TỪ ĐÂY ĐẾN GIÁC NGỘ
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Phần tiếng Anh: Guy Newland
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 2014
TỪ ĐÂY ĐẾN GIÁC NGỘ
Contents
Lời Người Dịch. 3
Lời Người Biên Tập Và Hiệu Đính. 8
Lời Nói Đầu. 11
Chương 1: Sự Nối Kết Thâm Sâu. 16
Chương 2: Giá Trị To Lớn Của Giáo Huấn Này. 29
Chương 3: Trái Tim Của Đạo Phật 44
Chương 4: Đạo Phật Trả Lời Những Câu Hỏi Lớn. 55
Chương 5: Bốn Chân Lý Cao Quý. 64
Chương 6: Thực Tập Như Thế Nào. 79
Chương 7: Ý Nghĩa Của Đời Sống Loài Người 88
Chương 8: Giải Thoát Và Từ Ái 98
Chương 9: Tinh Thần Giác Ngộ. 118
Chương 10: Bi Mẫn Trong Hành Động. 130
Chương 11: Tĩnh lặng. 139
Chương 12: Mục Tiêu Chân Thực Của Tánh Không. 152
Chương 13: Thực Tại Và Duyên Sinh. 162
Chương 14: Tìm Ra Trung Đạo. 175
Chương 15: Hướng đến Quả Phật 194
Tự Tiến Bộ Qua Sáu Hoàn Thiện. 198
Bốn Pháp ấn Của Đạo Phật 214
VÀI NÉT VỀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA. 235
Năm năm trước đây (2009) Tuệ Uyển đã dịch quyển Bừng Sáng Con Đường Giác Ngộ (Illuminating The Path To Enlightenment) một quyển sách ghi lại sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma căn cứ trên Tiểu Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ đề thứ đệ tiểu luận) của Tổ sư Tông Khách Ba Và Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ (Bồ đề đạo đăng luận)của Tổ sư Atisa. Năm nay (2014) Tuệ Uyển lại có cơ hội để chuyển ngữ Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ Đề Thứ Đệ Đại Luận) của Tổ sư Tông Khách Ba cũng do sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ và được giảng rộng trong Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ đưa ra ba hạng người với ba năng lực và ba giai tầng tu tập:
- Người có năng lực nhỏ: tu tập để đạt sự tái sanh may mắn ở những cõi hạnh phúc trong tương lai.
- Người có năng lực vừa: tu tập để đạt sự giải thoát cá nhân khỏi vòng luân hồi sanh tử khổ đau.
- Người có năng lực lớn: tu tập để đạt sự Giác Ngộ của một Đức Phật vì lợi ích của tất cả chúng sanh.
Chúng ta thấy trong Thanh Tịnh Đạo Luận một trong những bộ luận căn bản của Phật Giáo Therevada cũng có ba hạng người tương tự như vậy.
Kệ đắp Đại Y Tăng Già Lê của Tỳ kheo là:
Thiện tại giải thoát phục
Vô thượng phước điền y
Phụng trì Như lai mạng,
Quảng độ chư quần sanh.
Tuy quyển sách này giảng về Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim nhưng chúng ta thấy có những giáo lý rất căn bản như quy y tam bảo, tứ đế, 12 nhân duyên, vô thường, vô ngã,… mà như Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng nếu không có những giáo lý căn bản này thì Đại Thừa không đứng vững, và sự thực tập Kim Cương thừa sẽ không thành tựu.
Những giáo lý căn bản này sẽ là nền tảng cho sự thực tập của người có năng lực nhỏ và vừa. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma nói trong Ba Phương Diện Chính Của Con Đường Giác Ngộ là viễn ly, tâm bồ đề, và tánh không, thì viễn ly và tánh không là giáo lý căn bản của Phật Giáo, Đại Thừa chỉ thêm vào tâm bồ đề.
Tâm bồ đề quy ước liên hệ đến sự ngưỡng vọng đạt đến Quả Phật vì lợi ích của tất cả chúng sanh. Tâm bồ đề cứu kính là sự thực chứng tánh không của Bồ tát, thực tại cứu kính. Quán chiếu tâm bồ đề quy ước và cứu kính chúng ta có thể thấy tương tự với một câu trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát thấy chúng sanh là như huyển nhưng vẫn phát tâm để độ chúng sanh.
Cũng vậy việc thực tập của người có năng lực lớn thì thêm tâm bồ đề và 6 ba la mật. Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nói rằng định và tuệ trong 3 vô lậu học là sự thực tập của người có năng lực vừa để giải thoát sanh tử cho cá nhân, còn người có năng lực lớn thì là thiền định và trí tuệ trong 6 ba la mật.
Quyển sách này mang tên là Từ Đây Đến Giác Ngộ, trong quyển sách này chương 11 tĩnh lặng (thiền định) Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đưa ra một câu hỏi, Chúng ta đi từ đây đến Quả Phật như thế nào? Khi đọc đến chương này chúng ta sẽ có câu trả lời chi tiết cho câu hỏi này do Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng dạy. Nhưng đối với tôi thì Từ Đây Đến Giác Ngộ hay Chúng ta đi từ đây đến Quả Phật như thế nào? Là một câu hỏi mà mỗi Phật tử chúng ta dù tại gia hay xuất gia phải tự hỏi mình để xác định, như chúng ta được biết trong Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ và được giảng rộng trong Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ là để hành giả khi nhìn vào biết mình đang ở vị trí nào để thực hành. Hành giả là người có năng lực nhỏ đang mưu cầu cho một sự tái sanh tốt đẹp hơn trong những kiếp sống tương lai. Hành giả là người có năng lực vừa đang mưu cầu cho một sự giải thoát cá nhân khỏi luân hồi sanh tử khổ đau. Hay hành giả là người có năng lực lớn đang có nguyện vọng đạt được Giác Ngộ tròn vẹn như một phương tiện thuận lợi nhất để hổ trợ tất cả chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Có một người đến nói Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị ấy có những giấc mơ và căn cứ vào những giấc mơ ấy thì tự cho là đã đạt đến địa vị của những Bồ tát, Đức Đạt Lai Lạt Ma từ việc ấy mà nói rằng có những người nghĩ mình có năng lực lớn nhưng trong khi không có quyết tâm để thực hiện ngay cả những sự thực hành của người có năng lực nhỏ. Ngài nói rằng sự thực hành của người có năng lực lớn phải bao hàm những sự thực hành của người có năng lực vừa và nhỏ. Và sự thực hành của người có năng lực vừa phải bao gồm những sự thực hành của người có năng lực nhỏ.
Như phẩm Dược Thảo Dụ của kinh Pháp Hoa nói một trận mưa xối xuống thì cây cỏ tùy năng lực của mình mà thấm nhuần. Cũng vậy, mỗi người tùy nhân duyên quá khứ nên có một năng lực riêng cho mỗi cá nhân, Phật Pháp bao la, nhưng người có năng lực lớn thì không thể đòi hỏi người có năng lực vừa cũng tu như mình; hay người có năng lực vừa không thể đòi hỏi người có năng lực nhỏ cũng tu như mình; và cũng thế người có năng lực nhỏ không thể muốn người có năng lực lớn cũng phải có mục tiêu tu tập như mình …? Thế nhưng trong Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến đến Giác Ngộ, là để hướng dẫn hành giả tu tập dần dần lên kết quả cứu kính sau cùng, chứ không phải dậm chân tại chỗ, không phải người có năng lực nhỏ thì cứ nhỏ mãi, người có năng lực vừa thì cứ như vậy mãi, vì Đức Đạt Lai Lạt Ma nói việc tu tập để thoát ly sanh tử, để giải thoát Giác Ngộ thì không chỉ tính đến một đời một kiếp mà phải tính đến thời gian vô hạn. Đừng nghĩ rằng nếu ta muốn vô sanh thì được vô sanh mà không cần phải tu tập, hoặc không tin tái sanh thì sẽ không tái sanh vì chưa chứng quả vô sanh thì sẽ tự động tái sanh theo nghiệp lực.
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng nếu quy y tam bảo như để có nơi nương tựa như Phật, Pháp, Tăng gia hộ để thoát khổ thì không có gì đặc thù của Đạo Phật, các tôn giáo khác cũng có ý nghĩa tương tự như vậy như cứu khổ, cứu rổi, một sự cầu khẩn đến năng lực bên ngoài; như quy y xuất thế gian tam bảo và trụ trì tam bảo, nếu quên không quy y đồng thể tam bảo thì không khác gì ngoại đạo. Quy y Phật là để thành Phật tử, con Phật để sau này trở thành một Đức Phật. Quy y Pháp là để có phương pháp tu tập để sau này trở thành một Đức Phật. Quy y Tăng là để có đoàn thể tu tập hổ trợ để cùng nhau trở thành Phật thì mới đúng ý nghĩa đặc thù của Đạo Phật.
Như Đức Đạt Lai Lạt Ma nói trong quyển sách này ở chương cuối: " Cuối cùng mục tiêu của chúng ta là kinh nghiệm chân thành của lòng vị tha vô hạn và sự thấu hiểu tròn vẹn về thực tại cứu kính. Như những Phật tử mục đích sau cùng của chúng ta là Quả Phật. Tuy nhiên, xa xăm như thế nào đi nữa, thì chúng ta hãy bắt đầu ngay bây giờ vì mục tiêu tối hậu ấy."
HÀNH trình mục tiêu đúng
TRANG bị tâm bồ đề
GIÁC tánh uyên nguyên hiện
NGỘ Phật đạo lối về.
Dĩ nhiên như giáo huấn Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ, mỗi chúng ta có thể đọc và suy nghiệm và tự xác định mình đang ở vị trí nào để tự xác địnhlại mục tiêu đến với Đạo Phật và mục tiêu của sự thị hiện tại thế gian của Đức Phật để có một phương hướng tu tập thực tiển.
Thành kính dâng quyển sách này lên Đức Đạt Lai Lạt Ma, chư vị thầy tổ và tất cả những ân nhân, cầu nguyện cho tất cả đạt được " mục đích sau cùng của chúng ta là Quả Phật." Xin thành tâm sám hối vì những yếu kém!
Nam mô A Di Đà Phật
Tuệ Uyển
Thích Từ Đức
Ẩn Tâm Lộ Friday, July 11, 2014
Đức Đạt Lai Lạt Ma ở đây mời quý vị cùng với ngài học hỏi một trong những tác phẩm vĩ đại nhất trong truyền thống của ngài. Đại Luận Những Giai Tầng Của Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ. Khi đào thoát khỏi Tây Tạng trong một đêm giá lạnh tháng Ba năm 1959, ngài không thể mang theo nhiều thứ - nhưng ngài đã mang theo quyển sách này. Việc tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau của giáo huấn Phật Giáo ban đầu trên con đường tiệm tiến, công trình đồ sộ của Tông Khách Ba thể hiện bởi kết cấu cả triết lý sâu sắc và lời chỉ bảo tâm linh cá nhân. Đây là lần đầu tiên Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng dạy luận điển này ở phương Tây. Ban bố tại trường Đại học Lehigh University vào tháng Bảy năm 2008, sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma được xảy ra nhân việc xuất bản ba tập Anh ngữ Của Đại Luận (Ithaca, N.Y. Snow Lion Publication, 2002,2003,2004).
Được xuất bản năm 1402, Đại Luận của Tông Khách Ba là một tác phẩm nổi tiếng định rõ và bảo vệ chống lại những cách diễn dịch phân biệt cao độ về tánh không như thực tại cứu kính. Trong lịch sử của Tây Tạng Phật Giáo nó đã là cả sự tranh cải cao độ lẫn ảnh hưởng cao độ. Nhưng trong sự giảng dạy ở đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma không tập trung vào sự tranh cải phân phái. Thay vì trình bày những quan điểm của Tông Khách Ba như những sự phủ nhận các phương chước thấp kém, thì Đức Đạt Lai Lạt Ma chứng minh vấn đề chúng là toàn bộ truyền thống tuệ trí sâu rộng của Tây Tạng như thế nào. Việc công nhận di sản của truyền thống này một cách toàn bộ đến những hiền nhân Ấn Độ, ngài liên kết tuệ giác của nó đến hoàn cảnh của toàn thể loài người chúng ta.
Đức Đạt Lai Lạt Ma hướng dẫn chúng ta xuyên qua Đại Luận với vẻ duyên dáng, tiếu lâm, đam mê, và hoàn toàn thông thạo, đan kết những giảng giải của ngài chung quanh một chủ đề thậm thâm, độc nhất: duyên sanh, khái niệm rằng mọi thứ sinh khởi và tồn tại chỉ qua sự tương duyên sâu xa. Chương này đến chương nọ ngài trở lại chủ đề này, khám phá mọi khía cạnh của con đường tiệm tiến trong ánh sáng của giáo lý này. Để cho một vài thí dụ: vào lúc bắt đầu Đức Đạt Lai Lạt Ma dạy về trách nhiệm toàn cầu, nhấn mạnh rằng trong thế giới tạm bợ này đặc biệt rõ ràng rằng vận mệnh của chúng ta trên hành tinh này ràng buộc tất cả với nhau - không cá nhân nào hay quốc gia nào có thể tìm ra hạnh phúc trong khi quên lãng kẻ khác. Nhấn mạnh vào giá trị của tất cả mọi tôn giáo vì đại đa số tín đồ của mỗi truyền thống, tuy thế, ngài chỉ ra rằng sự thấu hiểu đặc biệt của Phật Giáo về liên hệ hổ tương loại trừ niềm tin trong một đấng tạo hóa thần thánh vô nhân. Đây là bởi vì mọi thứ tồn tại chỉ qua sự nối kết và phụ thuộc trên những thứ khác. Đồng thời, ngài nhấn mạnh nhu cầu phát triển một niềm tin mạnh mẽ rằng vấn đề những chọn lựa của chúng ta, những hành vi của chúng ta có những kết quả đạo đức, qua duyên sanh của nghiệp lực nhân quả. Ngài đặt dưới sự nghiên cứu phân tích cẩn thận những tiến trình tương thuộc qua điều mà sự chấp trước của chúng ta vào cảm nhận vọng tưởng về tự ngã đưa chúng ta qua những vòng khốn khó không cần thiết. Liên tục, ngài chỉ cho chúng ta ý tưởng căn bản của Phật Giáo như thế nào chẳng hạn như Ba Ngôi Tôn Quý và Bốn Chân Lý Cao Quý trở thành đầy đủ ý nghĩa một cách sâu xa khi được lãnh hội từ trong một sự thấu hiểu sâu xa về vấn đề mọi thứ là trống rỗng bất cứ sự tồn tại nào tách rời khỏi duyên sanh. Ngài khám phá vấn đề từ ái, bi mẫn, và ân cần lệ thuộc trên một kinh nghiệm sinh động của những sự liên kết sâu xa và các mối quan hệ tương hợp với nhau. Cuối cùng, việc đưa ra một sự so sánh với vật lý lượng tử, ngài giới thiệu chúng ta tới một ý tưởng thậm thâm rằng thực tại tự nó không bao giờ có thể được thiết lập một cách khách quan, nhưng tồn tại chỉ trong mối liên quan hổ tương của một tâm kinh nghiệm và những đối tượng của nó.
Quyển sách này tự nó là một thí dụ khác về duyên sanh. Nó sinh khởi từ những giáo huấn lệ thuộc trên vô số nguyên nhân và điều kiện kể cả công trình cả đời của Geshe Ngawang Wangyal, nhiều người bạn nhiệt tâm của Trung Tâm Nghiên Cứu Phật Giáo Tây Tạng, và nhiều giáo sư năng nổ, ban ngành, sinh viên, và quản lý viên tại đại học Lehigh University. Tôi biết ơn vô cùng đến những ai đã hổ trợ để quyển sách này hiện diện, một cách đặc biệt Geshe Thubten Jinpa, mà sự thông dịch trong sáng sang tiếng Anh quyết định tuyệt đối trong việc trình bày rõ ràng chính xác công việc này, và Geshe Lhaktor và phụ tá của ngài Tsering Gyatso, người đã ghi lại sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ tiếng Tây Tạng, Joshua Cutler, Diana Cutler, Geshe Yeshe Thapkay, Thubten Chodron, Steven Rhodes, Gareth Sparham, Natalie Hauptman, Thomas Griffin, và Susan Higginbotham mỗi người đã hổ trợ tận tâm, trong nhiều cách, khi tôi cần.
Vì sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma là một sự giải thích về Đại Luận cho những người nói tiếng Anh, tôi trích dẫn những liên hệ thông thường của ngài tới nó trong phần chính của luận điển bằng việc đặt nó trong dấu ngoặc đơn số quyển và số trang của bảng tiếng Anh của nhà xuất bản Snow Lion. Tôi đã chú thích lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma với lời ghi chú để giải thích và sự tham khảo thư mục một cách chính yếu từ sự chuyển dịch tiếng Anh của nhiều bản văn khác mà ngài trích dẫn. Do bởi tác phẩm này nhắm đến những độc giả phổ thông, thế nên tôi đã không dùng những ký âm tiêu chuẩn trong sự diễn dịch Phạn ngữ, và tôi đã liên hệ đến sự diễn dịch những tên tuổi Tây Tạng và thuật ngữ trong một hình thức ngữ âm học thích đáng hơn là với bản chuyển ngữ.
Guy Martin Newland (sinh năm 1955), là một học giả của Phật Giáo Tây Tạng, là một giáo sư của Đại học Central Michigan University ở Mount Pleasant, Michigan từ năm 1988. Ông phục vụ như trưởng khoa Triết học và Tôn giáo trong thời gian từ 2000-2003 và 2006-2009. Ông đã đắc cử vào Hội Đồng Giáo Dục của Mount Pleasant vào tháng Bảy năm 2003 và phục vụ cho đến tháng 12 năm 2007, kể cả sáu tháng làm Chủ Tịch của Hội Đồng và một năm làm Thư Ký.
Newland là một học trò của Jeffrey Hopkins.
Thursday, July 10, 2014
Tôi danh dự chào đón quyển sách tuyệt vời này. Trong ấy, Đức Thánh Thiện, vị Đạt Lai Lạt Ma vĩ đại của Tây Tạng (sinh năm 1935) cho một giáo huấn tóm tắt mà bao hàm toàn diện về những hướng dẫn tinh hoa được trình bày trong một chi tiết hoành tráng bởi Tổ sư Tông Khách Ba, Jey Rinpoche (1357-1419). Trong Đại Luận Những Giai tầng Của Con Đường Đến Giác Ngộ - Bồ Đề Thứ Đệ Đại Luận. Tông Khách Ba đã viết tác phẩm vào năm 1402, năm thứ tư sau khi ngài Giác Ngộ trọn vẹn, trên Động Yama-tongue của núi Oeudey Gungyal, ẩn thất tại Olkha, nơi ngài đã tu hành trong 5 năm. Trong những năm sau đó, ngài chỉ chú tâm trong một vấn đề - canh tân giáo lý giải thoát của Đức Phật và vô số vị kế thừa đến Atisa (982-1054) thành một sự chỉnh lý hiệu quả cao độ con đường đến Giác Ngộ, có thể tới được những con người đủ trình độ đa dạng nhất. Trong buổi đầu của thế kỷ này tác phẩm vĩ đại này đã được chuyển dịch một cách tuyệt diệu sang tiếng Anh bởi những học sinh của tôn đức Geshe Wangyal. Để kỷ niệm công trình ấy, năm 2008, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đến Hoa Kỳ và chỉ dạy những sự thực tập, được ghi lại một cách tuyệt vời trong quyển sách này, Từ Đây Đến Giác Ngộ. Tôi thật may mắn đã hiện diện tại đại học Lehigh University vào lúc ấy; nhưng đọc quyển sách này bây giờ, tôi thật kinh ngạc về vấn đề tôi đã bỏ lỡ biết bao nhiêu vào lúc ấy - giống như viên ngọc trong sáng nhiều phương diện với một kính lúp mạnh mẽ hơn: khi sự giảng dạy ở trước mặt quý vị trong một văn kiện thì quý vị có thể thấy một cách sắc bén hơn những chiều sâu và những sự phản chiếu tuyệt vời hơn.
Nó cho quý vị mọi thứ mà quý vị cần để thâm nhập vào những giai tầng của con đường đến Giác Ngộ. Tuy thế, nó ngắn gọn và giản dị, chưa bao giờ có trong đầu của một người mới tu tập, trong khi cùng lúc là sự đòi hỏi của những sinh viên kinh nghiệm hơn trong sự thẩm tra đổi mới và tuệ giác nội quán và lập luận tinh tế sâu hơn. Đấy là loại tinh hoa súc tích mà chỉ có thể được trình bày bởi một vị thầy vĩ đại thật sự này về năng lực và thực tế về tuệ trí và bi mẫn của con người.
Vào khởi đầu của Đại Luận, chính Tông Khách Ba đi vào những chi tiết về sự vĩ đại của giáo huấn mà nó trao truyền, mà ngài đã đón nhận từ bậc tiền bối lừng lẩy, Atisa, qua những tác phẩm hạt giống Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ và Những Giải Tầng Của Con Đường Giác Ngộ, là nền tảng của dòng Kadam của Phật Giáo Tây Tạng. Một trong lý do về sự vĩ đại của giáo huấn là sự vĩ đại của vị thầy, và sự vĩ đại của Atisa là rõ ràng từ tiểu sử của ngài, sự tác động khổng lồ của ngài ở Ấn Độ và Tây Tạng, và một cách đặc biệt từ di sản ngài để lại trong hình thức của "con đường bốn thứ tự" đến sự tiếp nhận tin cậy giáo huấn của Đức Phật. Cốt lõi của thứ tự này là: (1) tất cả giáo lý được thông hiểu như không mâu thuẩn; (2)tất cả kinh luận có tác dụng như những hướng dẫn thực tiển; (3) Khuynh hướng của Đấng Chiến Thắng vì vậy là dễ dàng đối với người khám phá; (4) do thế vực thẳm của việc từ bỏ giáo Pháp được tránh khỏi. Một nghìn năm sau con đường 4 thứ tự này vẫn là cung cách chắc chắn thành công để tránh sự phân phái trong Phật Giáo, và Đức Đạt Lai Lạt Ma là một tấm gương sống của việc công bằng và trung thực về điều này, khi ngài chứng minh đầy đủ trong tác phẩm quý giá này. Sự thực hành riêng của Đức Thánh Thiện, là không tự cho mà là chứng cứ của thực chứng, và là sự truyền đạt hùng biện cẩn trọng đến một cách trong sáng qua tác phẩm này và mở rộng cửa cho học nhân bắt tay vào Những Giai Tầng Của Con Đường Vĩ Đại!
Đức Thánh Thiện bắt đầu bằng việc chia sẻ ba chí nguyện chính trong cuộc đời ngài như một con người, duy trì những giá trị căn bản của loài người của sự thông minh và thương yêu; như một tu sĩ Phật Giáo, người nhiệt tình giữ gìn trong những nguyên tắc của con đường bốn thứ tự tất cả những tôn giáo lớn ngoài Phật Giáo, được đề cập một cách đặc biệt là: Do Thái Giáo, Ki Tô Giáo, và Hồi Giáo, và ngay cả những truyền thống tâm linh nhân bản thế tục; và như một người Tây Tạng, tìm kiếm sự hòa giải với tất cả mọi dân tộc, vươn tay ra với từ ái và hiểu biết một cách đặc biệt với người Trung Hoa, những người trên bình độ nhân loại thông thường có thể xem như những kẻ thù tệ hại nhất của người Tây Tạng.
Xa hơn nữa, trong Phật Giáo, ngài giải thích vấn đề ngài tôn trọng như những người anh trong giáo lý Theravada của truyền thống Pali, và truyền thống Đại Thừa, của truyền thống Phạn ngữ, mà trong ấy ngài xem Phật Giáo Trung Hoa cũng là những người anh của ngài. Nhưng rồi thì ngài tuyên bố rằng cả Tông Khách Ba và chính ngài là những người thừa kế truyền thống của Đại học Na Lan Đà, Phật Giáo Ấn Độ, từ ngài Long Thọ, Thánh Thiên, Vô Trước, và những vị khác, và chia sẻ với chúng ta niềm vui mãnh liệt mà ngài có được từ những cơ hội của việc giảng dạy những học nhân Ấn Độ và khôi phục lại những kho tàng thông tuệ và tâm linh mà họ đã đánh mất từ lâu trong tâm tư và trái tim của họ.
Tôi đặc biệt xúc động, vô cùng sâu xa, khi tôi có cơ hội để giảng dạy Phật Pháp đến những Phật tử Ấn Độ. Khắp nơi trên toàn thế giới mà tôi đi giảng dạy, toàn bộ thông điệp của tôi không gì khác hơn là những tư tưởng Phật Giáo Ấn Độ cổ xưa. Đấy là tất cả. Thí dụ, thông điệp về bất bạo động, ahimsa - đây là một truyền thống của Ấn Độ. Và mọi thứ tôi đang giảng dạy ở đây về con đường đến Giác Ngộ - đây là kho tàng của truyền thống Na Lan Đà. Khi tôi giảng dạy những người bạn Ấn Độ, tôi nghĩ về vấn đề chúng tôi giữ gìn sống động ở Tây Tạng kho tàng mà họ đã đánh mất hầu như gần hết qua nhiều thế kỷ. Nó cho tôi một cảm giác hạnh phúc khó tả để mang trở lại cho họ.
Đọc đoạn này nhắc nhở chúng ta một cách sinh động về vấn đề Đức Thánh Thiện đã khẩn nài thế nào (cùng với cố tôn đức Geshe Wangyal) muốn tất cả chúng ta thấy đến sự chuyển dịch thư viện đại học Na Lan Đà, những công trình của những đại hiền nhân học giả/hành giả được tập hợp lại trong tạng Đan Thù (Tengyur), sang Anh ngữ, Hoa ngữ, và Ấn ngữ hiện đại và ngôn ngữ Âu Châu. Cuối cùng, ngài nhận thức vấn đề Đại luận của Tông Khách Ba làm sáng tỏ sự tổ chức con đường của Atisa, xây dựng trên vấn đề nó đã được triển khai một cách tuyệt vời như thế nào bởi đạo sư Kagyu Gampopa (1079-1153), đạo sư Sakya Sapan (1182-1251), và đạo sư Nyingma Longchenpa (1308-1364), vì vậy việc chỉ ra sự hòa hiệp giữa Đại Luận của Tông Khách Ba và cốt lõi giáo huấn của những truyền thống chính của Phật Giáo Tây Tạng.
Trở lại giáo huấn thật sự của con đường tiệm tiến, Đức Thánh Thiện đi xuyên qua toàn bộ những chủ đề mà Atisa và Tông Khách Ba vạch ra từ kinh điển như trung tâm của sự phát triển cá nhân: sự quý giá của kiếp sống con người và mục tiêu của nó, sự vô thường thô và vi tế và sự trực tiếp của chết, những hoạt động của nghiệp báo nhân quả, sự không tránh khỏi của khổ đau trong chu kỳ sinh sống ích kỷ. Sự tráng lệ và an lạc của bi mẫn phổ quát khi nó thâm nhập vào trong tâm linh Giác Ngộ - tâm bồ đề - của Bồ tát và giáo huấn cao thượng quan trọng hơn cả của tuệ trí siêu việt về vô ngã, tánh không, và sự tương đối phổ thông (duyên sanh). Trong tất cả những tác phẩm này, chương này đến chương khác, ngài đã trích lục tinh hoa mỗi giai tầng và chia sẻ nó thật rộng lượng trong một cách súc tích; nó ngoạn mục một cách tích cực trong sự chính xác và khả năng của nó. Một cách chu kỳ, giống như ngài trao truyền giáo huấn một cách cá nhân, ngài dừng lại và trả lời những câu hỏi lớn từ những sinh viên và hành giả tiêu biểu, bổ sung thuận lợi đến những ý tưởng đã được dạy.
Trong vài chương sau cùng, Đức Thánh Thiện đã giảng dạy một cách trơn tru qua những sự phức tạp về một vài triết gia Trung Quán chẳng hạn như Long Thọ, Thánh Thiên, Nguyệt Xứng, Tịch Hộ, và Tông Khách Ba và những phân phái Trung Quán Hệ Quả và Trung Quán Tự Quản, những sự diễn giải về tánh không và hai chân lý, quy ước và cứu kính. Ngài thật sự làm cho những chủ đề này rõ ràng và có thể hiểu được, và tối thiểu cho đủ sự định hướng để động viên sinh viên để thẩm tra sâu xa hơn nữa. Và ngài chấm dứt với một sự động viên nồng nhiệt và sự mời gọi tất cả chúng ta thực hiện hành trình trên con đường tiệm tiến đến Quả Phật của chính chúng ta, không chỉ nắm giữ như điều gì đó mà người khác có, hay một số đại sư đã đạt đến, mà khuyến khích chúng ta tập trung vì sự tự do không thể tưởng tượng nổi và phương thức hỉ lạc hiển hiện mà tất cả chúng ta có lối vào bằng việc phát triển tuệ trí năng lực tịnh quang thông tuệ trong tâm thức của mỗi chúng ta, cho dù chúng ta là Phật tử hay không phải Phật tử.
Trong kết luận, nếu sự vĩ đại của một giáo huấn là quan trọng để động viên chúng ta học hỏi, và sự vĩ đại của vị thầy của nó là một dấu mốc quan trọng đối với sự vĩ đại ấy, thế thì sự vĩ đại của vị thầy thế giới, vị tu sĩ Phật Giáo Tenzin Gyatso, Đức Thánh Thiện Đại Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, như sự sắc sảo được biểu lộ trong quyển sách súc tích và sáng sủa này, đúng là dấu mốc thật sự quan trọng đối với sinh khí tĩnh lặng không bao giờ cạn của những giai tầng này của con đường tiệm tiến đến sự Giác Ngộ tròn vẹn, hữu ích đến những con người cởi mở của tất cả mọi tín ngưỡng hay không tín ngưỡng trong nền văn hóa tâm linh đa nguyên trong thời đại chúng ta.
Robert A. F Thurman
Ganden Dekyi Ling
Woodstock, New York
31 tháng Năm, 2013