
Từ khi ra thăm bốn cửa thành, Thái tử Tất Đạt Đa đã cảm nhận những nỗi thiết tha thống khổ của nhân loại khiến Ngài quyết tâm đi tìm một chân lý để cứu giúp chúng sinh còn đang lặng hụp trong biển đời sinh tử trầm luân. Ngài phát nguyện xuất gia và đã hy sinh 11 năm của cuộc đời son trẻ để tìm ra ánh sáng nhiệm mầu. Mang một ý chí sắc đá, một tấm lòng dũng mãnh và trải qua không biết bao nhiêu thử thách, nhưng cuối cùng trong giờ phút lịch sử của đêm mùng 8 tháng chạp đó Ngài hoát nhiên đại ngộ, chứng được tam minh.
Đức Phật mô tả sự thành đạo của Ngài như sau: Trước hết Ngài đắc Tứ thiền và sau đó trong canh ba của đêm ấy Ngài chứng Tam minh: Túc mạng minh giúp Ngài nhớ lại được các đời sống trong quá khứ. Thiên nhãn minh cho Ngài thấy rõ được sự sống chết của chúng sinh tùy theo nghiệp của họ. Sau cùng Lậu tận minh soi sáng cho Ngài thấu biết được sự đoạn diệt các lậu hoặc. Chính Lậu tận minh này đã giúp Ngài thấu hiểu tường tận rốt ráo nguồn gốc tất cả những nỗi khổ đau và phương pháp diệt trừ nó để có cuộc sống an lạc thanh tịnh Niết bàn.
Sau khi thành đạo, Ngài đến vườn nai ở xứ Ba-la-nại để thuyết giảng chân lý Tứ Diệu Đế cho nhóm ông Kiều Trần Như để chuyển bánh xe pháp. Kinh Chuyển Pháp Luân được xem như là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật sau khi Ngài đắc đạo dưới cội Bồ đề. Chân lý Tứ Diệu Đế chọc thủng màng vô minh, khai tâm mở tánh và năm vị đệ tử đầu tiên này đều trở thành A la hán. Từ đó Tứ Diệu Đế được xem là chân lý, là sự thật chắc chắn toàn hảo nhất để chuyển cuộc sống chúng sinh từ phàm đến thánh, giải thoát sinh tử trầm luân.
Vậy thế nào là Tứ Diệu Đế?
Tứ Diệu Đế còn được gọi là Tứ Đế hay Tứ Thánh Đế gồm bốn chân lý mà chính Đức Phật là bậc toàn giác, hoàn toàn trong sạch đã tìm ra để đưa chúng sinh đến nơi hoàn toàn trong sạch của các bậc Thánh nhân. Chân lý mà Đức Phật đã nghiệm chứng dưới cội Bồ-đề là những chân lý thiên nhiên, có sẵn từ muôn đời chớ không phải do Ngài tự tạo ra. Nói cách khác dầu cho có Đức Phật hay không, những chân lý này vẫn hiện hữu cho những người giải thoát giác ngộ. Đức Phật là người đã chứng nghiệm chân lý đó và đem nó truyền dạy lại cho thế nhân, vốn bị màn vô minh che phủ nên sống trong bất giác, khổ đau.
1)Khổ đế: Nói lên tất cả những nỗi khổ của chúng sinh phải gánh chịu trong cuộc sống. Trước hết, khi còn là thai nhi trong bào thai của người mẹ thì tình thức đã được phát sinh trong ta và cũng bởi cái tình thức này mà thai nhi có thể thu nhận những cử động cảm xúc. Trong 9 tháng 10 ngày, thai nhi bị giam hãm trong cảnh tối tăm, chật hẹp, thì làm sao gọi là sung sướng cho được. Đó là chưa kể người mẹ ăn thức nóng vào thai nhi cảm thấy như bị ai nung đốt. Còn khi người mẹ ăn thức lạnh vào thì thai nhi cảm thấy như đang ở trong băng giá. Mẹ ăn no con bị ép khó bề cựa quậy. Còn mẹ đói khát, thì con long bong lều bều như bay bổng trong không. Đến kỳ sanh sản, thai nhi phải lòn qua ép lại, đau đớn khôn cùng, cho nên khi vừa thoát ra ngoài, thì vội cất tiếng khóc ngay. Bởi mới sinh ra mà đã nếm mùi đau khổ, nên Nguyễn Gia Thiều mới thốt lên rằng:
“Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu”.
Đến khi khôn lớn không ai chạy thoát khỏi luật vô thường sinh lão bệnh tử. Lúc còn trẻ tráng kiện bao nhiêu, bây giờ lúc về chiều tinh thần suy kém, thân thể hao mòn, nên con người phải khổ cả về thân xác lẫn tinh thần. Vì vậy:
“Già nua là cảnh điêu tàn
Cây già cây cổi, người già người si”.
Đến lúc già yếu thì mắt mờ, tai lãng, lưng mỏi, chân run, ăn chẳng biết ngon, ngủ không thẳng giấc, trí nhớ lu mờ, cộng thêm da nhăn, răng rụng. Cho nên:
“Bao vẻ hào hoa đâu còn nữa
Một thân khô kiệt nghĩ buồn tênh”
Càng già thân thể càng suy yếu, trí tuệ lu mờ nên mới sanh ra lú lẫn, nhớ trước quên sau, tinh thần không minh mẫn mà sanh ra chưởi bới lung tung. Thật là quá đau khổ.
Nhưng hễ có thân là có bịnh. Mà đã là bệnh cho dù là bệnh nhẹ như đau răng, đau bụng, nhức đầu… còn bệnh nặng như đau gan, đau thận, ung thư thì bệnh nào cũng là đau khổ. Thảm hại hơn nữa, còn có nhiều căn bệnh ngặt nghèo làm cho bệnh nhân sống dở, chết dở. Sống thì đau đớn từng cơn, còn muốn chết thì cũng không thành ước nguyện. Nhớ ngày xưa ở quê nhà, có người sau một trận đau, phải bán nhà trả nợ, đó là chưa kể hễ một khi trong nhà có người đau thì cả gia đình lo sợ, buồn rầu.
Phàm là con người thì ai ai cũng tham sống sợ chết. Những người giàu sang, sung sướng, thì họ sợ chết không nói làm chi còn những kẻ sống khổ cực, khốn cùng, đầu tắt mặt tối, mà đâu có ai muốn chết bao giờ. Oái oăm thay, những kẻ vướng lấy những bịnh nan y, hiểm nghèo, mà họ luôn luôn bám víu lấy sự sống.
Nhưng ”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?” cho nên muốn hay không thì chưa có một người nào trên thế gian này đã thoát khỏi bàn tay lông lá của tử thần. Người sắp chết tấm thân bấn loạn, nỗi lo cho gia đình con cái thiếu người chăm sóc, nỗi lo cho thân mình đi vào một thế giới cô đơn, vắng lạnh, tương lai mịt mờ, đen tối. Tâm sợ hãi, còn thân thì đau đớn từng cơn. Trước khi chết, mắt trợn ngược, gân giựt, bẻ tay, bẻ chân, trông thật đau khổ vô cùng đến khi nhắm mắt xuôi tay thân thể cứng đơ, lạnh ngắt. Thế thì đến chết vẫn chưa hết khổ.
Còn nhớ sau cuộc đổi đời năm 1975, hàng trăm ngàn người đã bỏ nước ra đi, để lại biết bao vợ, con, thân bằng quyến thuộc bên kia bờ đại dương. Chiến tranh đã tạo ra cảnh kẻ bên nầy trông đợi, người bên kia nhớ chờ. Thật là đau lòng xót dạ khiến có người phải thốt rằng:”Thà tử biệt chớ ai nỡ sanh ly”.
Nhưng có chắc là tử biệt đỡ hơn sanh ly hay không?
Thủa còn ở quê nhà, chiến tranh đã vô tình cướp đi đời sống của những người trai trẻ và để lại rất nhiều cảnh tang tóc thương tâm như những góa phụ bồng con thơ ra mộ thăm chồng. Nếu người nằm xuống mà có ngày trở lại, thì dù có đợi 5 hay 10 năm thì vẫn còn hạnh phúc hơn là ngàn năm vĩnh biệt. Vậy sanh ly hay tử biệt cũng đều chung số phận khổ đau như nhau.
Trong cuộc sống ai cũng mơ ước cho mình được thành đạt, hiển vinh, dư ăn dư để. Nếu muốn gì được nấy thì thế gian làm gì có khổ đau, cho nên Ôn Gia Hầu nói thêm:
“Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”.
Kẻ thất bại về công danh, phú quý thì nhiều còn người ngậm cay nuốt đắng vì tình yêu cũng không ít cho đến Hàn Mặc Tử còn phải than thở rằng:
“Người đi một nữa hồn tôi mất
Một nữa hồn tôi bỗng dại khờ”.
Thói thường, con người đau khổ vì phải xa cách người mình yêu thương, nhưng oái oăm thay nếu sống chúng với người mình chẳng ưa chẳng thích thì cuộc sống chẳng sung sướng hạnh phúc gì mà còn đeo mang bao hệ lụy ưu phiền. Thật là:
“Thấy mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt
Ở chung với người nghịch như nếm mật nằm gai”.
Cuộc đời mang lại cho ta biết bao ưu phiền khổ ách, nhưng tệ hại hơn là con người không làm chủ được thân tâm của mình làm cuộc đời đã khổ càng thêm khổ đau.
Nỗi khổ không dừng lại ở đây mà trong cuộc sống hàng ngày nỗi khổ này chồng lên nỗi khổ nọ. Nổi buồn phiền này chưa giải quyết xong thì nỗi khổ khác lại hiện lên. Đó là chưa kể nhìn thời gian trôi qua, càng ngày mình càng già yếu, xấu hơn thì càng buồn, càng khổ. Nhìn thế giới xoay vần biến hoại, nay động đất chỗ này, mai bảo táp chỗ kia khiến tâm càng lo sợ, buồn phiền.
Sau cùng khi con người tiếp xúc với trần thế thì phải hứng chịu biết bao cảnh bất toại ý. Càng chạy theo lục dục thất tình thì càng khổ, tâm càng bất tịnh.
Tóm lại, nỗi khổ thì nhiều vô hạn nói sao cho hết, nhưng trên đây Đức Phật chỉ tóm gọn thành tam khổ, bát khổ mà chúng sinh thường phải thọ nhận trên cõi đời này.
2)Tập đế: Toàn bộ giáo pháp Đức Phật dựa trên luật nhân quả vì thế trong phần tập đế, Đức Phật đưa ra những nguyên nhân chính là nguồn gốc phát sinh ra những nỗi khổ ở trên. Tập đế là nhân và khổ đế là quả của chiều sinh tử. Tập đế gồm có tư hoặc, kiến hoặc và vô minh hoặc. Trong Kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật dạy rằng:
“Ai sống trong đời này
Bị ái dục buộc ràng
Sầu khổ sẽ tăng trưởng
Như cỏ Bi gặp mưa”.
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật lại dạy rằng:
“Ai sống trong đời này
Ái dục được hàng phục
Sầu rơi khỏi người ấy
Như giọt nước là sen”.
Đức Phật dạy rằng căn nguyên của mọi khổ đau chẳng qua chỉ là sự ràng buộc của ba loại dục vọng: dục ái, hữu ái và hủy ái.
3)Diệt đế: là sự diệt khổ, là sự tẩy sạch và sự diệt trừ dục vọng. Giáo lý Đức Phật đưa ra nhằm phát huy trí tuệ để giải trừ mọi vọng tưởng và đưa hành giả thẳng đến cứu cánh tột đỉnh là giải thoát thanh tịnh Niết bàn, trở thành bậc A la hán.
Trong Trung Bộ Kinh bài 26, Đức Phật dạy rằng: “Từ bản thân ta phải chịu, sinh, già, bệnh, chết, ta đã đạt được trạng thái không sanh, không già, không bệnh, không chết, an ổn tuyệt đối, vượt khỏi hệ lụy, đó là Niết bàn”.
4)Đạo đế: là con đường dẫn đến sự diệt khổ. Để tận diệt một năng lực hùng mạnh (ái dục) hành giả cần phải vận dụng và phát triển Bát chánh đạo để đánh đổ một năng lực bất thiện dai dẳng ẩn núp trong tâm của chúng ta. Đạo đế là nhân và diệt đế là quả của chiều giải thoát. Đạo đế có tất cả 37 phẩm trợ đạo mà trong đó Bát Chánh Đạo được xem là quan trọng nhất.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có hỏi rằng:”Có giáo lý Tứ Đế hay không có giáo lý Tứ Đế?”. Nói rộng ra là thật sự có những nỗi khổ như thế trong cuộc đời này chăng?
Dựa vào văn bản kinh điển cổ xưa nhất của Phật giáo là bộ kinh Nikayas bằng tiếng Pali (Nam Phạn) và bộ kinh A Hàm (bằng chữ Hán) thì chân lý Tứ Diệu Đế là có thật. Chẳng những có thật mà nó còn là một chân lý, một sự thật vĩnh hằng cho tất cả mọi người (tiểu thừa và đại thừa) đang đi trên con đường giải thoát giác ngộ phải huân tu triệt để.
Nó là một nền móng vững chắc nhất mà bất cứ ai nếu muốn xây căn nhà giác ngộ không thể thiếu được. Dựa theo tư tưởng Nam tông thì Đức Phật chính là bậc A la hán đầu tiên của tất cả các vị A la hán. Ngài là vị đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã chứng quả giải thoát. Ngài đã đoạn trừ tham ái, là nguồn gốc của khổ, đã chứng đắc Niết bàn, là sự đoạn tận mọi khổ đau và Ngài đã hoàn thành viên mãn việc hành trì Bát Chánh Đạo, là con đường đưa đến chấm dứt mọi khổ đau.
Nói thế thì cái khổ là thật có dựa theo tinh thần Phật giáo nguyên thủy. Vậy tư tưởng đại thừa nhìn cái khổ hay nói rộng ra giải thích chân lý Tứ Diệu Đế như thế nào? Phải chăng cuộc đời chẳng có gì vui?
Tư tưởng đại thừa cho rằng chân lý Tứ Đế ở trên là hệ tư tưởng sinh diệt Tứ Đế. Vì sao? Bởi vì Đức Phật dạy chân lý Tứ Đế này dựa trên cơ sở hiện tượng vạn pháp có sinh có diệt để giúp chúng sinh học đạo, hành đạo và chứng đạo. Đó là bốn thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán mà các vị đại đệ tử Phật như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na đều tu theo pháp sinh diệt Tứ Đế mà trở thành bậc A la hán. Nhưng sau hai mươi năm thuyết pháp độ sinh và lúc bấy giờ kiến thức của chúng đệ tử đã cao hơn thì Đức Phật mới bắt đầu nói kinh Bát Nhã và Ngài đã dùng tới hai mươi hai năm để diễn cái chân không thật tướng đó mà Bát Nhã tâm kinh chính là tinh yếu của bộ kinh dày trên 600 quyển này.
Dựa theo tinh thần Bát Nhã (trí tuệ) bây giờ Đức Phật mới giới thiệu một hệ tư tưởng khác gọi là vô sinh Tứ Đế. Sinh diệt Tứ Đế dựa trên nguyên tắc hiện tượng sinh diệt của vạn pháp trong thế giới hữu vi có sinh có diệt tức là thế giới tục đế. Tuy sinh diệt Tứ Đế là chân lý, là sự thật của cuộc đời, nhưng chỉ đúng trong thế giới tục đế chớ không thể áp dụng trong thế giới bản thể, chân đế được. Vì thế sinh diệt Tứ Đế chỉ là chân lý tương đối trong cái thế giới có sinh có diệt này. Còn vô sinh Tứ Đế là Tứ Đế không có thật sanh và dĩ nhiên không có thật diệt, và đây mới là chân lý tuyệt đối trong thế giới bản thể vô vi thanh tịnh bất sinh bất diệt.
Con người vì lầm lẫn cho rằng mình là thật nên chấp trong ta có “Cái Ta” làm phát sinh “Chấp Ngã” và thế gian vũ trụ là thật, là bền chắc nên phát sinh “Chấp Pháp”. Vì chấp mình là thật, thế gian là thật nên mới có khổ, có ta có người, có chủ thể có đối tượng tức là có “Hai” nên mới vun bồi, vơ vét cho cái Ta mà nếm mùi đau khổ. Tâm kinh dạy rằng khi Bồ-tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách nghĩa là nếu chúng sinh tu tập trí tuệ đến chỗ sâu thẳm, tâm hằng tự tại thì thấy biết rõ ràng rằng sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn đều là không. Nếu biết rằng ngũ uẩn là không thì trong ta làm gì có “Cái Ta”.
Bây giờ nếu biết sử dụng trí tuệ một cách rốt ráo thì nhận biết rằng ngũ uẩn là không nghĩa là “Ta” cũng không mà “Người“ cũng không. Tâm không chấp, trong ngoài tự tại thì tìm đâu ra “Cái Khổ”. Một khi đã vượt ra khỏi khổ ách thì cái khổ đâu còn, khổ đế biến mất. Cái khổ không có thì cái nguyên nhân (tập đế) tìm đâu ra. Không khổ thì cần gì phải cầu chứng đắc thanh tịnh an lạc Niết bàn.
Do đó Diệt đế và Đạo đế cũng là không. Có người nói rằng thế gian, vũ trụ sờ sờ ở đó mà nói là không thì làm sao chấp nhận được? Thật ra tất cả mọi vật thể trong thế gian này dù to lớn như mặt trời, mặt trăng hay nhỏ như hạt cát như vi trần đều do duyên khởi tác tạo mà thành chớ không vật nào tự nó sinh khởi hay tồn tại được cho nên vật thể là vô ngã, không có tự thể nên tuy là có, là thấy sờ sờ ở đó nhưng một ngày nào đó nó sẽ bị biến hóa, tiêu hoại nên gọi là không.
Ở phần trên chúng ta đề cập về sắc tức là không và không tức là sắc. Sắc là phần vật chất, nhưng căn nguyên gốc rễ của tất cả những nỗi khổ còn nằm trong thọ, tưởng, hành, thức tức là phần tâm thức. Người đệ tử Phật phải tư duy, quán chiếu để nhận biết thấu suốt rằng thọ tức là không, không tức là thọ. Tưởng tức là không và không tức là tưởng, hành tức là không và không tức là hành và sau cùng thức tức là không và không tức là thức.
Thức là động cơ tác động qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý để con người có thể thấy, nghe, ngửi, xúc, biết qua hiện tượng sinh diệt bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Mỗi thành phần là không thì chắc chắn ngũ uẩn phải là không hay nói rộng rãi hơn là vạn pháp là không cho nên thế gian vũ trụ dưới nhãn thức của người có trí tuệ thì tất cả tuy có đó mà trong tâm họ vẫn là không nên họ không dính mắc, không tham đắm cho nên “cái khổ” không bao giờ có.
Nếu nói rằng ngũ uẩn giai không, không thật có. Nhưng bây giờ con người, thế gian vũ trụ sờ sờ ở đó thì cái có nầy là gì? Cái có mà con người nhận biết được qua ngũ quan chẳng qua là cái có của duyên sanh nghĩa là các chủng tử nương gá tác động hòa hợp mà thành. Đối với phàm nhân thì cái có này là thật có, nhưng người có trí tuệ (Bát nhã) thì cái có nầy không thật có, chỉ là cái có giả tạm, duyên kết thì tạm có duyên tan thì hoại diệt vậy thôi. Thí dụ tấm thân tứ đại của con người là do sự sự kết hợp của trùng trùng duyên khởi mà thành. Khi các nhân duyên hòa hợp thì chúng ta sống bình yên, không đau bệnh. Ngược lại, nếu nhân duyên bất hòa thì nay đau, mai yếu.
Bài đọc thêm:
TỨ DIỆU ĐẾ (BỐN SỰ THẬT NHIỆM MẦU - TỨ THÁNH ĐẾ - BỐN CHÂN LÝ CAO CẢ) Nhiều tác giả