Theo những lời dạy của đạo sư Asita và của các vị kế tục ngài về các pháp tu tập theo thứ tự trước sau (Tiếng Tây Tạng là Lam Rim) một người trở thành tín đồ PG và bắt đầu tu tập theo PG khi người đó quy y Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng, với một trong ba động lực:thứ nhất là sợ tái sinh trong các cõi giới thấp như súc sinh, ngạ quỹ hay địa ngục, tìm sự gia hộ của Tam Bảo để được sinh vào những cõi cao hơn như cõi người, cõi thiên thần hay bán thần (Atula). Thứ hai là sợ quả khổ trong tất cả các cõi do nghiệp và phiền não, nên quy y Tam Bảo để thoát luân hồi. Thứ ba, vì lòng từ bi lớn không thể chịu nổi khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ, quy y để có khả năng dẫn dắt họ đến giải thoát và giác ngộ, sau khi chính mình đã đắc Phật quả.
Nếu không tin thuyết luân hồi thì không thể có một động lực nào trong ba động lực này. Các tín đồ Ấn giáo cũng có động lực là thoát luân hồi, giống như động lực thứ hai của người Phật tử. Arnaud Desjardins viết:
“Sự giải thoát này được xem là thoát luân hồi sinh tử. Vì chín mươi chín phần trăm người Âu không tin có luân hồi và xem điều đó là một sự mê tín của người Á châu nên vấn đề đã được đóng lại: người Ấn giáo và Phật giáo ra sức tu luyện để thoát khỏi một điều không có thật”.
Nếu
ý tưởng đạt được giải thoát cá nhân là
vô nghĩa đối với người
Tây Phương thì
động lực thứ ba nói trên hay
mục tiêu của
Bồ Tát hạnh – đạt
giác ngộ để có khả năng
giải cứu chúng sinh, lại càng
vô nghĩa hơn đối với họ. Người
Phật tử thường
biện luận rằng
nếu không có
luân hồi thì không có
luật nhân quả, và như vậy đối với những người không tin
thuyết luân hồi, mọi sự
trở thành vô nghĩa: mọi
sự kiện chỉ là sự
ngẫu nhiên, khi người khác làm hại
chúng ta thì đó là lỗi của họ chứ không phải là
nghiệp quả xấu của chính mình, và
không có lý do gì để cho
chúng ta tu sửa về mặt
đạo đức. Lối
biện luận này không
hoàn toàn đúng
sự thật, vì
chúng ta thấy rằng có nhiều người Ca Tô giáo cũng
như tín đồ các
tôn giáo khác cũng có
trình độ đạo đức cao dù họ không tin
thuyết luân hồi, và do đó còn có những
lý do khác để người ta
nỗ lực trở nên người
đạo đức.
Tuy nhiên cuộc sống hiện nay trên
thế giới, người
đạo đức thì ít mà người
phạm tội lỗi thì nhiều. Vì sự không
hiểu biết này mà những
đau khổ của
thế gian được xem là có những
nguyên nhân khác, và những
phương pháp khác cải tạo tốt nhất đã bị
bỏ quên.
Vậy,
thông hiểu về
luân hồi là
điều kiện tiên quyết cho việc
tu hành theo PG và
giải trừ sự khổ đau của
thế gian.
Nhưng sự
quan tâm đến
thuyết luân hồi cũng có những
lý do không tốt. Trong cuốn “ Hồi Ký về sự
Ngộ Đạo Hiện Đại” (Memoir of Modern Gnostic) Edward Conze viết về một số
phụ nữ “nhiều tuổi và giàu có” chú ý đến
thuyết luân hồi với ba
lý do:
“Thứ nhất là vì
thuyết luân hồi làm cho họ tin rằng trong một
kiếp trước nào đó họ là những bà hoàng Ai cập hay những nhân vật
tương tự. Thứ hai là vì
thuyết luân hồi giải tỏa cho họ những
cảm giác là mình có lỗi với
xã hội,
mặc cảm vốn
phổ biến trong
giới tư sản của thế kỷ hai mươi, vì theo
thuyết luân hồi thì họ xứng đáng được hưởng sự
giàu sang như
nghiệp quả tốt mà họ đã tạo được trong
tiền kiếp. Vàthứ ba,
thuyết luân hồi bảo đảm với họ rằng
bản ngã quý báu của họ rồi sẽ được
tồn tại khi họ qua đời. Thêm nữa, thông thiên học (theosophy) hứa hẹn rằng họ sẽ được hưởng sự minh triết của các
thời đại và được chia sẻ những
kiến thức thuộc loại huyền bí.
Lý do thứ hai nói trên
biện minh cho sự bất công
xã hội là không
chính đáng và là sự
ứng dụng sai
thuyết luân hồi. Sự
sai lầm này không chỉ
của riêng người
Tây Phương. Do đó
chúng ta cần phải hiểu đúng
thuyết luân hồi để
giải trừ những
sai lầm này.