Dưới tựa đề này
tác giả cố gắng giúp cho người đọc có một cái nhìn ngắn gọn về nguồn gốc và sự phát triển của
Phật Giáo ở phương Tây. Đây
chắc chắn không phải là một sự trình bày rộng rải với nhiều
chi tiết về
Phật Giáo trong
thế giới Tây phương.
Đức Phật sống ở
Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu trước Dương Lịch. Vào
thời kỳ ấy sanh hoạt
trí thức và
xã hội rất mạnh mẽ ở nhiều nơi trên
thế giới: một
thời đại tôn giáo rất sôi dộng,
thời đại thực nghiệm,
thời đại có nhiều khảo sát bạo dạn và nhiều
thành tựu cao cả trong
lãnh vực tư tưởng của
con người.
Các vị
giáo chủ và các nhà
hiền triết xuất hiện hầu như
cùng lúc ở Phương Tây cũng như ở Phương Đông. Đó là thời vàng son hay
tuyệt đỉnh cao
trong lịch sử tôn giáo.
Lịch sử đã
mục kích một sự đổi mới từ
căn bản những
điều kiện tôn giáo và
xã hội ở Greece (Hy Lạp) và Rome (La Mã). Cũng vào thế kỷ ấy, trong lúc Heraclitus truyền dạy chủ thuyết "Panta Rhei" hay
lý thuyết về sự chảy trôi
biến đổi tại Athens, thì Pythagoras phát triển trường phái
nổi tiếng của ông.
Ở
Trung Quốc có Lao Tsu (
Lão Tử). Những lời dạy của Ngài, về sau được gọi là
Lão Giáo,
Đạo Giáo hay "Con Đường của
Thiên Nhiên," đã gợi ý cho những
tâm hồn cao cả nhất của
Trung Quốc.
Khổng Tử,
vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu trước D.L.,
kiên cố thiết lập một
hệ thống luân lý đặt nền tảng trên tập tục cổ xưa và
truyền thống Trung Hoa, và những lời dạy của Ngài được gọi là
Nho Giáo hay đạo Khổng (550-479 trước D.L.).
Tại Persia, ngày nay là Iran (Ba Tư), có Zarathustra hay Zoroaster như người Hy Lạp gọi. Thân, khẩu,
ý thanh tịnh là
giáo lý nòng cốt của Zarathustra.
Tại
Ấn Độ, vào đầu thế kỷ thứ sáu trước D.L., có Mahàvira mà
kinh điển Phật Giáo bằng tiếng Pali thường gọi là Nigantha Nàtaputta, là người
truyền bá đạo Jain. Những người theo đạo này có
lối tu rất khắc khổ, truyền dạy
học thuyết ahimsà hay
lòng bi mẫn vô biên, và
công bố giáo lý nghiệp báo và
chuyển sinh linh hồn.
Đức Phật Gotama là người
đồng thời với Jaina Mahàvira. Ngài đi bộ từ các
con đường lớn đến những nẻo nhỏ của xứ
Ấn Độ để dạy dỗ,
soi sáng và đem
hạnh phúc lại cho nhiều người, và những lời dạy của Ngài được gọi là
Phật Giáo. Chính
Đức Phật gọi
giáo huấn Ngài là Dhamma-Vinaya,
Giáo Pháp và
Giới Luật.
Công Cuộc Hoằng Dương
Giáo PhápBất luận
cố gắng nào để trình bày
Phật Giáo và cuộc
truyền bá Phật Giáo phải bao hàm hai
lãnh vực:
thời gian và
không gian. Đây là
câu chuyện của một
phong trào khởi đầu với một nhóm rất nhỏ. Chỉ có vài người
tín đồ vào lúc
sơ khai,
phong trào dần dần nới rộng,
trưởng thành đến mức bao trùm cùng khắp
thế gian, và
ảnh hưởng đến vận mạng của hơn sáu trăm triệu người, ngót một phần tư
toàn thể nhân loại. Về
thời gian, đã có hơn 2,500 năm.
Phật Giáo được
truyền bá rộng rãi và nhanh chóng như vậy, phần lớn là nhờ
giá trị cố hữu của mình và nhờ
đáp ứng được một cách
thỏa đáng các đời hỏi của những
tâm hồn thích
suy luận; nhưng cũng có những
yếu tố khác giúp vào sự
tiến triển ấy. Không bao giờ những
nhà truyền giáo Phật Giáo (
Dhammadùtas) dùng đến
phương pháp bất công hay
áp bức để
truyền bá giáo lý.
Phật Giáo thâm nhập vào các
quốc gia khác một cách
ôn hòa và không làm
xáo trộn căn bản tín ngưỡng sẵn có. Công cuộc
truyền giáo của người
Phật tử được
thực hiện không phải bằng bạo lực, cũng không phải bằng
áp lực hay những
phương pháp cưỡng chế nào khác.
Đức Phật và các
đệ tử Ngài không thích, và không bao giờ
tìm cách cưỡng bách ai về theo
tôn giáo mình.
Đức Joseph Wain
ghi nhận: "Phật Giáo truyền dạy một
lối sống, không phải bằng cách
thống trị mà bằng nguyên tắc, một
lối sống tốt đẹp, và do đó là một
tôn giáo khoan dung rộng lượng. Đây là
hệ thống từ thiện nhất dưới
mặt trời. Không bao giờ và không nơi nào có máu đổ trong cuộc
truyền đạo. Không bao giờ có hành hà hay ngược đãi những ai không theo cùng một
tín ngưỡng -- một bài học mà người
Cơ Đốc Giáo vẫn còn phải học.
Đức Phật dạy
con người làm cho ngày nay
tốt đẹp và
hiện tại được
thánh thiện."
Phật Giáo, bắt nguồn từ trong vùng thung lũng sông Ganges (Hằng), đầu tiên được chính
Đức Phật và các vị
đệ tử A La Hán của Ngài bổn thân
truyền bá.
Trong vòng hai trăm năm đầu,
Phật Giáo nhiều hay ít vẫn
giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong miền Bắc bán đảo
Ấn Độ. Rồi Asoka đến,
duy nhất giữa các nhà trị dân trên
thế gian, đã
chấp nhận những lời dạy của
Đức Phật và
cố gắng giáo dục dân chúng trên
thế gian bằng cách
truyền bá giáo huấn này, nhất là sắc thái
luân lý. Ông cho ghi tạc trên đá những lời dạy có tánh cách
luân lý, làm cho nó
trở thành những bài giảng trên đá, không phải bóng bảy như các
hình ảnh văn chương, mà
thiết thực cụ thể. Asoka
thấm nhuần sâu đậm
tinh thần khoan dung rộng lượng mà
Đức Phật thuyết giảng, và dưới
triều đại của Ngài tất cả các
tôn giáo khác đều
hoàn toàn được
tự do, không bị ngăn trở hay gặp
chướng ngại nào.
Văn hóa Phật Giáo không bao giờ thiếu
hiểu biết và kém lượng khoan hồng về phưong diện
tôn giáo.
Nhận định rằng
nhân loại sẽ hưởng
lợi ích lớn lao trong một
giáo lý đầy từ mẫn và
trí tuệ như của
Đức Phật, Vua Asoka vận dụng mọi
nỗ lực để hoằng khai
giáo huấn của
Đức Phật ra ngoài xứ
Ấn Độ. Lúc bấy giờ có những vị
đệ tử Phật theo lời dạy của
Đức Bổn Sư:
"Hãy ra đi đó đây vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và nhân loại, và công bố đời sống trong sạch." Các vị sư này sẵn sàng đảm nhiệm mọi trách vụ
truyền giáo ở xứ ngoài,
mặc dầu vào thời bấy giờ việc
tiếp xúc và mọi
liên lạc ngôn ngữ rất khó khăn, và
phương tiện giao thông đầy nguy hiểm. Nhờ lòng nhiệt thành không ngừng hỗ trợ của Vua Asoka, nhờ sự tận lực
cố gắng,
ý chí sắt đá, và đức
dũng cảm của các nhà
truyền giáo (Dhammadùtas),
Phật Giáo được
mở rộng đến các xứ khác. Những
ghi nhận thời Asoka có đề cập đến các chuyến châu du
hoằng Pháp ở những vương quốc Á Châu nằm trong
ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp, ở Phi Châu và Âu Châu -- đến Syria và Egypt; Cyrene, Macedonia và Epius, đến Bactria, và
xuyên qua trung phần Á Châu đến
Trung Quốc.
Đại Đế Asoka
Trong thời Vua Asoka, 236 năm sau khi
Đức Phật nhập diệt, một người con của chính Vua, Đức Mahinda, bậc
hiền thánh A La Hán, đã đưa
Phật Giáo du nhập vào Sri Lanka (
Tích Lan), và nơi đây
giáo lý của
Đức Phật phát triển
dồi dào phong phú đến ngày nay, hầu như trong tất cả
trạng thái tinh khiết nguyên thủy,
trải qua những
thăng trầm của hơn hai mươi thế kỷ.
Từ Sri Lanka,
Phật Giáo được truyền sang Burma (Miến Điện) và Siam, ngày nay là Thái Lan, và từ đó đến Đông Dương.
Phật Giáo được
thiết lập kiên cố tại Tibet (
Tây Tạng), Nepal, Mongolia (
Mông Cổ), và
vững chắc du nhập vào
Trung Quốc. Từ
Trung Quốc vào Korea (Cao Ly), và theo đường biển sang
Nhật Bản.
Phật Giáo cũng được
truyền bá sang Java và phát triển mạnh mẽ tại Sumatra dưới
triều đại Sri Vijaya. Như vậy
Phật Giáo đã vượt khỏi
ranh giới của xứ
Ấn Độ và
trở thành một
tôn giáo thế giới.
Có những
chứng tích hiển nhiên cho thấy rằng
giáo huấn của
Đức Phật tựa hồ như chất men làm dậy lên
đời sống tâm linh của
nhân loại từ những vùng
tuyết lãnh Siberia đến những
hải đảo xanh tươi trong
ánh nắng của
Ấn Độ Dương, và từ Xứ
Mặt Trời Mọc đến Anh Quốc sương mờ mù mịt. Cũng có thể là
Phật Giáo đã
du nhập vào những
văn hóa cỗ xưa của Nam Mỹ vào những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên
chúng ta (Buddha and Buddhism, Arthur Lillie trang 205-208). Lại nữa, cũng nên
ghi nhận rằng hai
văn hóa xưa nhất,
Ấn Độ và Trung Hoa, và ba
tôn giáo lớn nhất ngày nay,
Cơ Đốc Giáo,
Hồi Giáo, và
Ấn Độ Giáo cũng đã có phần nhuận sắc và
cải thiện do sự
thấm nhuần lý tưởng Phật giáo. Dưới ánh sáng của những
sự kiện này ta có thể tưởng tượng phần đóng góp của
Phật Giáo vào
văn hóa nhân loại khổng lồ như thế nào (The Contribution of Buddhism to World Culture, Soma Thera, BPS, Wheel 44).
Lịch sử Phật Giáo không thể tách rời ra khỏi
lịch sử văn hóa và
xã hội Đông Phương. Trong tất cả những
ảnh hưởng đã
un đúc nền
văn hóa Á Châu,
Phật Giáo được xem là
thâm sâu nhất. Bởi vì trong
thời gian trên 2,500 năm, những nguyên tắc
đạo lý và
lý tưởng Phật Giáo đã đượm nhuần
tư tưởng và
cảm xúc của người phương Đông.
Mối
liên hệ tinh thần mà các
quốc gia Á Đông cảm nhận giữa mình và xứ
Ấn Độ, không bao giờ có thể
bền chặt và
kiên cố vững vàng nếu không có
phong trào mạnh mẽ và quan
trọng như phong trào đã bắt đầu tại
thánh địa Sarnath hai mươi lăm thế kỷ về trước. "Giáo Hội
Tăng Già là một cộng hòa to lớn. Trong
thực tế đó là một tiếng nói --
năng lực kiểm soát tối thượng."
Quyền lực không phải ở trong tay một nhân vật
đơn độc nào mà của tất cả,
xem như một
toàn thể. Từ lúc
sơ khai Tăng Già Phật Giáo lúc nào cũng là một tổ chức
dân chủ khuôn mẫu, và
thủ tục nghị viện của nền
dân chủ vẫn còn mối nợ đối với người
Phật tử.
Đề cập đến
Giáo hội chư tỳ khưu mà
Đức Phật đã
sáng lập, Manmatha Nath Sastri của xứ
Ấn Độ viết: "Đức Phật đã
sáng tạo một giống người mới, một giống người
đạo đức anh dũng, một giống công nhân
cứu tinh, một giống Phật.
Giáo Hội Thánh Thiện sừng sửng đứng trước
con người như một ngọn hải đăng để hướng dẫn đoàn thủy thủ và đưa tàu bè vào bến
an toàn."
Phật Giáo đã tự phân tán
xuyên qua những
văn hóa trọng đại khác nhau cùng khắp
thế giới. Nếu
văn hóa Ấn Độ đã lan truyền sang một phần lớn Á Châu và từng phần ở Indonesia (Nam Dương),
công trạng ấy
chắc chắn là của
Phật Giáo; bởi vì các đoàn
truyền giáo Phật Giáo luôn luôn
mang theo với họ nền
văn hóa cao
siêu nhất của
Ấn Độ.
Như vậy sự lớn mạnh của những đế quốc Sumatra dưới thời Sailendras, và
Trung Quốc dưới đời nhà Tang (Đường), chịu
ảnh hưởng một phần lớn của nghệ thuật và thủ công,
triết học và
văn hóa mà người
Phật tử đưa sang từ
Ấn Độ. Do nhờ
Phật Giáo mà Trung Hoa và
Ấn Độ xích lại gần nhau và phát triển nhiều
tiếp xúc với nhau.
Các
phái đoàn của Asoka, vị
hoàng đế khuôn mẫu của tất cả những đấng
minh quân và những nhà cầm quyền trị nước an dân chân chánh của
nhân loại, là những
ảnh hưởng văn hóa trọng đại nhất
trong lịch sử thế giới. Công cuộc
truyền giáo của Đức Mahà Mahinda Thera, con Đại Đế Asoka, là một
phong trào có tánh cách
đạo đức, và nếu ngày nay
văn hóa của dân tộc Sri Lanka được xem là rất cao trên bình diện
văn hóa nhân loại, phần lớn là nhờ
ảnh hưởng của
Phật Giáo và những gì
liên hệ với
pháp hành của
Phật Giáo.
Tăng Già có một
vai trò rất quan trọng trong
tình trạng sống còn của
Phật Giáo (Buddha Sàsana).
Chư tăng và người
cư sĩ tại gia, cả hai đều
cần thiết cho
thế gian.
Đức Phật không bao giờ hạ thấp hạng người này để đứng về phía người kia. Do đó thật sự phải có tương quan
mật thiết giữa
thiện tín và
chư tăng để
duy trì lâu dài nền
đạo giáo (Sàsana). Cũng nhờ mối tương quan
tốt đẹp ấy trong
Phật Giáo mà
tôn giáo này được giữ nguyên vẹn
trong sạch như thủa nào và
tồn tại vững bền xuyên qua những
triều đại cổ xưa của những vì vua
Phật Giáo.
Và có những
tài liệu được
ghi nhận cho thấy rằng
chư tăng và chư ni của
Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo đã bất chấp mọi hiểm nguy,
du hành đến những phương trời xa xôi để
truyền bá thông điệp hòa bình của
Đức Phật, và đã bỏ mình ở các vùng đất
xa lạ, với tâm
hoan hỷ và
thanh bình an lạc vì đã
hoàn tất phần việc của mình.
Đời sống và những
cố gắng của những vị này thật
trong sạch và toàn hảo. Đây là một trong các đóng góp cao cả nhất vào
văn hóa thế giới. Tưởng niệm đến các
tu sĩ kỳ diệu ấy khơi dậy nơi ta
ý nguyện quyết tâm làm như các Ngài: sống, suy tư và làm việc "vì
lợi ích của nhiều người, vì
phúc lợi và
an lành của nhiều người, vì
lòng bi mẫn đối với
thế gian."
Thời Đại Khoa Học Và Kỹ Thuật
Ngày nay
chúng ta đang sống trong
thời đại khoa học và kỷ thuật,
thời đại mà những
phương tiện giao thông và
tiếp xúc đã
thành đạt nhiều kết quả bất ngờ. Các nhà
truyền giáo (Dhammadùtas) ngày nay có thể đi đến tận những hóc hẻm xa xôi của
quả địa cầu để
giáo hóa,
soi sáng và đem
hạnh phúc đến những người, già và trẻ, muốn tìm một lối đi mới cho cuộc sống.
Tiếng gọi của
thời đại này là một
giáo huấn hợp lý.
Tuy nhiên,
con đường của các nhà
truyền giáo (Dhammadùtas), không phải trơn tru suôn sẻ như có vài người có khuynh hướng nghĩ vậy. Đây không phải là một cuộc dạo chơi hay chỉ suôn là
du hành để nghĩ mát. Khi một
nhà sư Phật Giáo, mình
đắp y vàng, đầu cạo trọc và
mắt nhìn xuống, rão
bước dài theo những
con đường của một thành phố lớn như Rio de Janeiro ở Nam Mỹ, thì đó là một
hình ảnh kỳ lạ có thể khơi gợi những
lời phê bình kém
thân thiện của khách qua đường. Lại có sự khác biệt khó chịu về khí hậu mà
nhà sư từ vùng nhiệt đới đến phải
kinh nghiệm.
Con đường của nhà
truyền giáo trải qua những
quốc gia khó khăn có thể
ngoằn ngoèo, khúc khuỷu và
quanh co xuyên qua những khuôn mẫu
văn hóa rất
xa lạ đối với họ. Dầu sao, một nhà Dhammadùta đã chọn
nhiệm vụ cao cả là
truyền bá Giáo Pháp (Dhamma)
tối thượng,
đức hạnh từ bi và
trí tuệ của đấng
Toàn Giác, sẵn sàng
chấp nhận mọi khó khăn và mọi nỗi
khổ tâm với lòng
dũng cảm và
ý chí không lay chuyển. Vị ấy không chùng bước mà mạnh dạn thẳng tiến trên
con đường của mình, tâm luôn luôn chăm chú đến
mục tiêu. Ngài không
cố ý nhét vào tâm của người mình
tiếp xúc những
quan điểm riêng tư của mình.
Mục đích chánh của Ngài là
xây đắp nhịp cầu
hiểu biết để hoằng dương
giáo huấn của bậc
Giác Ngộ, và do đó tạo niềm hoà khí giữa các
tôn giáo.
Mối
liên hệ giữa
Phật Giáo và
thế giới Tây Phương đã có từ trước kỷ nguyên Thiên Chúa. Ta có thể nói mà không sợ
lầm lạc rằng sự
tiếp xúc giữa
Phật Giáo và
thế giới Tây Phương đã có từ trước ngày Đức Chúa Jesus giáng sanh.
Lịch sử cho biết rằng vào thế kỷ thứ tư trước D.L.
Hoàng Đế Alexander the Great của xứ Macedonia đã xâm chiếm
Ấn Độ.
Mặc dầu đế quốc mà ông
sáng lập đã sớm phai tàn, diễn biến này
chắc chắn đã thắc chặt mối tương quan giữa hai
quốc gia, và sự
phân chia Tây là Tây, Đông là Đông mà Rudyard Kipling
tán tụng,
dần dần tan biến. Và không còn
nghi ngờ rằng
văn hóa Ấn Độ cùng với
tư tưởng Phật Giáo đã
du nhập vào Greece (Hy Lạp) do những
nhà trí thức Hy Lạp lúc bấy giờ
thỉnh thoảng sang viếng
Ấn Độ, và
chính Đại Đế Alexander cũng
cảm thông tư tưởng Phật Giáo, giúp
truyền bá giáo huấn của
Đức Phật. Như đã được đề cập trước đây, những
phái đoàn của Vua Asoka đã vào những lãnh thổ của Hy Lạp, cùng với bức
thông điệp của
Đức Phật. Những
khám phá trong thời
hiện đại đã
tìm thấy những bia đá ghi sắc lịnh của Asoka, viết không phải bằng chữ Brani trong
ngôn ngữ Ấn Độ mà bằng chữ Greek (Hy Lạp) và Aramaic,
ngôn ngữ mà Chúa Jesus nói. Điều này chỉ rằng các giống dân Greek và Semitic (ở Trung Đông, hổn hợp Phi Châu và Á Châu) đã có chú ý đến những lời của
Đức Phật được ghi tạc vào đá do lịnh Vua Asoka.
Tuy nhiên, người Âu Châu mới có cái nhìn thoáng qua vào
Phật Giáo khi những
du khách của họ, nhất là các nhà
truyền giáo Thiên Chúa, đáp tàu hướng về phương Đông vào thế kỷ thứ mười sáu.
Lẽ dĩ nhiên, từ những vị
truyền giáo đi về phương Đông để "khai hóa" người Á Đông và cho họ một
đức tin,
chúng ta không thể
trông đợi một bản tường trình
trung thực và
vô tư về những lời dạy
minh bạch của
Đức Phật, mà chỉ là những
diễn dịch méo mó và
sai lầm. Điều này
nổi bật một cách
rõ ràng trong những văn phẩm đề cập đến
Phật Giáo mà
tác giả là những nhà
truyền giáo thời xưa.
Cảm tưởng chung về
đạo Phật mà những sách này tạo nên là đây chỉ là một
tôn giáo cổ lỗ
sơ khai, chuyên
sùng bái thần tượng. Chí đến ngày nay những
sai lầm ấy vẫn chưa được sửa chửa và vài nhà
truyền giáo tân thời vẫn theo đúng
y như xưa.
Tuy nhiên, phải
ghi nhận vài
giáo sĩ Thiên Chúa trong thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi đã góp phần quý giá vào sự
hiểu biết Phật Giáo.
Tôn Giáo Thế GiớiMột
tôn giáo được xem là
tôn giáo thế giới khi đã được
truyền bá vượt ra ngoài
quốc gia gốc. Ngày nay có năm
tôn giáo thế giới:
Phật Giáo,
Cơ Đốc Giáo,
Ấn Độ Giáo,
Hồi Giáo và
Do Thái Giáo. Phải nói rằng
tôn giáo là một trong một số ít điều làm
phân biệt người này với những người khác. Đây
rõ ràng là một
hiện tượng nhân sinh và như vậy, phải được đối xử như
phương tiện nhân sinh, từ
quan điểm của
con người, và với
cảm xúc của
con người.
Danh từ
"religion",
tôn giáo, có thể được
giải thích bằng nhiều cách. Mỗi
hệ thống tín ngưỡng diễn dịch và định nghĩa theo một lối. Anh ngữ
"religion" có một
ý nghĩa đặc biệt dính liền với nó. Theo
thiển ý của tôi (
Đại Đức tác giả) hình như cố tìm một định nghĩa cho
tôn giáo cũng
vô ích.
Tuy nhiên,
lãnh vực tôn giáo quả thật rất
rộng rãi.
Tôn giáo ngày nay có một
hệ thống cảm xúc,
tư tưởng, và cơ cấu tổ chức đầy đủ, có các buỗi lễ và những
nghi thức tôn giáo. Vào lúc
ban sơ không có những tổ chức như ta thấy ngày nay. Không
tôn giáo nào có tổ chức, có lẽ ngoại trừ
Hồi Giáo, vốn mới được
sáng lập chỉ có 1375 năm nay, là
tôn giáo trẻ nhất trong các
tôn giáo thế giới.
Tuy nhiên, với
thời gian,
tôn giáo được
cải tiến, tổ chức và được
lập thành cơ cấu
sinh hoạt. Ngày nay vài
tôn giáo thế giới không phải chỉ là
đức tin suông nói đến việc cứu rỗi
con người và cuộc sống sau này, mà đã
trở thành nền
văn hóa với đầy đủ các bộ phận:
xã hội,
giáo dục, kinh tế và chí đến
chánh trị.
Bất luận
tôn giáo nào mà người Tây Phưong
chấp nhận và theo, cũng đều từ Á Châu đến. Nên
ghi nhận rằng tất cả những
tôn giáo sống
hiện thời đều bắt nguồn từ Á Châu:
Ấn Độ Giáo,
Phật Giáo, đạo Jain hay Sikkhim ở
Ấn Độ;
Lão Giáo và
Nho Giáo ở Trung Hoa, đạo Zoroastria ở Iran (Ba Tư);
Do Thái Giáo và
Cơ Đốc Giáo ở Isreal (
Do Thái), và
Hồi Giáo ở Arabia (Á Rạp).
Đôi khi có người
Tây Phương, có lẽ đây không phải là những
tư tưởng gia nghiêm chỉnh,
liều lĩnh nói rằng một
tôn giáo như
Phật Giáo, hay chí đến
Ấn Độ Giáo và
Hồi Giáo, có
lịch sử và
văn hóa của riêng chính họ, đó là những khuôn mẫu
văn hóa khác biệt với
văn hóa Tây Phương,
vì lẽ ấy không
thích hợp với người Phương Tây, vốn có nền tảng
văn hóa và lối nhìn sự vật khác hẳn. Nhưng ta biết rằng
Phật Giáo và
Ấn Độ Giáo khởi sanh từ những giống dân Âu-Ấn (Âu Châu-và-Ấn Độ) tại miền Bắc xứ
Ấn Độ hơn 2,500 năm về trước, trong khi đó,
Cơ Đốc Giáo,
tôn giáo thạnh hành nhất ở Phương Tây, bắt nguồn từ tập tục Semitic (
pha lẫn Phi Châu và Á Châu) của vùng Trung Đông, nơi mà
Do Thái Giáo và
Hồi Giáo bắt nguồn. Do đó, khó mà biết được tới độ nào
văn hóa Semitic giống như, hay gần hơn,
văn hóa Tây Phương hay
văn hóa Ấn Độ.
Ta có thể nói rằng về
phương diện tôn giáo, người Á Đông và người Âu Châu, gồm luôn cả người Mỹ, vốn từ Âu Châu đến, đều phát sanh từ một nguồn gốc. Dầu sao, khi
Cơ Đốc Giáo du nhập vào miền Tây Âu Châu và Mỹ Quốc,
xuyên qua đế quốc La Mã, thì có nhiều
biến đổi. Những luồn sóng của nền
văn minh vật chất và
văn hóa Tây Phương ảnh hưởng mạnh mẽ đến
Cơ Đốc Giáo, và Nhà Thờ
dần dần cải cách để
trở thành một
tôn giáo thích hợp với lối nhìn vào sự vật của người
Tây Phương. Các
tôn giáo phải chịu
trải qua những
chuyển biến để tùy hợp
thích nghi với phong tục
cổ truyền, tập quán và phong hóa của dân, của những
điều kiện lịch sử, địa dư và khí hậu, nhưng điều ấy không có nghĩa là phải
hy sinh nền móng nòng cốt của một
tôn giáo.
Phật Giáo Du Nhập Vào Âu Châu
Những
hiểu biết về
Phật Giáo đầu tiên đến Anh Quốc, Đức Quốc, và những
quốc gia khác ở Âu Châu, không phải do các nhà
truyền giáo đạo Phật mà do sách vở. Sách là
giáo sĩ.
Chí đến đầu thế kỷ mười chín người phương Tây mới thật sự bắt đầu
nghiên cứu và
dần dần truyền bá giáo lý của
Đức Phật. Một ít
học giả lỗi lạc tìm học
Phật Giáo và
tư tưởng Ấn Độ, và viết ra những quyển sách
thâm sâu về
lịch sử và
giáo lý nhà Phật bằng nhiều
ngôn ngữ Âu Châu khác nhau. Trong các ấn phẩm này ta có thể
ghi nhận công trình nghiên cứu của các nhà
Đông Phương Học người Pháp, Eugene Burnouf và George Turner, một
công chức tại Sri Lanka đã cho xuất bản bằng mẫu tự La Mã tập Mahavamsa (Đại Niên Sử
Tích Lan) cùng với bản dịch, vào năm 1837, làm
tiên phong mở đường cho những cuộc khảo cứu
tài liệu bằng tiếng Pali của người Âu Châu.
Thành quả của
công trình này tuy
chậm chạp nhưng
tăng trưởng vững vàng trong việc tìm học
Phật Giáo và
văn hóa Phật Giáo. Phải nói rằng phần đóng góp của Anh Quốc vào công cuộc
truyền bá Phật Giáo và những khảo sát
Đông Phương rất là quan trọng. Ta phải
đặc biệt ghi nhận nhà
bác học T.W. Rhys Davids (1843-1922). Ông đến Sri Lanka vào năm 1864 và trong tám năm lưu ngụ tại đây như một
công chức, ông
quan tâm đến chữ Pali và
Phật Giáo; và với sự hướng dẫn và giảng dạy của những
nhà sư uyên bác Sinhala (
Tích Lan), ông học cả hai, Pali và
Phật Giáo. Khi
trở về Anh Quốc vào năm 1872, ông dấn thân vào những
công trình khảo cứu ngành
Đông Phương Học và
hợp tác với những
học giả trứ danh như Victor Fausboll, Hermann Oldenburg và Robert Childers. Childers, cũng như người bạn Rhys Davids, cũng đến Sri Lanka với
tư cách là một
công chức vào năm 1864. Hai quyển của bộ Dictionary of the Pali Language (1872-1875) vào thời bấy giờ là một
công trình bao quát có tầm mức
kiến thức rộng rãi,
đến nay vẫn còn
giá trị để
tham khảo, là một đóng góp
trọng đại trong việc
nghiên cứu tiếng Pali.
Vào năm 1881 Rhys Davids được mời sang Mỹ để thuyết một loạt những bài giảng tại Hibbert. Ông Rhys Davids được người
Phật tử và những ai
quan tâm tìm học tiếng Pali cùng khắp
thế giới tưởng niệm
tri ân nồng nhiệt vì sự đóng góp lớn lao của ông trong
công trình nghiên cứu Đông Phương. Đóng góp lớn nhất của ông là
sáng lập hội Pali Text Society vào năm 1881. Đây là một
cố gắng để
biên soạn một cách
sáng suốt và
ấn loát bằng mẫu tự La Mã
kinh điển Phật Giáo và các
Chú Giải, và chuyển dịch sang Anh ngữ.
Mục đích rõ ràng của ông là "giúp cho người hiếu học có thể
đến gần những kho tàng
văn học Phật Giáo thời
nguyên thủy, tuy
dồi dào phong phú nhưng vẫn còn thầm lặng nằm đó không ai xuất bản và trong
thực tế vẫn nằm im
vô dụng trong những bản thảo khác nhau được tàng trử đó đây trong các
đại học và các thư viện ở Âu Châu." Chính ông đã xuất bản nhiều
kinh điển Pali và chuyển dịch một số. Ông có một
chân giáo sư về
Pali ngữ và
Văn Học Phật Giáo tại
Đại Học London và đứng ra
thành lập viện
nghiên cứu Đông Phương, London School of Oriental Studies.
Về điểm này cũng nên đề cập đến Bà Caroline A. Foley Rhys Davids, một người đàn bà rất
thông minh. không những đã giúp chồng trong công
tác văn học, mà chính bà cũng chủ biên và chuyển dịch sang Anh ngữ một số sách Pali, hay những bản thảo, và
diễn dịch nội dung theo sự
hiểu biết của bà, đôi khi
bất hạnh, không hẳn ăn nhịp hoà điệu với
truyền thống Phật Giáo.
Nếu không có hội Pali Text Society,
giáo lý nguyên thủy của
Đức Phật ắt không được hoằng dương
rộng rãi,
đặc biệt là trong
thế giới Tây Phương. Hội đã xuất bản bằng tiếng Pali, với mẫu tự La Mã, tất cả
Tam Tạng Pháp Bảo (Tripitaka) và nhiều
Chú Giải. Các bản dịch này đã được tái bản nhiều lần, và
đến nay là những quyển sách được lưu trử trong phần lớn các
đại học tại Âu Châu, Hoa Kỳ và các xứ Á Đông.
Thêm vào những sách ấy,
hiện thời chúng ta có bộ Pali-English Dictionary, the Magnum Opus của Giáo Sư Rhys Davids với sự
hợp tác của Dr. W. Stede; Dictionary of Proper Names, của Dr. G.P. Malalasekara; và Pali Tripitaka Concordance. Bộ Oriental Pali Dictionary, mà
Hàn Lâm Viện Đan Mạch (Danish Academy) bắt đầu,
mặc dầu còn phải vài năm nữa mới
hoàn tất, sẽ là một
công trình từ nguyên học
lỗi lạc. Quyển tự điển này do nhà
học giả uyên thâm xứ Thụy Điển, V. Tenckner, với sự
phụ tá của nhà
học giả về chữ Pali của xứ Thụy Điển, Helmer Smith.
Max Muller, người đã tạo nên bộ sách to lớn Sacred Books of the East, một loạt những bản dịch từ nhiều
ngôn ngữ khác nhau của Phương Đông sang Anh ngữ do sự đóng góp của nhiều
học giả, đã khuyến khích Rhys Davids bắt đầu quyển Sacred Books of the Buddhists vào phần cuối của bộ Sacred Books of the East. Loạt sách này vẫn còn đang được
tiếp tục. Các nhà
học giả này, và nhiều người khác mà không có tên ở đây, đã nhiệt thành
nghiên cứu và
truyền bá ngành học Pali và
Phật Giáo không biết mệt. Công tác mà hội Pali Text Society
thực hiện trong vòng 106 năm qua, với sự trợ giúp của những học giã
uyên thâm trong
lãnh vực khảo cứu Pali,
quả thật khổng lồ.
Việc làm lớn lao này được Bà Hội Trưởng Dr. (Miss) I.B. Horner
tiếp tục một cách
vẻ vang thành công. Bà là một
học giả rất nhiệt thành và
chuyên cần, được
nổi danh cùng khắp
thế giới.
Ta cũng phải nêu lên nơi đây những
công trình khảo cứu
Phật Giáo rộng rãi ở nhiều
quốc gia Âu Châu,
đặc biệt là Đức và Pháp, và nhiều
học giả vẫn
tiếp tục việc làm của họ trong
lãnh vực khảo cứu Pali và
Phật Giáo với một
ý chí không lay chuyển.
Khi đề cập đến
Phật Giáo ở Đức
chúng ta phải nhìn nhận
công đức của chính người Đức đã đem
giáo lý của
Đức Phật từ những lãnh thổ
Phật Giáo vào
quốc gia mình. Cũng như
trường hợp của Anh Quốc, chí đến những năm đầu của thế kỷ mười chín người Đức mới
tiếp nhận những
bản kinh sách
Phật Giáo có thể
tin cậy, do các
học giả chuyên về
Ấn Độ Học người Đức, Pháp và Anh xuất bản. Quyển
Kinh Pháp Cú, Dhammapada, một quyển sách trong
kinh điển Phật Giáo mà nhiều người biết, gồm 26 phẩm (chương) và 423 câu, được chuyển dịch có chú thích và những phần trích từ Bản
Chú Giải, từ Pali sang La Tinh và được xuất bản vào năm 1855 do nhà
học giả nổi tiếng người Đan Mạch, Ông Fausball. Đây là
bản kinh Pali được chuyển dịch và xuất bản bằng mẫu tự La Mã lần đầu tiên tại Âu Châu và cũng là lần đầu tiên mà người Âu Châu
quen thuộc.
Vào những ngày đầu, người Đức được khuyến khích
nghiên cứu Phật Giáo do những
tác phẩm của
triết gia trứ danh, Arthur Schopenhauer, mà
tư tưởng chịu nhiều
ảnh hưởng của
Phật Giáo.
Mặc dầu tác phẩm to lớn World as Will and Idea đượm vẻ
bi quan, trái ngược với
tinh thần Phật Giáo vốn không
bi quan cũng không
lạc quan mà là
quan điểm thực tiễn của
đời sống và của
thế gian, triết lý của Schopenhauer
ảnh hưởng mọi người, khuyến khích
tìm tòi khảo sát. Ông khiêu gợi những
tâm hồn, không phải chỉ người Đức mà dân chúng ở Âu Châu nói chung, bằng những bài viết khẳng định rằng
Phật Giáo là cái chìa khóa để giải tỏa tất cả những
vấn đề khó khăn của
đời sống.
Bản
dịch Kinh Pháp Cú, Dhammapada, lần đầu tiên sang tiếng Đức được
ấn hành vào năm 1860, do nhà
Ấn Độ Học Albert Weber, và đó là bản
dịch kinh sách
Phật Giáo đầu tiên ra
một sinh ngữ
hiện đại Tây Phương. Trong
lãnh vực chuyển dịch từ Pali sang Anh ngữ,
công trình của Karl Eugen Neumann, Oldenburg và của
Đại Đức Nyanatiloka Mahàthera
quả thật là xuất chúng. Trong những vị đã góp phần làm cho
Phật Giáo được
hiểu biết tại Đức Quốc ta không thể quên những tên sau đây: Paul Dahlke, một
bác sĩ người Đức đã tám lần viếng Sri Lanka và
nghiên cứu Phật Giáo Pali, là một
Phật tử thuần thành có
kiến thức sâu rộng về
Phật Giáo Theravada (
Nguyên Thủy). Phần lớn những sách do Bhikkhu Silacara chuyển dịch sang Anh ngữ cũng
ảnh hưởng và giúp nhiều cho người biết tiếng Anh.
Paul Dahlke chẳng những viết sách, chuyển
dịch kinh điển
Phật Giáo và xuất bản nhiều tập
báo Phật Giáo, mà sau khi về
Tây Phương, cũng
sáng lập một Nhà
Phật Giáo (Buddhistisches Haus) vào năm 1924 tại Frohnau, Berlin, trong thủa đất rộng mấy mẫu, trên một ngọn đồi
ngoạn mục. Chính phần đất này đã được hội German Dharmadùta Society, Colombo mua lại vào năm 1957, và hiện nay là cơ sở của Sri Lanka Mission.
Đại Đức Nyanatiloka sống đời
tu sĩ Phật Giáo tại Ceylon (tên gọi xứ
Tích Lan thời bấy giờ) hơn năm mươi năm, và
viên tịch tại Sri Lanka (tên hiện nay) vào lúc 79 tuổi thọ. Ngài là người gốc Đức đầu tiên
xuất gia và cũng là người đầu tiên của lục địa Âu Châu. Ngài chẳng những viết rất nhiều sách bằng tiếng Đức và tiếng Anh, mà còn
thành lập cơ sở Island Hermitage năm 1911 bên bờ hồ Dodanduwa, miền Nam Sri Lanka.
Tu viện cô tịch này từ bảy mươi năm nay là
trung tâm đào luyện nhiều người Âu Châu, đến đây
xuất gia,
nghiên cứu và
thực hành Giáo Pháp dưới sự
lãnh đạo và hướng dẫn của
Đại Đức Nyanatiloka. Hiện sống ở đây có những vị tỳ khưu người
Tây Phương, phần lớn là Đức và Mỹ.
Ta cũng phải nhắc đến
Đại Đức Nyanaponika Mahàthera, vị
đệ tử khả kính của
Đại Đức Nyanatiloka. Bước
theo dấu chân của thầy,
Đại Đức Nyanaponika
tiếp nối vẻ vang công trình của bậc
tiền bối mình, đóng góp những bản dịch
trứ danh sang cả hai thứ tiếng, Đức và Anh. Trong
sự cố gắng
truyền bá Phật Giáo, cùng với Mr. Richard Abeysekara, Ngài
thành lập hội Buddhist Publication Society (BPS). Bắt đầu
hoạt động vào năm 1958, hội này ngày nay là nhà xuất bản rộng lớn
nhất thế giới. Quyển Seven Factors of Enlightenment, do
tác giả sách này (
Đại Đức Piyadassi Mahàthera)
biên soạn, là quyển sách nhỏ đầu tiên do hội Buddhist Publication Society xuất bản.
Đến nay hội đã phát hành 360 quyển theo loại "Wheel Series", được phân phối cùng khắp
thế giới.
Oldenburg, Max Muller, Wilhelm Geiger, Kurt Schmidt, George Grimm, Kurt Seidenstuecker, Paul Dhalke,Von Glassenapp, Wald Schmidt và Wintermitz là một vài vị đã làm việc không biết mệt, chuyển dịch
tài liệu Phật Giáo sang tiếng Đức và
biên soạn sách về
Phật Giáo, khuyến khích nhiều người
nghiên cứu những lời dạy của
Đức Phật.
Sự
lưu tâm đến
Phật Giáo được chăm ngòi do các bậc
thông thái uyên thâm như nhà
Đông Phương Học người Pháp, Eugene Burnouf,
triết gia người Đức Schopenhauer và
Đông Phương Học người Anh Rhys Davids, truyền lan cùng khắp Âu Châu và Mỹ Quốc, và kết quả là
đến nay công trình nghiên cứu Phật Giáo được một nhóm
học giả uyên thâm về
Ấn Độ Học và
Đông Phương Học
tiếp nối vẻ vang.
Truyền thống của người Pháp do Burnouf và Sylvan Levi
thiết lập được những
học giả nổi tiếng như Paul Demieville, Louis Renou và những người khác nối tiếp. Học trò của Sylvan Levi, một nhà
Ấn Độ Học người Bỉ Louis de La Valle Poussin, và học trò của ông này, Etienne Lamotte và những
học giả Hòa Lan như K. Kern, J.W. De Jong và G. Tucci người Ý, và tại Nga, những
học giả như Vaailieff, Minayeff và Stecherbatsky và nhiều người khác đã là những người đã giúp đẩy mạnh rất nhiều, những công tác
nghiên cứu Phật Giáo và
tư tưởng Đông Phương.
Tại Mỹ Quốc, vào những năm
cuối cùng của thế kỷ mười chín, Ông Charles Rockwell Lanman và
môn đệ của ông, Henry Clarke Warren
sáng lập nhà xuất bản Harvard Oriental Series để khuyến khích người
Tây Phương lưu tâm đến
trí tuệ cổ xưa của người
Đông Phương và để đem lại sự
hiểu biết lẫn nhau giữa những người sống ở hai bán cầu khác nhau. Trong các ấn phẩm do nhà xuất bản này phát hành, có nhiều sách
Phật Giáo được chuyển dịch từ Pali sang tiếng Anh. Quyển Buddhism in Translation của Warren, vào năm 1896, quyển Buddhist Legends của Eugene Watson Burlingame, vào năm 1921, vốn là bản dịch sang tiếng Anh của quyển Dhammapada Commentary, và bản dịch quyển Sutta Nipata, của Lord Chalmers là những đóng góp quan trọng.
Trong
sự cố gắng của ông để trình bày
Phật Giáo cho đọc giả
Tây Phương, Warren bao hàm luôn trong
tác phẩm của ông
đời sống Đức Phật,
Giáo Pháp, và
Giáo Hội Tăng Già, tất cả đều được trực tiếp
trích dịch từ
kinh điển Phật Giáo chính thống và như vậy làm cho sách chắc thật
chính xác.
Tác phẩm này được
lưu thông rộng rãi tại Mỹ Quốc, Âu Châu và ở phương Đông và gần phân nửa là sách học của
Đại Học Harvard.
Bình luận về nhân vật và
tác phẩm, Lanman nói:
"Sự ra đời vào đúng thời điểm của nhà xuất bản Harvard Oriental Series nhìn về chung, nói lên một cách hùng biện trí
sáng suốt phân biện của người học trò, vừa là
bạn thân mến và không thể quên được của tôi, Henry Clarke Warren. Nơi ông ta chung
hợp lại, không những
ý chí và khả năng
thành lập cơ quan xuất
bản như vậy, mà còn sức học
uyên thâm và
trí tuệ minh mẫn có thể giúp ông nhìn thấy trước một cách tổng quát sự
lợi ích của nó và những gì có thể làm được.
Chúng ta đã biết rằng Phương Đông có nhiều bài học để dạy Phương Tây; dầu đó là bài học để tịnh dưỡng
tâm trí hay vệ sinh cho người lính ngoài mặt trận; dầu là nội tại
triết học có tánh cách
thần linh hay
trạng thái đơn giản của
đời sống, hay việc lấy điều tốt để khắc phục cái xấu, ông ta biết rằng bài học đầu tiên phải dạy là cái
thói quen của tâm, đây là điều có thể dạy được.
Nếu
xét đoán là đúng, nếu các
mục tiêu đã
thành đạt một cách có đo lường -- thì Warren xứng đáng cho người ta tưởng nhớ, không phải chỉ như một
học giả, mà cũng là một người có
tinh thần yêu nước và một
công ích thực dụng."
Chúng ta cũng phải
ghi nhận nơi đây phần đóng góp
quý báu của Cố Giáo Sư Edgerton của
Đại Học Yale University vào
công trình nghiên cứu kinh sách Pali bằng cách soạn thảo quyển tự điển và
văn phạm Buddhist Hybrid Sanskrit Dictionary, Reader and Grammar, xuất bản năm 1953, và Dwight Goddard, một
Phật tử người Mỹ đã viết quyển A Buddhist Bible.
Từ trước thời
Phật Giáo du nhập vào Hoa Kỳ, Đại Tá Henry Steele Olcott, một người Mỹ đã
tham dự trận nội chiến Mỹ Quốc, đứng về phía
liên bang, đến Sri Lanka vào năm 1880 với một người bạn và
đồng nghiệp, Bà Helena P. Blavatsky. Cả hai đều chọn
triết học Phật Giáo. Trên một bức tường ở chùa Vijayànanda Vihàra, Weliwatta, Galle, thuộc ven biển miền Nam của
hải đảo, Colonel Olcott viết: "Những hàng chữ này
chứng nhận rằng vào ngày 19 tháng 5, 1880 những
sáng lập viên hội Theosophical Society (Thông Thiên Học), Madame H.P. Blavatsky và chính tôi,
thọ trì Ngũ Giới lần đầu tiên với Akmimana Dhammàràma Thera tại chùa Vijayànanda Vihàra. S. Olcott."
Rồi hai vị này
thành lập hội Theosophical Society, và
hoạt động nhằm
phục hưng đạo Phật và
văn hóa và nền
giáo dục Phật Giáo, vốn đã tan biến nhanh chóng sau mấy thế kỷ bị ngoại quốc đô hộ.
Công trình của Olcott dã được biết quá nhiều để có thể lặp lại nơi đây. (Xem BPS Wheel số 281, Colonel Olcott, His Service to Buddhism.)
Ta có thể nói một cách
chắc chắn rằng
Phật Giáo được truyền sang Mỹ Quốc vào năm 1893 nhân kỳ
đại hội các
tôn giáo thế giới World's Parliament of Religions hợp tại thành phố Chicago vào năm 1893. Trong kỳ
đại hội này cố Anagàrika Dharmapàla, một người Sri Lanka, và cọng sự viên chặt chẽ của Colonel Olcott,
đại diện Phật Giáo. C.T.S. Strauss của New York, mà về sau viết những sách về
Phật Giáo, có lẽ là người Mỹ đầu tiên
chấp nhận Phật Giáo. Ông
quy y Tam Bảo và
thọ trì Ngũ Giới với Anagàrika Dharmapàla. Người ta nói rằng cũng vào lúc bấy giờ một
Phái Đoàn Truyền Giáo Nhật Bổn lần đầu tiên đến San Francisco và bắt đầu những
hoạt động Phật Giáo tại đây.
Công Trình Phục Vụ Phật Sự Của Anagàrika Dharmapàla
Vào tháng 12, năm 1890 khi Anagàrika Dharmapàla đến viếng Buddha Gayà (
Bồ Đề Đạo Tràng) nơi mà
Đức Phật Gotama
chứng ngộ toàn giác tối thượng, ông
nhận thấy rằng
thánh địa này
rõ ràng bị bỏ phế và
điêu tàn hoang vắng. Nơi đây, dưới cội
Bồ Đề lịch sử, ông
phát tâm khẩn nguyện,
thệ ước cứu thoát Buddhagayà ra khỏi tay những người Mahant không-phải-Phật Tử và đem
trở về Phật Giáo. Sau cuộc
tranh đấu dài dẳng và mệt nhọc, Anagàrika thắng cuộc và Buddha Gayà chánh thức
trở về Phật Giáo.
Vào ngày 31 tháng 5, 1891, ông
thành lập hội Mahà Bodhi Society, lúc bấy giờ gọi là "Buddhagayà Mahà Bodhi Society". Số đầu tiên của tạp chí
Phật Giáo Mahà Bodhi ra ánh sáng dưới sự chủ biên của ông vào dịp lễ Vesak (
Phật Đản, hay Tam Hợp), ngày trăng tròn tháng 5, 1892.
Bài
thuyết trình của Anagàrika Dharmapàla tại
đại hội World's Parliament of Religion được
tiếp nhận rất
tốt đẹp. Ông tạo cho người nghe một khích động mạnh mẽ. Sau khi
vẻ vang thành công tại Chicago ông sang Honolulu, và nơi đây ông gặp Madame Mary Foster vào ngày 17 tháng 10, 1893. Vị
Phật tử có
tâm đạo nhiệt thành và giàu lòng
quảng đại này là một hỗ trợ hữu hiệu cho Anagàrika trong việc hoằng dương
Đạo Pháp.
Vào ngày 13 tháng 7, năm 1931, Anagàrika Dharma- pàla
gia nhập vào
Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo, có
pháp danh là Devamitta và
viên tịch vào ngày 29, tháng 4, năm 1933 tại Sarnath, Bàranasi,
Ấn Độ, nơi
Đức Phật thuyết thời Pháp đầu tiên, Vận
Chuyển Pháp Luân, bánh xe
chân lý. Ông hưởng thọ 70 tuổi.
Lời nói cuối cùng của ông là: "Hãy cho tôi
tái sanh hai-mươi-lăm lần để
truyền bá những lời dạy của
Đức Phật."
Phái đoàn Phật Giáo đầu tiên đến Anh Quốc ngày 23 tháng 4, năm 1908. Người hướng dẫn
phái đoàn không ai khác hơn là
Đại Đức Ànanda Meteyya, một vị tỳ khưu người Anh mà tên ngoài đời là Allan Bennet.
Đại Đức thọ giới tỳ khưu (
Cụ Túc Giới) tại Miến Điện và dành
trọn đời mình để
phục vụ Phật Pháp. Chính quyển Light of Asia của Sir Edwin Arnold đã thu hút Allen Bennet,
lúc ấy 18 tuổi, về với
Phật Giáo.
Hội
Phật Giáo ở Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan, Buddhist Society of Great Britain and Ireland, được
thành lập ngày 26 tháng 11, năm 1907 nhằm trợ giúp
Phái Đoàn Phật Giáo. Hội này
hoạt động đến năm 1923, thì được hội Buddhist Society hiện nay thay thế. Cố Mr. Christmas Humphreys là Chủ Tịch từ
lúc đầu.
Tại Anh Quốc,
Đại Đức Ànanda Mettaya được sự trợ giúp của một nhóm
học giả và
thí chủ nhiệt thành như Dr. và Mrs. Rhys Davids, Sir Edwin Arnold và Dr. E.R. Rost, để chỉ kể một vài vị.
Duyên dáng và
trang nghiêm trong bộ y màu vàng nghệ,
Đại Đức Ànanda Mettaya tạo nhiều
cảm tưởng rất tốt cho những ai đến gặp và
thảo luận Phật Giáo với Ngài, và những vị đã sẵn có chút ít
ý niệm về
tôn giáo mới mẻ
xuyên qua sách vở, cũng
trở thành Phật tử. Francis Payne mà về sau
hoạt động mạnh cho
Phật Giáo ở Anh Quốc, cùng với vợ và các con, là những người đầu tiên tự khép mình vào khuôn khổ
Phật Giáo.
Một cuộc
nghiên cứu thận trọng về
lịch sử Phật Giáo trong
thế giới Tây Phương cho thấy rằng
đến nay Phật Giáo vẫn ở trong tay của một số ít
học giả chỉ đứng về
phương diện thuần túy "học giả" để nói đến một "tôn giáo sống". Ngày nay thì
hoàn cảnh đã đổi thay, và hình như
Phật Giáo đang đứng trước một khúc quanh mới.
Nhờ có nhiều
tài liệu văn học Phật Giáo hơn trước đã được đến tay người Phương Tây, và nhờ
thỉnh thoảng có những
phái đoàn truyền giáo đạo Phật được cơ hội, theo đường lối khiêm
tốn của mình, giúp cho người
Tây Phương quen thuộc với
giáo lý nhà Phật, những người Âu và người Mỹ đã
thông hiểu rằng
Phật Giáo không phải chỉ lả một
hệ thống giáo thuyết suông mà còn là một
lối sống, một kho tàng
kiến thức vô tận, nền tảng
tôn giáo của một
văn hóa có tầm quan
trọng quốc tế.
Tuy nhiên, không nên quên rằng khúc quanh mới này phần lớn là nhờ
công trình vị tha bất vụ lợi của các
học giả trong khoảng một trăm năm qua.
Hội Buddhist Publication Society
Nhiều
chuyển biến đã xảy diễn ở Phương Tây trong những năm
gần đây. Có một sự
quan tâm đến
Phật Giáo, cả
Nam Tông và
Bắc Tông, ngày càng
tăng trưởng. Nhiều
hiệp hội, nhiều
trung tâm, nhiều nhóm
Phật Giáo đã được
thành lập, và nhiều ngôi chùa được
kiến tạo. Sách vở đủ loại, đủ cỡ, đủ hạng, có
uy tín hay gì khác, và tạp chí,
báo chí, nội san, đã được
ấn hành hằng ngàn số.
Văn học Phật Giáo, ngày nay cũng như trong
quá khứ, là
phương tiện hữu hiệu để
truyền bá Phật Giáo sang
thế giới Tây Phương. Hội Buddhist Publication Society (BPS) tại Kandy, Sri Lanka, đã làm
nhiệm vụ truyền thông bằng cách xuất bản hơn hai triệu sách cỡ lớn và cỡ nhỏ đề cập đến dủ mọi sắc thái của
Phật Giáo, và phân phối cùng khắp
thế giới, trên chín mươi
quốc gia. Những sách này là các bản dịch những lời dạy của
Đức Phật, hoặc trích từ những lời dạy ấy,
cung hiến những
tài liệu chắc thật từ
kinh điển chính thống.
Do
trình độ văn hóa tiêu chuẩn, các
tác phẩm ấy được
học giả và
Phật tử mọi nơi nhiệt thành hoan nghinh.
Đại Đức Nyanaponika Mahàthera, nay đã niên cao tuổi lớn, từ chức ở BPS sau ba mươi năm
phục vụ.
Tuy nhiên Ngài vẫn là
cố vấn và hướng dẫn tinh thàn.
Hiện nay vị Chủ Biên và Chủ Tịch của hội là một
học giả nổi tiếng người Mỹ, Tỳ Khưu Bodhi, với sự
phụ tá của một nữ
tu sĩ người Mỹ, Ayyà Nyanasiri (Helen Wilder).
Phật Giáo đã tạo được một tổ ấm châu toàn ở Anh Quốc. Hội Buddhist Society of London và ngôi
tự viện Buddhist Vihàra cùng các cơ sở
liên hệ đáng được
đặc biệt ghi nhận về
công trình đem
Phật Giáo vào Anh Quốc. Cố
Đại Đức Nàrada,
Tăng Trưởng chùa Vajirarama, Sri Lanka, một nhà Dhammadùta (
truyền giáo)
tiền phong, và cố Sir Cyrilde Zoysa là hai vị có
công thành lập chùa London Buddhist Vihàra, vào năm 1954. Do sáng kiến của vị
Đại Trưởng Lão Tăng này một số khá đông các hội
Phật Giáo được khai sáng ở cả Tây và Đông Phưong.
Tu viện Chithurst Forest Monastery ở Sussex, dành cho
chư Tăng, và Amaràvati Buddhist Centre ở Herts, Anh Quốc dành cho chư Ni, là hai cơ sở rộng lớn đã
thực hiện nhiều công tác đáng được
tán dương, dưới sự hướng dẫn
sáng suốt của
nhà sư Mỹ, Achan Sumedho.
Những vị
Đại Trưởng Lão Tăng (Mahàthera) Hammalawa Saddhatissa, Piyadassi của chùa Vajirarama, Mirisse Gunasiri, Medagama Vajiranàna, Kurunegoda Piya- tissa, Hikgoda Khemananda, Balangoda Ananda Maitreya và
Đại Đức Vinita là vài vị trong nhóm
chư Tăng Sri Lanka đã tận tụy nhiệt thành
hoạt động cho sự
tiến bộ của chùa London Buddhist Vihàra và công cuộc hoằng dương
giáo huấn của
Đức Phật tại Anh Quốc và những
quốc gia Âu Châu.
Ngày nay ở Anh có một số
tu viện và cơ sở
hoạt động để
truyền bá Phật Giáo và đem lại niềm hoà khí giữa các
tôn giáo.
"Das Buddhistisches Haus" hay Chùa Berlin (Berlin Vihàra) do một người Đức, Dr. Paul Dahlke,
sáng lập. Về sau hội German Dharmadùta Society của Sri Lanka
tiếp nhận trách nhiệm chăm lo cơ sở này và một số các
nhà sư Sri Lanka lưu ngụ tại đó
thỉnh thoảng thực hành tốt đẹp những công
tác Phật sự.
Đại Đức Mahinda của chùa Vajirarama hiện nay là vị sư thường trú tại chùa này. Cũng như ở Đức, ở Pháp cũng có một số cơ sở
Phật Giáo.
Gần đây Đại Đức Parawahera Chandananda, với sự trợ giúp của một
thiện tín, Dr. Ànanda Guruge, Đại Sứ Sri Lanka tại Pháp và thành viên
thường trực của hội UNESCO, Paris, đứng ra
sáng lập trung tâm Phật Giáo quốc tế, International Buddhist Centre tại Paris. Cũng trong
thời gian gần đây hai
trung tâm Phật Giáo được
thành lập tại Ý.
Ngày nay trong các thành phố lớn của xứ Đức có nhiều Hội
Phật Giáo và nhiều
Trung Tâm Hành Thiền. Hội viên của họ
hoạt động mạnh mẽ, và
ủng hộ "Ngôi Nhà của sự Tĩnh Lặng", thường ở ngoài thành phố, để mở các lớp học, những cuộc hội thảo, những buỗi
thuyết giảng và các khóa thiền. Tại Đức có nhiều
báo chí Phật Giáo được phát hành. Nhiều sách, một số lớn
ấn hành theo loại
bình dân, đã được xuất bản để kịp thời
đáp ứng nhu cầu. Cũng như trong các
quốc gia khác, ở đây, Đức Quốc, sách có một
vai trò quan trọng, tuy
chậm chạp nhưng
vững chắc, trong việc
truyền bá Phật Giáo. Các Hội
Phật Giáo có những hội viên
đăng ký. Trong
toàn thể nước Đức có nhiều ngàn
Phật tử và một số nhiều hơn,
quan tâm đến
Phật Giáo.
Hiện nay
Phật Giáo đã
du nhập vào những lãnh thổ miền Bắc Âu, Scandinavia. Do đó, cũng như ở hầu hết các
quốc gia miền Tây, nơi đây có những Hội
Phật Giáo, những nhóm và những
trung tâm nghiên cứu Phật Giáo và
trung tâm văn hóa Phật Giáo. Tại Sweden (Thụy Điển), Nữ
Tu Sĩ Amità (trước kia là Miss Wagner) là nhà
lãnh đạo của một hội gọi là "Friends of Buddhism," một nhóm người rất hăng say trong những
hoạt động Phật Giáo. Vài năm trước đây một ngôi chùa
Phật Giáo do
Đại Đức Paranagama Sumanaratana
kiến tạo tại Stockholm, với sự nhiệt thành
ủng hộ của nhiều
thí chủ. Một trong những người
đứng đầu các vị này, Dr. Henning Sjostrom,
luật sư và nhà văn tại Stockhom, là
đệ tử của
tác giả.
Khi nói về
Phật Giáo trong
thế giới Tây phương, ta cũng nhớ đến Australia (Úc Đại Lợi) và New Zealand (Tân Tây Lan),
mặc dầu một cách
chính xác, hai
quốc gia này không nằm ở
Tây phương. Đối với người Úc,
Phật Giáo tương đối vẫn còn mới mẻ. Nhưng, để hoằng dương
thông điệp của
Đức Bổn Sư, một ít vị rất hăng say và tận lực
hoạt động, một cách châm chạp nhưng
vững chắc, bằng cách
thuyết giảng, tổ chức các buổi hội thảo và phân phát sách
báo Phật Giáo. Những
cố gắng của họ lúc
sơ khởi tạo nhiều
thành quả thâm sâu. Ngày nay có nhiều
Phật tử ở Australia (Úc) và New Zealand (Tân Tây Lan) và một số hội, chùa và
trung tâm hành thiền đã được
sáng tạo, trong số đó có
thiền viện Wat Buddha Dhamma Meditation Centre,
tọa lạc trong một khu rừng hai trăm mẫu tại Ten Mile Hollow, Wisemans Ferry tại N.S.W.
Đại Đức Phra Khantipalo là
Tăng trưởng.
Trung tâm Bodhinyana (Dhammàloka Buddhist Centre) ở Perth,
thiền viện Bodhinyana (Forest Hermitage) ở huyện Serpentine, phía nam thành phố Perth,
thiền viện Bodhinyana (Forest Hermitage) ở Wellington, và chùa Buddhist Vihàra ở Auckland, New Zealand, là những cơ sở
Phật Giáo mới được
thành lập trong những năm
gần đây và do những
nhà sư cương nghị
Tây phương hướng dẫn.
Hiện nay trong hầu hết các tiểu bang của Úc đều có chùa hay những
trung tâm Phật Giáo, cả Nam lẫn
Bắc Tông. Tại Canberra có chùa Lào, tại Sydney và Adelaide có chùa Thái.
Đại Đức Shanti Bhadra của Sri Lanka, đã sống ở Australia trong 16 năm trường, là
tăng trưởng chùa Brisbane Vihàra. Ngài cũng
hoạt động trong mười năm tại Buddhist House ở Melbourne. Rất
gần đây Đại Đức Soma của Sri Lanka, với sự
ủng hộ của nhiều
thí chủ, đã
sáng tạo ngôi chùa Melbourne-Sri Lanka Buddhist Vihàra tại Springvale, ở Melbourne. Tại Darwin một Hội
Phật Giáo hoạt động trong ngôi chùa Darwin Buddhist Vihàra. Như vậy ta có thể thấy rằng tại Australia (Úc) và New Zealand (Tân Tây Lan)
phong trào quan tâm đến
Phật Giáo đang
tăng trưởng mạnh mẽ.
Tôn Giáo Và
Quốc GiaTại Australia, cũng như trên các lãnh thổ
Tây Phương khác, có hằng ngàn những "tư tưởng gia tự do" và "bạn của Phật Giáo". Một
chuyển biến quan trọng đã xảy diễn trong các trường học ở Úc Châu, bởi vì ngành
tôn giáo tỉ giảo (
so sánh các
tôn giáo) đã được dạy. Với bước tiến này và với
tinh thần cởi mở của dân chúng đối với sự
lựa chọn tôn giáo, trẻ con học về những
giáo huấn và những tập tục
cổ truyền căn bản. Nhà trường tổ chức dẫn học trò đi viếng các chùa, tại nơi đây trẻ con nghe những lời dạy đặc thù của
Đức Phật, và vài em bắt đầu học trau giồi tâm, qua
pháp hành thiền
Phật Giáo. Do nhờ
công đức hăng say và không biết mệt của những người
Phật tử đầu tiên,
trải qua bao nhiêu khó khăn và khổ nhọc, mà những
sinh hoạt Phật Giáo ngày nay không những chỉ
tồn tại, mà
tăng trưởng. Những vị
tu sĩ và
cư sĩ có
tâm đạo nhiệt thành ấy xứng đáng được nơi đây một lời
tán dương,
ca ngợi những
cố gắng và nhiệt tâm của họ.
Tại Hoa Kỳ, người dân được hưởng
tự do tín ngưỡng ở mức cao độ. Nơi đây
tôn giáo và
quốc gia không tay cầm tay đi chung. Có một bức tường
tuyệt đối ngăn cách
tôn giáo và
quốc gia, được
hiến pháp của họ
bảo đảm. Như vậy
quả thật là một
hiện tượng đặc biệt Hoa Kỳ bởi vì không đâu khác, chí đến những
chánh phủ dân chủ, có sự
phân biệt tôn giáo như thế ấy. Có khoảng 265
môn phái tôn giáo khác nhau được
liệt kê trong
Niên Giám 1960 của Nhà Thờ Hoa Kỳ. Vì
bản chất tự nhiên của
xã hội Mỹ là đa chủng, người dân của họ
hoàn toàn được hưởng
tự do tư tưởng và
tự do ngôn luận. Do đó
thái độ của người Mỹ đối với các
tôn giáo khác, nhất là đối với
Phật Giáo, là
hiểu biết và
khoan dung rộng lượng.
Giáo Pháp, hay
Giáo Huấn của
Đức Phật,
du nhập vào Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ hơn một trăm năm nay. Kể từ
thời gian ấy
lý tưởng Phật Giáo đâm rễ ăn sâu, và
Giáo Pháp (Dhamma) được hoằng dương
phong phú dồi dào. Con số
Phật tử tăng trưởng,
thoạt tiên với làn sóng di dân từ những
quốc gia khác, nhất là các dân tộc Á Châu, và thứ đến với ngày càng nhiều người Mỹ
hấp thụ tư tưởng Phật Giáo.
Tại Mỹ Quốc có cả hai trường phái,
Phật Giáo Theravada (
Nguyên Thủy) và
Phật Giáo Mahayana (
Đại Thừa). Không phải như
giáo phái Theravada,
giáo lý Mahayana (
Đại Thừa) khác biệt từ
quốc gia này đến
quốc gia khác. Trung Hoa,
Tây Tạng,
Đại Hàn, Nhật Bổn, Korean Won Buddhist và
Việt Nam. Trong mỗi chùa
Phật Giáo đều có
tín đồ người Mỹ.
Mặc dầu có những phong tục tập quán khác nhau, được tổ chức khác nhau, và giảng dạy dưới
hình thức khác nhau, tất cả những
giáo phái Phật Giáo đều bước
theo dấu chân của
Đức Phật Gotama và
thực hành giáo lý căn bản của
đạo Phật. Brahma Vihàra (
Tứ Vô Lượng Tâm): từ, bi, hỷ, xả (mettà, karunà, mudità, upekkhà) cũng như nhau trong các trường phái. Tất cả những người
Phật tử đều theo
giáo lý Tứ Diệu Đế của
Đức Phật; tất cả đều
cố gắng sống
phù hợp với
Bát Chánh Đạo.
Nhiều
trung tâm thuần túy giáo lý Theravada đã được
thành lập ở Hoa Kỳ. Vào năm 1964
Đại Đức Madihe Pannàsìla Sanghanàyaka Mahàthera,
Tăng Trưởng của
tu viện Siri Vajinàna Dharmàyatana (
Trung Tâm Huấn Luyện
Tăng Chúng), Sri Lanka, viếng Hoa Kỳ. Kết quả là ngôi chùa Theravada Buddhist Vihàra đầu tiên được
kiến tạo tại Washington D.C. vào năm 1965,
Đại Đức Dikwela Piyananda Mahàthera của Sri Lanka, với sự trợ giúp của
tác giả quyển sách này, khai mạc ngôi chùa Theravada Buddhist Vihàra đầu tiên tại Toronto, Canada (Gia Nả Đại). Hiện nay
Đại Đức Punnaji (Sri Lanka) là
tăng trưởng. Chùa này là chi nhánh của Washington Vihàra.
Vào lúc
sơ khai những vị
Đại Trưởng Lão (Mahàtheras) Piyananda, Gunaratana, Piyadassi và
Đại Đức Vinita
hoạt động tích cực để
củng cố, và
duy trì vững chắc ngôi Washington Buddhist Vihàra. Về sau một vị tỳ khưu người Mỹ,
Đại Đức Bodhi, lưu ngụ tại đây ba năm và
thực hiện nhiều công tác hữu ích,
đặc biệt là sắp xếp
quy củ những
tác phẩm văn học. Mr. Michael I. Roehm,
Phật tử người Mỹ là một thành viên làm việc rất có
hiệu quả từ lúc chùa mới bắt đầu
hoạt động và ông giúp rất nhiều trong công việc tổ chức thư viện Vihàra Book Service.
Đại Đức Dhammasiri (Sri Lanka) hiện là
tăng trưởng ngôi chùa này.
Đại Đức Gunaratana là chủ tịch
sáng lập thiền viện Bhàvanà Society, ở West Virginia.
Tại New York City,
Đại Đức Kurunegoda Piyatissa là
sáng lập viên và
tăng trưởng chùa New York Vihàra. Tại Los Angeles quý vị Mahàtheras Piyadassi và Dhammàràma, với sự hỗ trợ của những
thiện tín cư sĩ,
sáng lập ngôi Los Angeles Vihàra, và Ngài Dhammàràma là
tăng trưởng chùa này. Quý vị Mahàtheras Piyananda, Ratanasàra và Ànanda (Sri Lanka)
sáng lập ngôi chùa Dharmavijaya Buddhist Vihàra tại Los Angeles.
Một thanh niên từ Hague, Netherlands (Hoà Lan) được dịp
trở thành quen thuộc với
Phật Giáo, và vào năm 1977
gia nhập vào
Giáo Hội với
pháp danh Dhammavìranàtha. Người
dũng khí can trường và
tinh tấn không lay chuyển, ông
sáng lập trung tâm Buddhayàna Centre tại Hague vào năm 1978 với sự
bảo trợ của một số ít người
Phật tử Hoà Lan. Từ lúc
ban sơ nhà văn này được cử làm
Bảo Trợ Viên của
trung tâm.
Trong vòng mười hai năm qua,
Đại Đức Dhammavìranàtha đã
thực hiện những công tác của người chủ một cơ sở nhỏ, bằng ngòi bút và miệng lưỡi -- tổ chức những hội
Phật Giáo tại Hoà Lan, thuyết cả trăm bài giảng về
Giáo Pháp, hướng dẫn những buổi hội thảo và các khóa thiền. Với sự trợ giúp của những vị
thiện tín,
Đại Đức viết và xuất bản nhiều sách
Phật Giáo bằng tiếng Hoà Lan và tiếng Anh. Nhóm
hoạt động của
Đại Đức cũng chuyển dịch nhiều sách
Phật Giáo sang tiếng Hoà Lan.
Chính Đại Đức đã chuyển dịch và xuất bản quyển The Buddha's Ancient Path của người viết. Giờ đây số hội viên của
trung tâm đã
gia tăng,
con đường đã được cẩn đá để
thành lập một
trung tâm hành thiền trong làng mạc vắng vẻ. Những người
Phật tử Á Đông tại Hoà Lan cũng tận tình
ủng hộ trung tâm. Mr. Upasena de Silva, người Sri Lanka, là một
thí chủ (dàyaka)
trung kiên từ lúc
sơ khởi. Tại Amsterdam, một
nhà sư Thái,
Đại Đức Mettàvihàra, khai mạc chùa Buddha Vihàra.
Trung tâm Saddhatissa Buddhist Centre được
thành lập ở Anh.
Dr. Murillo Nunes de Azevedo, với sự trợ giúp của
Đại Đức Anuruddha,
thành lập trung tâm Phật Giáo tại Rio de Janeiro, Brasil (Ba Tây). Người viết sách này
hoạt động với họ, và kết quả là một
trung tâm hành thiền được
sáng tạo gần Rio de Janeiro, tại Santa Theresa, vào năm 1970. Hiện nay
Đại Đức Puhulwelle Vipassai Thera là
trụ trì của
trung tâm này.
Phái đoàn Phật Giáo đầu tiên đến miền Tây Phi Châu là của người viết sách này, đến Ghana vào năm 1967. Về sau, ngôi chùa Buddhist Vihàra được
kiến tạo tại Dar Es Salaam, Tanzania. Vị
trụ trì của
trung tâm hiện nay là
Đại Đức Dhammasena.
Tại nhiều
đại học Hoa Kỳ có những phân bộ
triết học và
tôn giáo trong ấy
Phật Giáo là một
môn học. ở các
đại học này
tôn giáo được
thảo luận dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Như ở Harvard University chẳng hạn, sinh viên được khuyến khích khảo sát
tôn giáo trên
phương diện tâm lý, triết lý,
xã hội, và tiến trình phát triển
lịch sử, và
nghiên cứu vấn đề lý thuyết và
luân lý trong sự dị biệt giữa các
tôn giáo.
Không phải như ở các trường cao đẳng của nhiều xứ khác, tại miền Đông cũng như miền Tây, phần lớn các trường cao đẳng Hoa Kỳ khuyến khích
nghiên cứu ngành học
so sánh các
tôn giáo. Các sinh viên lấy làm
thích thú nghiên cứu và
thảo luận những
tôn giáo khác nhau trên
thế giới. Họ
nghiên cứu Phật Giáo và những
tôn giáo khác để
tìm hiểu nhiều hơn bề sâu
tôn giáo và
văn hóa của các dân tộc
Đông Phương.
Tuy nhiên, ta phải nói rằng nhiều người Mỹ rất
thích thú lưu tâm đến
Phật Giáo. Họ
nhận định rằng
Phật Giáo có phần "ấm áp" hơn là họ tưởng. Tư do
tư tưởng và
tự do ngôn luận mà
Phật Giáo rất chú trọng, và lời kêu gọi những ai muốn
tìm hiểu "hãy đến và khảo sát" chớ không phải chỉ
mù quáng tin suông, và
quan niệm không đặt
thần linh làm
trung tâm và không hướng về
thần linh của
Phật Giáo, đã làm say mê nhiều người Mỹ.
Mỹ Quốc vừa mới hơn hai trăm tuổi.
Vậy mà Giáo Pháp của
Đức Phật đã đâm sâu gốc rễ vào xứ này. Cùng khắp nơi, giới trẻ không
tìm thấy thích thú trong những
tín ngưỡng độc đoán. Những
tiến bộ trong
lãnh vực kỹ thuật và khoa học phần lớn thuộc về
vật chất, và do vậy
thế hệ trẻ đã
chán ngán với cuộc sống
xa hoa, giờ đây họ mong tìm
trạng thái thanh bình tĩnh lặng của
nội tâm.
Thế hệ trẻ đã lấy làm khó chịu với
bản chất độc đoán muốn dồn ép, nhét vào đầu họ
đức tin mù quáng, hướng về
giáo lý cởi mở và
rõ ràng minh bạch của
Đức Phật. Họ
quay về Phật Giáo để giải cơn
thèm khát kiến thức đạo đức.
Vấn đề căn bản của
thế giới Tây Phương là
vấn đề tâm lý. Giới trẻ trên
thế giới mong tìm
thỏa mãn nội tâm. Sự
tin tưởng mù quáng suông trong một
tôn giáo đang nhanh chóng tan biến. Ngoại trừ một
tôn giáo trau giồi lối nhìn cuộc sống theo
phương cách dân chủ và khoa học,
tôn giáo không có tương lai bất luận ở đâu trên
thế gian.
Mặc dầu Phật Giáo không dạy khoa học,
giáo huấn của
Đức Phật rất
thích hợp với khoa học. Cũng như trong khoa học, trong
Phật Giáo có nbu cầu khảo sát và
chứng nghiệm. Dầu sao
Phật Giáo và khoa học là hai
lãnh vực khác nhau: khoa học đề cập đến những sự vật
vật chất, trong khi
Phật Giáo đề cập đến tâm và những
yếu tố tâm.
Quả thật chúng ta đang sống trong
thời đại khoa học -- một
thời đại mà
con người chỉ
chấp nhận điều gì là
chân lý sau khi đã
thận trọng quan sát và trắc nghiệm, thay vì
tin tưởng suông. Với những
tiến bộ mới đây của khoa học, lối nhìn của
con người ngày càng trở nên
thuần lý, và
đức tin mù quáng đã nhanh chóng tan biến. Dầu người
chỉ trích Phật Giáo có nói thế nào, người học
Phật Giáo thời
nguyên thủy một cách
vô tư sẽ
nhận thấy rằng những nguyên tắc
căn bản của
Phật Giáo ăn nhịp hoà điệu với những phát minh khoa học. Lối nhìn có tánh cách khoa học được
nhấn mạnh trong
Phật Giáo khi
Đức Phật nói với người
hoài nghi và với những
tâm hồn tìm tòi hiểu biết: "Giáo lý này phải được khảo sát, phải được thấy, và không phải chỉ để tin suông."
Quan sát và trắc nghiệm là hai
phương pháp căn bản của khoa học có một
vị trí nổi bậc trong
Phật Giáo.
Đức Phật tuyên bố rằng
Giáo Pháp là
tự do và
bình đẳng cho tất cả. Ngài không giữ lại gì và không bao giờ muốn vắt ép, chắt rút nơi
tín đồ một
đức tin mù quáng và
vâng dạ phục tùng Ngài hay
giáo huấn Ngài. Ngài chú trọng đến
quan sát và trắc nghiệm, khảo sát
phân biệt và
sáng suốt tìm hiểu. Bằng những
ngôn từ khẳng quyết Ngài khuyến khích phân biện khảo sát khi
ngỏ lời với những người Kàlàmas trong
bài kinh được gọi rất đúng là
hiến chương của
tư tưởng tự do (xem trang 148 ở phần trên).
Có nhiều
chỉ dẫn rõ ràng cho thấy rằng ở
Tây Phương ngày nay một số rất lớn những người có suy tư
quay về giáo huấn trong sáng và
hợp lý của
Đức Phật với lòng khâm phục và tri ơn. Nhu cầu chánh yếu và khẩn thiết nhất là sách tốt, những
giảng sư để
thuyết Pháp và hướng dẫn những cuộc hội thảo, những
thiền sư để mở các khóa thiền. Phải
tăng trưởng gắp đôi những
hoạt động về
Giáo Pháp và phải mạnh mẻ
thúc đẩy thêm các Dhammadùtas, những
sứ giả đem
Giáo Pháp đến người.
Giáo huấn của
Đức Phật phải được trình bày như những gì thật sự thiết yếu và
thích nghi với khuynh hướng
tư tưởng hiện đại.
Trong cuộc mưu tìm
chân lý và thực nghiệm
thỏa mãn nội tâm, giới trẻ trên
thế giới có thể hướng về
con đường chân chánh,
xuyên qua giáo lý của
Đức Phật và
pháp hành thiền. Điều
cần phải quan tâm chú trọng đến là nòng cốt của
Giáo Pháp:
Bát Chánh Đạo.
Bát Chánh Đạo gồm
chánh kiến,
chánh tư duy,
chánh ngữ,
chánh nghiệp,
chánh mạng,
chánh tinh tấn,
chánh niệm và
chánh định là
Phật Giáo thực hành, một
giáo lý dành cho
con người tự do. Nó không có nhãn hiệu, không có hạn định về
thời gian,
không gian hay
chủng tộc. Nó là
giáo lý của mọi
thời đại. Người sống trong
Giáo Pháp đem
Giáo Pháp ra ánh sáng, có thể thấy
Giáo Pháp và tự mình
chứng nghiệm. Không thể trao truyền cho ai khác mà phải tự chính mình
chứng ngộ.
Mrs. C.A.F. Rhys Davids
chú giải bài kinh Sigàla-sutta (Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm. 31) một bài giảng về
luân lý Phật Giáo, viết: "Giáo lý của
Đức Phật về
tình thương và
thiện ý giữa người và người được dạy trong
luân lý gia đình và
xã hội với nhiều
chi tiết bao quát hơn nơi nào khác ... Và chí đến ngày nay
chúng ta có thể nói rằng Vinaya, hay khuôn khổ
kỷ cương, là
nền móng căn bản của những gì
lợi ích cho
con người,
trí tuệ mà
suy tưởng đến nó
trong sạch và
rộng rãi đến độ ngày nay, tại đây, nó vẫn còn mới mẻ và thật sự
cần thiết như thủa nào tại Ràjagaha. 'Hạnh phúc thay xóm làng và
gia tộc nào sống theo ven sông Ganges (Hằng), nơi mà dân chúng tràn đầy tình
huynh đệ tương thân tương ái, và
tinh thần công lý phảng phất thổi nhẹ
xuyên qua những lời chất phác và
đơn giản [1].' Không kém
hạnh phúc hơn, xóm làng và
gia đình nào sống theo ven sông Thames ngày nay mà những lời ấy thấu đến tai." [2]
Hội World Fellowship of Buddhists (WFB), với sự
tham dự của những nhà
lãnh đạo Phật Giáo trong hai mươi chín
quốc gia đã được khai mạc tại Sri Lanka vào năm 1950. Dr. G.P. Malalasekera được cử làm Chủ Tịch
Sáng Lập của WFB. Những nhà
lãnh đạo thanh niên
Phật tử từ ba mươi lăm
quốc gia cũng khai mạc hội World Fellowship of Buddhist Youth (WFBY) Sri Lanka, vào tháng 5, năm 1972. Mr. Nemsiri Mutukumara được cử giữ chức Chủ Tịch
Sáng Lập của WFBY.
Bức
thông điệp Vườn Lộc Uyển đã
cách mạng tư tưởng và
đời sống của
nhân loại.
Mặc dầu đã được truyền đi từ 2,500 năm về trước tại Sarnath, Bàrànasi,
thông điệp này đã
ôn hòa du nhập vào tận những gốc trời xa xôi của
quả địa cầu, dạy dỗ và hướng
dẫn nhân loại trên đường
giải thoát.
Trong
thời gian hai mươi lăm thế kỷ qua,
giáo huấn của
Đức Phật và bức
thông điệp mà Ngài gởi đến
nhân loại đã được trắc nghiệm trên hòn đá
thời gian.
Thông điệp hòa bình và
khoan dung đại độ có tánh cách
phổ cập của Ngài thu hút
chúng ta ngày nay,
mặc dầu địa lý
mênh mông và những
chuyển biến xã hội, theo
thời gian dài dẳng và đầy
biến cố, đã thay đổi
điều kiện của
thế gian.
Chú thích:
[1] T.W. Rhys Davids, Buddhism (London, 1907), trang 148.
[2] Dialogues of the Buddha, Phần iii, trang 168.
[*] Bài nầy được cố
Hòa thượng Piyadassi viết ra trong cuối thập niên 1970, và các thông tin không được cập nhật (Bình Anson, 09-2002).