Hôm nay ngày 6 tháng 6 năm 2021, nhằm ngày 26 tháng Tư năm Tân Sửu, Phật lịch 2565, tại thư phòng Tổ Đình
Viên Giác, Hannover, Đức Quốc, nhân
mùa An Cư Kiết Hạ, tôi chắp bút viết lời
dẫn nhập của quyển sách thứ 69 này, gởi đến
chư Tôn Đức và quý
độc giả xa gần thưởng lãm.
Ở tuổi 72 theo Tây lịch và 73 theo cách tính của người
Việt Nam mình mà tôi còn có cơ hội để ngồi vào
bàn giấy mỗi ngày mấy tiếng đồng hồ để viết, để đọc v.v… đó là một
hạnh phúc vô cùng to lớn đối với
cá nhân tôi. Xin niệm
ân Tam bảo đã cho con được
sức khỏe này, vốn là một món quà
vô giá mà không món quà nào có thể sánh được, bởi “sức khỏe là vàng”. Nếu người không có
sức khỏe, không có
nghị lực, không đặt ra
mục tiêu thì đường đi sẽ chẳng bao giờ đến đích.
Mỗi ngày tôi
thường có một
câu chuyện ngắn sau bữa
điểm tâm cho
Tăng chúng nghe. Có lần tôi bảo rằng: “Tất cả
chúng ta đều
bình đẳng về
thời gian, dầu cho nam hay nữ, tăng hay ni, người lớn hay trẻ thơ... mỗi ngày đều có đúng 24 tiếng đồng hồ như nhau, không hơn không kém.
Tuy nhiên, có nhiều người làm được rất nhiều việc
trong khoảng thời gian 24 tiếng đó, mà cũng có lắm người để phí
thời gian một cách
vô ích,
cuối cùng chẳng được gì. Giống như ánh sáng
mặt trời, lúc nào cũng
bình đẳng soi chiếu khắp nơi trên địa cầu, nhưng những nơi nào bị rừng già hay bóng đêm che phủ thì không thể nào
hấp thụ được ánh sáng ấy. Như
Đức Phật đã từng dạy rằng: ‘Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh’, điều ấy không sai, nhưng có người thì
hiển lộ trong kiếp này, mà cũng có rất nhiều người
Phật tánh ấy chưa đơm hoa kết trái trong
hiện kiếp, phải chờ đến
kiếp sau hay nhiều
kiếp sau nữa,
Phật tánh ấy mới
hiển bày.”
Kể từ năm 1984
đến nay (2021) là 37 năm, cứ đến
mùa hạ, sau
Đại lễ Phật Đản là
chư Tăng Ni tại chùa
Viên Giác đều
kiết giới an cư. Và
trong khoảng thời gian dài như thế, có những năm
Giáo Hội Âu Châu tổ chức thì khi nhiều có đến hàng trăm vị về đây
an cư, khi
ít nhất cũng trên 10 vị, cả Tăng lẫn
Ni chúng thường trú và ngoại trú cùng
tham dự.
Thời khóa biểu
an cư ở trường hạ nào cũng đều giống nhau, thường là như sau.
Sáng sớm
thức dậy tọa Thiền và trì tụng
Thần chú Thủ-lăng-nghiêm; sau giờ
điểm tâm là giờ chấp tác hay học bài; 11 giờ 30 cúng
quá đường.
Trong
mùa an cư kiết hạ, quý
Phật tử tại gia thường
cúng dường trai tăng. Đây là cơ hội để người
Phật tử tại gia gieo duyên với
Tăng bảo, và sau lễ
tác bạch, tôi thường đáp từ bằng những
câu chuyện trích từ kinh sách, để
tán thán hay huấn thị, hướng dẫn...
Sau giờ
quá đường là
đi lên Chánh điện kinh hành nhiễu Phật,
cuối cùng hồi hướng. Nếu hôm nào có cúng hương linh thì một số quý Thầy lo
chu toàn việc này.
Từ 12:30 đến 2 giờ, là giờ nghỉ trưa của
đại chúng. Buổi chiều học tập hay ôn bài. Một số các chú, các cô sa-di, sa-di-ni lo chuẩn bị
công phu chiều và sau đó là dược thực (ăn nhẹ).
Khoảng 20 giờ
đại chúng vân tập lên
Chánh điện để
tụng kinh,
lễ bái,
ngồi thiền; 21:30
chấm dứt việc chung, ai về phòng nấy nghỉ ngơi dưỡng sức để
tiếp tục cho ngày hôm sau.
Cứ thế và cứ thế, “tam nguyệt
an cư, cửu tuần cấm túc”
trôi qua đúng như
quy củ Thiền môn xưa nay, theo
tinh thần Tứ phần luật đã phân định.
Vào chiều ngày 14 và ngày cuối tháng (30 hoặc 29
âm lịch)
chư Tăng Ni đều làm
lễ Sám hối, và sáng hôm sau ngày rằm hoặc mồng một là
lễ Bố Tát tụng giới của chư tỳ-kheo. Chư ni
lễ Phật, lễ Tổ rồi đi tụng giới riêng;
chư Tăng vẫn ở tại
Chánh điện giáo giới cho
Cư sĩ thọ giữ 5 giới, xong đi ra; đến sa-di, sa-di-ni thọ giữ 10 giới
đi vào đảnh lễ và nghe giới do
Giới sư tuyên đọc.
Kế tiếp, vị Thầy chính sẽ đọc lời tựa của
giới bổn và vấn hòa làm pháp Yết-ma. Sau khi làm pháp Yết-ma xong, vị Thầy chính chia ra nhiều vị để cùng tụng 250 giới gồm: 4 pháp Ba-la-di, 13
pháp Tăng tàn, 2 pháp
Bất định, 30 pháp
Xả đọa, 90 pháp Đọa, 4 pháp Hướng bỉ hối, 100
pháp Chúng học và 7
pháp Diệt tránh.
Cuối cùng, tụng Bát-nhã,
hồi hướng. Sau đó vị Thầy
chính cần căn dặn gì thì
đại chúng lắng nghe, hoặc chúng có
Phật sự gì cần thưa thỉnh thì trình lên
chư Tăng hiện diện để
trao đổi với nhau.
Vào lúc 17 giờ chiều ngày mồng Một hay Rằm, tại chùa
Viên Giác thường
tụng giới Bồ Tát cho cả
cư sĩ và tăng sĩ cùng
tham dự. Vì đa phần các
Phật tử Việt Nam ở Đức khi
thọ giới Bồ Tát thường hay thọ 10 giới trọng và 48 giới nhẹ. Đây còn gọi là “đạo tục
thông hành giới”, nên
chư tăng ni và
cư sĩ có thể cùng nghe hay tụng giới chung trong một
đạo tràng.
Khi đúng 3 tháng, trước hay sau
Đại lễ Vu Lan là
lễ Tự Tứ, mãn hạ.
Xưa nay chùa
Viên Giác vẫn là một
đạo tràng kiết giới An Cư Kiết Hạ cho
Tăng Ni không
phân biệt tông phái, nên những ngày
kiết giới An Cư hay
Tự Tứ đều có rất đông
Tăng Ni trong tổ chức DBO (Deutsche Buddhistische Ordengemeinschaft) -
Cộng đồng Tăng lữ Đức, thường về chùa
Viên Giác để cùng
kiết giới và sau đó về lại trụ xứ của mình
để tâm niệm
an cư, đến ngày
Tự Tứ lại về Chùa
Viên Giác để nhận thêm một tuổi hạ.
Kể từ năm 1984 đến năm 2019, nghĩa là trong 35 năm
An Cư Kiết Hạ ấy, vào mỗi buổi tối, tôi và
Đại chúng Chùa
Viên Giác đều
hành trì pháp môn lễ bái hồng danh Phật trong các Kinh như Kinh Ngũ Bách Danh, Kinh
Tam Thiên Phật Danh và Kinh
Vạn Phật. Nhưng cũng có những
bộ kinh chúng tôi lạy từng chữ một, như
Kinh Pháp Hoa và Kinh Đại-bát Niết-bàn. Mỗi đêm
chúng tôi lạy khoảng 300 đến 350 lạy. Đến trước
mùa An Cư Kiết Hạ năm 2019,
chúng tôi đã lạy xong tất cả những Kinh này để đón mừng sinh nhật lần thứ 70 của tôi, cũng như 55 năm
xuất gia học đạo và
hành đạo (1964 – 2019).
Kể từ
mùa An cư này, Thầy trò
chúng tôi phát tâm trì kinh chứ không
lễ bái kinh nữa. Vì tuổi của tôi đã lớn, nên chọn
phương pháp ngồi
tụng kinh thích hợp hơn và có lẽ vào lúc cuối đời, tôi sẽ chọn
pháp môn niệm Phật để đón nhận một sự ra đi
an lạc của thân cũng như tâm.
Sau
Phật Đản năm 2019,
chúng tôi đã bắt đầu trì
tụng Kinh Đại Bảo Tích gồm 9 cuốn, do cố
Hòa Thượng Thích
Trí Tịnh dịch từ chữ Hán trong Đại Chánh Tân Tu
Đại Tạng kinh sang tiếng Việt, được in với chữ lớn đậm, dễ đọc. Cũng nhờ
công đức của hàng ngàn
Phật tử khắp nơi trên
thế giới đã ấn tống 1.000 bộ (mỗi bộ 9 quyển) nên
chúng ta mới có
cơ duyên trì tụng.
Lạy từng chữ thì lâu, chứ tụng thì mỗi đêm thường tụng được 40 đến 50 trang. Đến giữa năm 2020,
Đại chúng chùa
Viên Giác đã tụng xong 9 quyển Kinh
Đại Bảo Tích và tôi đã bắt đầu hướng dẫn
Đại chúng tụng
bộ Kinh Đại Bát-nhã 24 quyển, do cố
Hòa Thượng Thích
Trí Nghiêm dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt và cố
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
hiệu đính. Kinh này
nguyên thủy bằng tiếng Sanskrit, nằm trong số
Kinh điển mà ngài
Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang đời Đường bên Trung Hoa, vào đầu thế kỷ 7, đã sang
Ấn Độ du học và mang về
Trường An. Ngài đã được Vua
Đường Thái Tông hộ trì bằng cách thỉnh Ngài đến cung
Ngọc Hoa để
dịch kinh viết sách.
Đa phần ngài
Huyền Trang chủ trì dịch ra chữ Hán, kế đó có các vị
học giả do đức vua đích thân tuyển chọn sẽ đọc lại và
trau chuốt về văn phong. Sau khi
hoàn tất, bản dịch được khắc lên gỗ để in thành nhiều bản, khó khăn hơn rất nhiều so với thế kỷ 20 - 21 dùng máy in
công nghiệp để in ra rất nhanh và đẹp.
So ra tiến trình dịch thuật và in ấn
ngày xưa nhiêu khê
vô cùng, nhưng nhờ có chư
Tổ sư nhiều đời đã không bỏ lỡ công cuộc
truyền thừa, luôn xem “hoằng pháp thị gia vụ”, nên ngày nay
chúng ta mới có được những
bản kinh được trực dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán và từ Hán sang Việt.
Quả thật là
chúng ta sinh vào thế kỷ 20, 21 này vẫn còn nhiều phước báu khi được tiếp cận với nguồn
Pháp bảo vô cùng phong phú. Do vậy,
chúng ta lúc nào cũng phải niệm
ân Tam Bảo.
Nếu không có
Giáo Pháp truyền thừa thì
chúng ta sẽ không hiểu được Phật, mà không hiểu được
lời Phật dạy thì không thể
dựa vào đâu để
tu tập. Cho nên phải nói rằng
công đức của ngài
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang rất lớn. Từ đó suy ra,
nếu không có những
Hòa Thượng như Ngài
Trí Tịnh, Ngài
Trí Nghiêm, Ngài Thiện Siêu dịch từ chữ Hán ra tiếng Việt, thì
chúng ta cũng sẽ khó mà tiếp cận được với loại
ngôn ngữ khó nhất nhì
thế giới này.
Công đức này,
chúng ta là người
Phật tử Việt Nam phải cúi đầu
đảnh lễ tri ân quý Ngài.
Đến
mùa An Cư năm 2021, thầy trò
chúng tôi đã trì tụng đến tập thứ 6 của Kinh Đại
Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Từ đây đến
cuối mùa An Cư sẽ còn trì tụng nhiều tập
kế tiếp nữa. Tất cả những
Kinh điển nói trên đều dịch từ bản Hán ngữ trong Đại Chánh Tân Tu
Đại Tạng Kinh (Taishō Shinshū Daizōkyō - 大正新脩大蔵経). Do vậy, đọc hay tụng những kinh văn này vẫn là một phần rất quan trọng khi
chúng ta đi sâu vào
Đại Tạng.
Đường vào
Đại Tạng Kinh mênh mông bát ngát như một
đại dương rộng lớn, nhưng nếu người lữ hành có tấm bản đồ
mang theo bên mình thì
chúng ta sẽ không bị
lạc lối giữa cảnh trời cao bể rộng ấy. Nếu người ra đi mà không biết
phương hướng thì sẽ dễ bị lầm đường
lạc lối. Nay
chúng ta đã có
Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng; có giới, định, tuệ thì lo gì khó khăn trở ngại khi
chúng ta lặn ngụp vào
đại dương Kinh, Luật, Luận ấy? Nói rộng thì
mênh mông, không gì có thể đo lường, nhưng nếu nói gọn thì tinh
yếu chỉ dạy trong
Tam tạng Thánh giáo của
Đức Phật chỉ nằm gọn trong những câu sau:
Hãy bỏ tất cả các việc ác,Làm tất cả các việc lành,Tự làm thanh tịnh tâm ý của mình,Đó là lời chư Phật dạy.Đi vào Đại Tạng Kinh Đại Thừa, người ta thường bắt đầu từ các quyển Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tạp A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và Bộ Bản Sanh. Đây là những tập
căn bản,
tương ứng với kinh bên Nam Truyền là
Trường Bộ Kinh,
Trung Bộ Kinh,
Tương Ưng Bộ Kinh,
Tăng Chi Bộ Kinh và
Tiểu Bộ Kinh.
Sau đó
đi vào Kinh, Luật, Luận thì giữa Nam Truyền và Bắc Truyền khác nhau rất nhiều. Phần tôi, sẽ chỉ lược nói qua những gì
chúng tôi đã đọc, đã dịch, đã nghe, đã thâu thập để
giới thiệu đến quý vị
xa gần.
Dĩ nhiên, mỗi người đều có cách
đọc tụng Đại Tạng kinh khác nhau, chẳng ai giống ai cả, nhưng chung quy thì
việc làm cho
lời Phật dạy được nối tiếp
lâu dài trên
thế gian này vẫn là
nhiệm vụ của
chúng ta, những người đi sau, nối gót theo
con đường hoằng pháp của các bậc Tổ Đức đời trước đã
hành trì. Làm được như vậy là một sự
hy hữu lắm rồi.
Năm 2003, sau khi
khai sơn sáng lập và
Trụ Trì chùa
Viên Giác 25 năm (1978 – 2003), tôi đã
quyết định trở về ngôi
Phương Trượng và giao lại việc
điều hành ngôi Tổ Đình này cho quý Thầy
đệ tử xuất gia lo liệu. Đây là một
quyết định đúng đắn, vì
mục đích của tôi là có được nhiều
thời gian hơn để
dịch kinh, viết sách và nhất là đọc
Đại Tạng kinh. Và
tâm nguyện ấy của tôi đã được các
đệ tử tôn trọng, hỗ trợ cho tôi từ đó
đến nay. Các vị đã không cô phụ sự kỳ vọng của thầy mình.
Trong 5 năm, từ năm 2003 đến 2008, Thầy Hạnh Tấn đã
đảm nhận chức
Trụ Trì ngôi Tổ Đình
Viên Giác. Từ năm 2008 đến năm 2017,
trong vòng gần 10 năm, Thầy Hạnh Giới
tiếp nối đảm nhận vai trò Đệ nhị
Trụ Trì. Và từ năm 2017
đến nay (2021) Thầy Hạnh Bổn
đảm nhận vai trò của Đệ tam
Trụ Trì ngôi
đại tự này.
Từ năm 2003 đến 2012, suốt 10 năm đó, mỗi năm từ 2 đến 3 tháng tôi có
thời gian để tịnh tu
nhập thất, viết sách,
dịch kinh tại núi đồi
Đa Bảo gần Sydney, nơi bào huynh của tôi là
Hòa Thượng Thích Bảo Lạc
sáng lập, và mỗi lần đến Úc như thế tôi đã dẫn theo nhiều
đệ tử đi cùng để phụ phần đánh máy những kinh sách nào tôi đã dịch ra. Cho nên trong
thời gian 10 năm ấy tôi đã cho ra đời được 20
tác phẩm và dịch phẩm bằng nhiều
ngôn ngữ khác nhau.
Quả thật là “bất khả tư nghì” không có giấy bút nào để viết lên lời
cảm tạ cho đủ. Tạ ân đất trời, tạ
ân Tam Bảo, tạ ân
Cha mẹ, Thầy Tổ,
huynh đệ, tạ ân đàn-na
thí chủ, tử đệ v.v…
Ân nghĩa thì nghìn trùng, làm sao
chúng ta có thể quên đi những nghĩa ân này được.
Cũng chính trong
thời gian trên,
cá nhân tôi đã
quyết định tham gia dịch một phần của
Đại Tạng Kinh và phần này sẽ
giới thiệu chi tiết với quý vị trong những chương sau.
Chúng ta được biết là sau khi đậu
Tiến Sĩ Văn học tại
Đài Loan,
Hòa Thượng Thích
Tịnh Hạnh mong muốn
xây dựng một bộ
Đại Tạng thuần bằng tiếng Việt, nên năm 1994
một mình một bóng Thầy đã âm thầm về lại
Việt Nam tìm người
phiên dịch, cũng như ra ngoại quốc tìm nguồn tài chánh hỗ trợ của các chùa và các
Phật tử. Đến năm 2000, nghĩa là sau hơn 6 năm
vận động, những
bộ kinh căn bản A-hàm đã được in ra, và
Hòa Thượng Tuệ Sỹ cũng như một số
chư Tôn Đức đã đóng góp phần mình vào giai đoạn đầu này không ít. Rồi từ đó
cho đến khi
Hòa Thượng Thích
Tịnh Hạnh viên tịch tại
Đài Loan năm 2015, thì Ngài đã cho in được 187 tập tất cả. Còn 16 tập sau cùng từ tập 188 đến tập 203 sẽ được xuất bản trong năm 2022.
Dĩ nhiên, những
bộ Kinh, Luật và ngay cả Luận như
Trung Quán Luận,
Đại Trí Độ Luận,
Đại Thừa Khởi Tín Luận v.v… cũng đã được quý
Hòa Thượng dịch xong trước đó nhiều năm,
Hòa Thượng Thích
Tịnh Hạnh chỉ cho
biên tập chung vào trong
Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh để
trở thành một Tạng Việt ngữ như hiện nay. Tuy chưa hoàn chỉnh lắm, nhưng cũng là một
cố gắng không nhỏ của một vị
Đại Sư đã đem chuông đi đánh xứ người và mang về một
thành quả to lớn như vậy, là một điều mà ít ai dám nghĩ tới. (Xem thêm lời bạt của cùng
tác giả viết cho việc xuất bản 16 tập sau cùng, từ tập 188 đến tập 203 của
Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, sẽ rõ được
ngọn ngành cũng như
tâm nguyện của cố
Hòa Thượng Thích
Tịnh Hạnh.)
Những tập
kinh đầu tiên in ấn rất đẹp, bìa cứng mạ vàng, gởi đi từ
Đài Loan của những năm đầu thế kỷ thứ 21.
Chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì từ đây
chúng ta có thể đọc thẳng
Đại Tạng bằng tiếng Việt, chứ không
cần phải qua
trung gian bằng chữ Hán nữa. Thế nhưng kinh sách vẫn nằm đấy, chỉ
xem qua và
trầm trồ nhìn ngắm,
khen tặng chứ tôi cũng chưa dám giở ra từng trang để đọc, vì lẽ thấy
bộ kinh đồ sộ quá. Tuy rằng
thuở ấy chỉ mấy chục tập
ban đầu được in, chứ không phải một
Đại Tạng Kinh đồ sộ như bây giờ.
Chúng ta cũng biết rằng từ trước thế kỷ 7, nghĩa là trước khi Ngài
Huyền Trang sang
Ấn Độ du học thì tại
Trung Quốc đã có nhiều
Đại Sư đến từ
Ấn Độ như Ngài Ma Đằng, Ngài
Trúc Pháp Lan là những người đầu tiên
dịch Kinh Tứ Thập Nhị Chương từ chữ Phạn sang chữ Hán. Rồi sau đó có Ngài
An Thế Cao, Ngài
Nghĩa Tịnh, Ngài
Huệ Viễn v.v… cả hàng trăm
danh tăng và
cư sĩ như vậy vẫn chưa
hoàn thành một
Đại Tạng Kinh giá trị gồm cả Kinh, Luật và Luận, mà phải chờ
cho đến khi Ngài
Huyền Trang từ
Ấn Độ trở về Trung Hoa, thì việc
phiên dịch Tam Tạng Kinh điển mới được
hệ thống hóa lại, và 3
tạng kinh này mới từ từ được
chỉnh đốn sau đó.
Trải qua các
triều đại từ Đường, Tống, Nguyên, Minh rồi Nhà Thanh, cả hơn 1.400 năm như thế, chỉ mới có những bộ
Đại Tạng như Vĩnh Lạc hay Càn Long ra đời. Và phải chờ đến bộ Đại Chánh Tân Tu
Đại Tạng Kinh được
xuất hiện tại
Nhật Bản thời
Thiên Hoàng Taisho (Đại Chánh năm thứ 11, nhằm năm 1922). Đến năm
Thiên Hoàng Showa (Chiêu Hòa năm thứ 9), nhằm năm 1934; nghĩa là suốt 13 năm
lịch sử sau Đệ
nhất thế chiến (1914 – 1918) và trước Đệ
nhị thế chiến (1939 – 1945), Đại Chánh Tạng này đã hình thành và ngày nay các
học giả khắp đông tây đều
căn cứ vào bộ Đại Chánh Tân Tu
Đại Tạng Kinh này để
phiên dịch,
chú giải, diễn giảng v.v... Quả là một kỳ công suốt gần 2.000 năm
lịch sử của chữ Hán mới có được một bộ Hán Tạng như vậy.
Còn
Việt Nam chúng ta qua bao nhiêu năm
thời kỳ Bắc thuộc,
chúng ta vẫn dùng chữ Hán trong mọi
sinh hoạt như thi cử,
hành chánh của triều đình, ngoại giao v.v…
mặc dầu chúng ta đã có chữ Nôm và chữ quốc ngữ, nhưng
cho đến đầu thế kỷ 21 này mới có một
Đại Tạng, tuy chưa được
tiêu biểu lắm,
dĩ nhiên phải còn chỉnh sửa,
hiệu đính nhiều lần nữa, nhưng đó cũng là một niềm tự hào của dân tộc Việt khi so với các nước lân bang như
Nhật Bản,
Đại Hàn,
Tây Tạng,
Mông Cổ v.v…
Riêng phần tôi, năm nay (2021) viết
tác phẩm thứ 69 này, nhưng phải
trải qua nhiều giai đoạn như đánh máy, dò lỗi chính tả, chỉnh sửa v.v… cũng phải mất một
thời gian khá lâu để năm 2022 mới xuất bản được.
Ngày 22 tháng 2 năm 2022, cũng là ngày kỷ niệm đúng 50 năm, tính từ ngày tôi rời xa đất Mẹ
thân yêu để sang
Nhật Bản du học năm 1972. Năm 1977 tôi đến Đức và ở đây
cho đến hôm nay. Và đây cũng chính là
tác phẩm viết để kỷ niệm một chặng đường
tu học,
hành trì suốt 50 năm ở ngoại quốc.
Xin
chư Tôn Đức và quý
thiện hữu tri thức khi đọc
tác phẩm này, nếu thấy nơi nào còn
thiếu sót, sơ hở,
sai trái thì
hoan hỷ chỉ giáo cho, để
tác phẩm này khi tái bản sẽ
hoàn hảo hơn.
Chân thành niệm ân tất cả quý Ngài và quý vị.
Viết xong Lời Dẫn Nhập này vào lúc 11:30 ngày 6.6.2021 tại Thư phòng Tổ Đình Viên Giác, Hannover, Đức quốc nhân mùa An Cư Kiết Hạ, Phật lịch 2565.Tác giả Thích Như Điển