu tiên trên thế giới. An Thế Cao cũng là người mặc định Hán dịch điển tịch kinh văn cổ đại.

Người Trung Thổ chủ dịch, xưa nay chỉ có Huyền TrangNghĩa Tịnh, còn hầu hết là các đại sư dịch kinh đến từ Thiên Trúc hoặc Tây Vực. Người tinh thông Phật lý mới có thể làm chủ dịch. Lúc người chủ dịch giảng thuyết kinh văn, người trợ giúp có quyền hướng đến chủ dịch để chất vấn, thậm chí không đồng ý kiến giải của người chủ dịch, dẫn đến tranh luận. Như lúc Cưu-ma-la-thập phiên dịch Đại phẩm kinhThành thật luận, bị vài người trợ giúp “vấn đáp tranh luận”, “giao biện ý chỉ văn chương”. Lúc Đàm Vô Sấm phiên dịch Niết-bàn kinh, có tăng nhân và tục nhân hơn trăm người chất vấn từng điều. Tương truyền, lúc đức Phật giảng kinh An Ban Thủ Ý, hội chúng chẳng ai nêu nghi vấn, đức Phật bèn hóa hai thân, một thân hóa làm người cật vấn, một thân hóa làm người giải đáp, thay thính chúng vấn đápbiện luận lẫn nhau, dẫn đến hội chúng tiến lên một mà bước hiểu rõ giáo nghĩa. Đại sư Trừng Quán từng chú sở kinh Hoa Nghiêm, cho rằng những người tham gia dịch kinh mà không thuần thục Phật điển, thì khó có thể lĩnh hội áo nghĩa bản dịch ấy, sự luận thuật kinh văn tạo nên sai lầm.

Khuy pháp sư viên tịch ngày 13 tháng 11 năm 682 tại Từ Ân tự phiên kinh viện, trong tư thế kết già nhập thiền định mà qua đời, hưởng dương 51 tuổi. Cuộc đời ngài từng tham gia các dịch trường Từ Ân, Tây Minh, Ngọc Hoa v.v. chuyên chú sự nghiệp truyền dịch, đào tạo nhân tài hoằng pháp, sáng tạo mới về thể thức phiên dịch tổng hợp. Theo nhà triết học sử Thang Dụng Đồng nổi tiếng, trước tác của ngài tổng cộng có 48 bộ nổi tiếng, hiện còn 28 bộ, cảc bộ chú sớ đều dùng bản dịch của Huyền Trang. Khảo chứng còn chia ra: chú sớ kinh Phật, chú sớ luận điển, trước thuật cá nhân. Trong đó, Nhân minh nhập chánh lý luận sớ (因明入正理論疏) của ngài, là một bộ trước tác có ảnh hưởng cực lớn trong trước thuật nhân minh Hán truyền, “đã mặc định nền tảng của sự thích luận nhân minh Hán truyền và Nhật Bản v.v.”.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Lý Nhuận Sanh, Giảng giải Duy thức tam thập tụng (Giảng giải Điển tịch văn hóa truyền thống, q.6), Trung Quốc thư điếm, Bắc Kinh, 2006

2. Tào Sĩ Bang, Dịch trường Phương thức phiên dịch kinh Phật nghiêm túc Trung Quốc cổ đại

3. Dương Bạch Y, Nghiên cứu Viên Trắc Truyện ký và tư tưởng đặc sắc, học báo Phật học Hoa Cang, kỳ 6, 11983

4. Hoàng Thủ Cương, Giảng giải Thành duy thức luận Tự luận