Tín dồ theo
Phật Giáo có bốn hạng người: tỳ khưu, tỳ khưu ni,
thiện nam và
tín nữ (hàng
tứ chúng: bhikkhu, bhikkhunì, upasaka, upasikà).
Giáo Hội tỳ khưu ni của
Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravàda Bhikkhunì Sàsana) đã
chấm dứt;
tuy nhiên, vẫn còn những vị nữ
tu sĩ Phật Giáo. Do đó ngày nay chỉ còn
Giáo Hội tỳ khưu, cùng với các vị nữ
tu sĩ và
thiện nam,
tín nữ.
Muốn tìm nguồn gốc của
Giáo Hội Tỳ Khưu phải đi ngược dòng
thời gian trở lại hai mươi lăm thế kỷ về trước, khi mà tại
Vườn Lộc Uyển, ở Isipatana (ngày nay là Sarnath), gần Benares, trong xứ
Ấn Độ, vào một ngày trăng tròn tháng Bảy,
Đức Phật Gotama
ngỏ lời cùng năm
vị đạo sĩ mà trước kia là
bạn đồng tu với Ngài, và
soi sáng cho họ
con đường chân chánh,
Bát Chánh Đạo, dẫn đến tĩnh lặng,
thành đạo,
giác ngộ và
Niết Bàn. Diễn biến này được gọi là
Chuyển Pháp Luân (Dhamma-cakka).
Năm
vị đạo sĩ
lãnh hội lời dạy, và
trở thành tín đồ của
Đức Phật. Với sự
công bố Giáo Pháp lần đầu tiên, và với năm
vị đạo sĩ được cải hoá,
Vườn Lộc Uyển trở thành nơi chôn nhau cắt rún của cơ
bản Phật Giáo (Buddha Sàsana), và của
Tăng Già (Sangha), đoàn thể chư tỳ khưu, những người
đệ tử đã
xuất gia.
Không bao lâu sau, năm mươi lăm vị khác do một thanh niên khá giả, Yasa, hướng dẫn,
gia nhập vào
Giáo Hội Tăng Già. Giờ đây có tất cả là sáu mươi vị
đệ tử.
Đức Phật kêu gọi người
giới tử xuất gia sa-di và tỳ khưu như sau:
"Hãy đến đây này chư sư, Giáo Pháp đã được công bố tốt đẹp. Hãy sống đời phạm hạnh (brahmacariyam) để trọn vẹn chấm dứt đau khổ (dukkha)." Sau
mùa an cư kiết hạ (vassa, từ tháng Bảy đến tháng Mười) năm ấy,
Đức Bổn Sư gởi ra đi sáu mươi vị
đệ tử A La Hán (Arahat, đấng Trọn Lành) với
lời khuyên nên
công bố Giáo Pháp, Dhamma, bức
thông điệp hòa bình của Ngài.
Theo lời chỉ dạy, các vị
đệ tử đi bộ cùng khắp xứ
Ấn Độ để
truyền bá Giáo Pháp, bức
thông điệp trí tuệ và
từ bi mới mẻ. Những người đàn ông và đàn bà, từ mọi tầng lớp trong
xã hội đến nghe
thông điệp của
Đức Bổn Sư đều
tỏ ý muốn về với
Đức Phật và
giáo huấn của Ngài. Trong những người này có người muốn
xuất gia,
gia nhập vào
Giáo Hội. Từ nhiều
nơi khác nhau, chư sư dắt họ về
Đức Bổn Sư để thọ
lễ xuất gia.
Tuy nhiên, những cuộc
hành trình dài dẳng rất mệt nhọc cho cả hai, người muốn
xuất gia và
chư tăng dẫn về. Để tránh những bất tiện và khổ nhọc ấy,
Đức Phật cho phép hàng tỳ khưu chủ trì các
buổi lễ xuất gia ở bất luận châu quận nào. Về
phương cách xuất gia Đức Phật giải thích cho chư sư như sau:
"Trước
tiên giới tử phải cạo râu,
cạo tóc sạch sẽ, và đắp lên mình bộ y màu vàng nghệ. Sửa y ngay ngắn, chừa một bên vai (trái),
giới tử phải
đảnh lễ chư tăng, ngồi chồm hổm (nếu ngồi như vậy bất tiện, có thể quỳ) trước
chư tăng, hai tay chấp lại, và nói:
"Buddham saranam gacchàmiDhammam saranam gacchàmiSangham saranam gacchàmi
Dutiyampi Buddham saranam gacchàmiDutiyampi Dhammam saranam gacchàmiDutiyampi Sangham saranam gacchàmi
Tatiyampi Buddham saranam gacchàmiTatiyampi Dhammam saranam gacchàmiTatiyampi Sangham saranam gacchàmi
Con xin quy y Phật (Thầy),Con xin quy y Pháp (Lời Dạy),Con xin quy y Tăng (Người Được Dạy).
Con xin quy y Phật lần thứ nhì,Con xin quy y Pháp lần thứ nhì,Con xin quy y Tăng lần thứ nhì,
Con xin quy Phật lần thứ ba,Con xin quy y Pháp lần thứ ba,Con xin quy y Tăng lần thứ ba."Vào thời xa xưa ấy, đó là
phương cách mà người
thiện tín thọ
lễ xuất gia. Nhưng với
thời gian,
công thức ngắn gọn này đã được
nới rộng vì nhiều người không được
thích nghi và hạng người bất hảo cũng
tìm cách xin
gia nhập vào
Giáo Hội. Đến ngày nay thì trong
lễ xuất gia Sa-di (Pabbajjà) giới tử phải đọc
mười giới, thêm vào những câu
quy y. Trong
lễ thọ Cụ Túc Giới (Upasampadà) giới tử phải
trải qua một cuộc hạch hỏi của những vị sư cao hạ. Ta có thể
ghi nhận rằng những điều được thêm này là của chính
Đức Phật, không phải về sau ai khác đã thêm vào một cách
độc đoán.
Vì lẽ ấy khi
cử hành lễ xuất gia Sa-di (sàmanera) hay
xuất gia Tỳ khưu, mỗi
chi tiết đều phải được
thận trọng tuân hành đầy đủ.
Trong
Giáo Hội Tăng Già, một thầy sa-di có bổn phận phải
hành trì mười giới, phải học
Giáo Pháp và
Giới Luật (
Dhamma-Vinaya) với một vị tỳ khưu, phải
phục vụ các vị sư cao hạ, phải lo chuẩn bị để có
đủ tư cách thọ
lễ xuất gia tỳ khưu. Danh từ
Sàmanera (samana + nera) theo nghĩa từng chữ là "con"
(nera), của "nhà sư"
(samana), trong
ý nghĩa sa-di phải được một
nhà sư hiểu biết và có
đủ khả năng, dạy dỗ, chăm sóc và khép vào khuôn
khổ giới luật. Sa-di không
cần phải nhập hạ (vassa) như chư vị tỳ khưu. Sa-di phải có đủ hai mươi tuổi, không trước hơn, mới có thể thọ
lễ xuất gia tỳ khưu. Nhưng không phải chỉ đủ tuổi là được; nếu thiếu
tâm trí sáng suốt, không có học
Giáo Pháp và
Giới Luật cần thiết để sống đời tỳ khưu, thì không
thích nghi để
thọ Cụ Túc Giới,
trở thành tỳ khưu. Một thầy tỳ khưu có bổn phận phải
thọ trì những
Giới Bổn (Pàtimokkha). Có tất cả 220 (227) giới.
Khó mà chuyển dịch danh từ
Bhikkhu một cách đầy đủ. Hai chữ "nhà sư" có thể được xem là gần nhất, nơi đây ta phiên âm là
Tỳ khưu. Những danh từ Thera và Mahà Thera chỉ là những tước vị. Một vị tỳ khưu có mười tuổi hạ, tức đã có
nhập hạ (vassa) được mười lần hay hơn nữa, thì được gọi là Thera (theo nghĩa trắng là
trưởng lão hoặc một
nhà sư cao hạ), và một vị đã có hai mươi hạ, vassa, thì có thể được gọi là Mahà Thera. Nhưng vị nào cũng vẫn là bhikkhu, tỳ khưu, và như Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, dạy:
"Không phải chỉ vì có đầu bạc mà được gọi là Thera.Ta chỉ là người niên cao tuổi lớn. Gọi là 'ông sư già' vậy thôi."(câu 260)
"Bên trong vị nào có chân lý và chánh hạnh,Vô hại, tự chế và tự kiểm soát,Hạng người trí tuệ đã thanh lọc mọi ô nhiễm,Vị ấy, quả thật vậy, đáng gọi là Thera"(câu 261)Danh từ "priest" trong tiếng Anh, hay
linh mục, không thể dùng để thế vào chữ bhikkhu, bởi vì các
nhà sư Phật Giáo không
cử hành những
nghi thức cúng
thần linh, không làm những pháp
Bí Tích và không rửa tội. Một
nhà sư Phật Giáo lý tưởng không thể, và không
nhân danh là
trung gian giữa
con người và một
quyền năng "siêu thế"; bởi vì
Phật Giáo dạy rằng mỗi
cá nhân chỉ riêng mình lãnh lấy
trách nhiệm giải thoát cho mình. Do đó không
cần phải nhờ đến một vị "trung gian"
ban thưởng ân huệ.
"Chính tự các con phải kiên trì cố gắng. Chư Phật chỉ soi sáng con đường." (Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 276).
Mục đích của sự
xuất gia (pabbajjà, ra đi, đi tới) là
xây lưng lại, tự tách rời ra khỏi những
tư tưởng có
liên quan đến nhục dục (kilesa-kàma) và
ngũ trần (vatthu-kàma). Do vậy, đây thật sự là tự
hy sinh, và
động cơ thúc đẩy đến
quyết định này phải
thành thật thì
hậu quả mới thật sự là
hoan hỷ và an vui. Đây không phải là điều mà tất cả
mọi người đều có thể làm; bởi vì
từ bỏ, để lại sau lưng
cuộc đời hấp dẫn và
thú vị không phải là chuyện dễ. Không phải
mọi người đều có thể cắt đứt, tách lìa hẳn
thế gian và tất cả những gì hình như
tốt đẹp của
thế gian. Và
Đức Phật không
trông đợi tất cả những
tín đồ của mình đều
trở thành sư hay
đạo sĩ.
Một lần nữa, Dhammapada,
Kinh Pháp Cú dạy:
"Xuất gia là khó,Bỏ nhà ra đi, đến trạng thái không nhà cửa,Thỏa thích trong sự xuất gia là khó."(câu 302)Trong
Phật Giáo, một
nhà sư có đủ
tự do để rời khỏi
Giáo Hội, nếu
nhận thấy mình khó giữ
nếp sống của thầy tỳ khưu chân chánh. Không có bất luận
cưỡng bách hay
ép buộc nào, và người
trở lại đời sống tại gia cư sĩ, không phải mang dấu vết hay tì tích gì.
Nên
hiểu biết rõ ràng và ghi nhớ rằng
thành thật xuất gia không phải là đào tẩu. Những ai không thấu
hiểu ý nghĩa thật sự của sự từ khước
thế gian và những ai xét rằng các
nhà sư là những "đạo sĩ"
giả vờ, những người
biếng nhác, hạng người
vô giá trị, là những ký sinh trùng của
xã hội, vội vã
kết luận rằng "xuất gia" là một
hình thức đào tẩu,
trốn tránh nhiệm vụ, một
lối sống vị kỷ. Không có chi sai
sự thật hơn.
Nhà sư lý tưởng, vị tỳ khưu, là người có
nếp sống vị tha, trong
ý nghĩa cao cả nhất của danh từ,
thọ lãnh của
xã hội rất ít và cho ra thật nhiều.
"Như loài ong, chỉ hút mật của hoa rồi bay đi mà không làm tổn hại đến hương và sắc của hoa, cùng thế ấy người thiện trí đi đó đây trong làng mạc, phải như vậy." (Dhammapada,
Kinh Pháp Cú, câu 49).
Vài người trong
thế giới Tây Phương cảm nghĩ rằng
xuất gia là một
hình thức đào tẩu. Nói rằng
nhà sư Phật Giáo là người
trốn tránh nhiệm vụ trong
xã hội thì quả là không đúng. Họ thật sự dấn thân vào
thế gian hơn người thường; bởi vì trước khi
từ bỏ cuộc sống
tại gia, họ ở trong một
giới thân cận nhỏ bé --
cha mẹ, anh em, thân bằng
quyến thuộc. Khi từ khước
thế gian và những gì trong
thế gian nhỏ bé ấy, họ rời bỏ cái nhóm nhỏ hạn hẹp và
trở thành người của
toàn thể thế gian.
Có dấn thân và cũng có
buông bỏ. Họ sống trong
thế gian, nhưng không phải là người của
thế gian. Đối với họ,
toàn thể thế gian là một
gia đình và họ đối xử với tất cả
mọi người như nhau. Họ phá vỡ những
ranh giới đã
phân chia con người trong
xã hội.
Đúng thật là đã có nhiều đổi thay với
thời gian, nhưng
nhà sư Phật Giáo chân chánh đã từ khước những thú vui
trần tục,
gia công sống đời tự ý
nghèo nàn và
hoàn toàn độc thân với
mục đích vị tha phục vụ kẻ khác trong
nếp sống của một vị tỳ khưu, và
cố gắng thành đạt trạng thái tâm giải thoát.
Trong
phạm vi hoạt động của một vị tỳ khưu, có hai
lối sống: một là
liên tục hành thiền (vipassanà-dhura), và
lối sống khác là hành thiền một phần
thời gian, phần kia là
nghiên cứu học hỏi và dạy
Giáo Pháp (gantha-dhura). Mỗi vị tỳ khưu phải chọn một trong hai
lối sống ấy,
tùy theo bẩm tánh, tuổi tác và môi trường sống của mình. [1]
Bộ y mà vị sa-di hay vị tỳ khưu đắp lên mình, chính đó là
y phục, và các thầy phải mặc luôn luôn, không phải chỉ trong những
trường hợp đặc biệt.
Để
kết luận, phải nói rằng
lễ xuất gia tỳ khưu,
thọ Cụ Túc Giới, phải được
cử hành trong một ngôi nhà có làm lễ
kiết giới (simà), không phải ở bất luận nơi nào mà ta cho là tiện.
Chú thích:
[1] Muốn có nhiều
chi tiết hơn về
đời sống của một vị tỳ khưu, xin đọc "The Buddha's Ancient Path", cùng một
tác giả (Kandy: BPS), Chương 8.