GIỚI LUẬT TĂNG GIÀ
VÀ LUẬT PHÁP QUỐC GIA
Trần Tuấn Mẫn
Khái quát về Giới luật Tăng-già
Một cách tổng quát, Giới luật là những điều đã định mà mọi người trong một tập thể, một tổ chức phải tuân theo để mọi sự việc, mọi sinh hoạt đi vào nề nếp, để tự mình và tập thể được thuận tiện trong sinh hoạt. Đối với một quốc gia, tương đương với giới là những qui định, là Luật pháp; đối với một cá nhân, Giới luật là đạo đức của chính mình. Đối với mọi tôn giáo, Giới là những giáo điều mà tín đồ không được vi phạm.
Khi Tăng-già mới được thành lập, Đức Phật chỉ dạy những điều nên làm hoặc không nên làm. Sinh hoạt Tăng-già càng lâu, càng nhiều thì những sai sót thể hiện càng nhiều hơn. Do đó, Đức Phật thỉnh thoảng vẫn nêu một số giới điều trước hội chúng. Có lẽ sau sự việc một thành viên của Tăng đoàn là Suddina lén trở về gia đình để quan hệ với người vợ cũ, mong được có con theo yêu cầu của gia đình cô vợ ấy; Đức Phật nghiêm khắc phê phán và từ đó Ngài đưa ra nhiều giới điều nghiêm khắc hơn. (xem Tạng luật-Vinaya Pitaka, Trường bộ kinh-Digha Nikaya). Từ đây, các giới điều trở nên càng lúc càng nhiều.
Đức Phật nêu rõ mục đích Ngài ban hành giới luật là nhằm các mục đích sau đây:
Luật Ma-ha-tăng-kỳ (Mahashanghika), tập I, có ghi lời Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất: “Có 10 việc lợi ích nên chư Phật Như Lai vì đệ tử mà chế giới…
Mười việc lợi ích đó là:
1. Để nhiếp phục Tăng chúng.
2. Để hoàn toàn nhiếp phục Tăng chúng.
3. Để Tăng chúng được an lạc.
4. Để nhiếp phục những người không biết hổ thẹn.
5. Để những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn.
6. Để những người không tin được tin tưởng.
7. Để những người đã tin tăng thêm tin tưởng.
8. Để dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại.
9. Để những lậu hoặc chưa sinh khởi không thể sinh khởi.
10. Để Chánh pháp được tồn tại lâu dài.”
Tăng chi bộ (Anguttara Nikaya), Chương 10 pháp cũng ghi 10 mục đích chế giới luật của Đức Phật, tuy hình thức có hơi khác nhưng nội dung cũng tương tự :
1, Để tăng chúng được cực thiện,
2. Để Tăng chúng được an ổn,
3 Để chận đứng các người cứng đầu,
4, Để các thiện Tỷ-kheo được sống an ổn,
5. Để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại,
6. Để chận đứng các lậu hoặc trong tương lai,
7, Để đem lại tịnh tín cho những người không tin,
8. Để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người có lòng tin,
9. Để diệu pháp được tồn tại,
10 Để luật được chấp nhận.
Thời gian thành lập trọn vẹn các giáo điều phải trải qua những trường hợp sai phạm cho nên khó xác định. Các tài liệu giới luật cho rằng 3 năm, hoặc 5 năm, 13 năm sau ngày Đức Phật thành đạo. Có tài liệu ghi rằng giới luật được hình thành trọn vẹn vào khoảng 1.000 năm sau thời Đức Phật, gồm 3 phần: 1/ Ba-la-đề-mộc-xoa hay Giới bổn Tỳ-kheo (Patimokkha) gồm các giới điều, 150 hoặc 218, 227, 253 và 263 dành cho chư Tăng và chư Ni, 2/ Đại phẩm (Mahavagga), 3/Tiểu phẩm (Cullavagga). Có lẽ Đức Phật đã không ban hành nhiều giáo điều như thế và lâu xa về sau nhiều người đã thêm vào. Ngoài 10 giới dành cho hàng Sa-di và 5 giới dành cho cư sĩ Phật tử, hẳn là Bồ-tát giới được lập về sau này không do Đức Phật trực tiếp nêu đặt mà chỉ dựa vào những lời dạy của Ngài để lập ra..
Lợi ích của giới luật
Theo Luật Tứ phần của bộ phái Dharmaguptaka (Pháp Tạng bộ), giới luật có mười điều lợi ích: (1) Nhiếp thủ đối với Tăng, (2) Khiến cho Tăng hoan hỷ, (3) Khiến cho Tăng an lạc, (4) Khiến cho người chưa tín thì có tín, (5) Người đã có tín khiến tăng tưởng, (6) Để điều phục người chưa được điều phục, (7) Người có tàm quý được an lạc, (8) Đoạn hữu lậu hiện tại, (9) Đoạn hữu lậu đời vị lai, (10) Chánh pháp được tồn tại lâu dài.
Tóm lại, chư Tăng Ni tuân thủ Giới luật trong sự nghiệp tu tập thì được an vui, được thanh tịnh trong đời này và đời sau, đồng thời góp phần làm cho Chánh pháp được trường tồn.
Tu tập Giới thì có Định, có Định thì có Tuệ. Tuệ sẽ tăng cường Giới, Giới sẽ tăng cường Định, Định được tăng cường thì Tuệ được phát triển, cho đến khi Tuệ phát triển tột độ, tức là đạt ngộ, thong dong tự tại tuyệt đối, nói cách khác là hoàn toàn tự do, không hề có gì có thể ngăn ngại.
Khái quát về Luật pháp Quốc gia và sự Tự do
Khá nhiều chuyên gia và nghiên cứu gia nổi danh về Luật pháp và Tự do từ xưa và nay đều đề cập đến Luật pháp Quốc gia và Tự do, Dân chủ. Hy Lạp cổ đại từ tk 4, đến tk 1 tr TL: Pericles, Solon, Cleisthenes, Drakon, Plato, Aristotle, Cicero…Châu Âu cận đại từ tk 16 đến tk 19 TL: Thomas Hobb, J. Lock, Montesquieu, J.J. Rousseau, F. Hayek…Những danh nhân này đều nhấn mạnh đến quan niệm dân chủ, tự do, xem tự do là bản tính của con người, đồng thời, Luật pháp Quốc gia chính là để bảo vệ tự do cho người dân. Dĩ nhiên ai cũng biết rằng dân chủ và tự do cũng phải ở trong khuôn khổ của luật pháp, nếu không thì tự do quá mức sẽ làm rối loạn xã hội, xâm phạm tự do của những người khác. Như vậy, ý kiến của các lý thuyết gia nêu trên chỉ là sự tôn trọng nhiều hơn hay ít hơn giữa Luật pháp và Tự do. (Ở đây không bàn đến trường hợp các quốc gia độc tài và gây chiến tranh xâm chiếm các quốc gia khác).
Nhận định về Giới luật Tăng-già và Luật pháp Quốc gia
Gia nhập Tăng-già là do tự nguyện và được chấp nhận theo giới luật. Trong số giới luật Tỳ-keo như đã nêu trên, có 4 giới điều dành cho chư Tăng và 8 giới điều cho chư Ni được xem là nặng nhất nếu vi phạm: Bị đuổi ra khỏi Giáo đoàn. Những giới điều này được gọi là Ba-la-di (Parajika), nghĩa là cực ác, ảnh hưởng đến quá trình tu tập của đương sự và của Tăng-già. Hình phạt xem ra không ảnh hưởng đến đương sự khi trở lại là một người dân bình thường, có thể sống và làm việc theo quy định của Pháp luật. Ngoài tội Ba-la-di, người phạm các tội sẽ bị Tăng-già phê phán, hạn chế sinh hoạt trong một thời gian không lâu và đặc biệt là để người phạm sám hối lỗi lầm.
Về Pháp luật Quốc gia, luật hình sự quy định nhiều hình phạt, nặng nhất cho người phạm tội là tử hình hay tù chung thân. Tất cả án phạt tù còn có thể được giảm nhẹ nếu phạm nhân được cải tạo tốt, tuân thủ nghiêm nhặt các qui định của trại cải huấn, tích cực trong mọi phần việc được giao, tỏ ra hối lỗi, ăn năn.
Cách xử lý những trường hợp vi phạm Giới luật và Pháp luật về hình thức có vẻ giống nhau nhưng nội dung thì khác hẳn nhau. Giới luật thì nhẹ nhàng, không quá nghiêm khắc như Pháp luật.
Tích cực đề phòng những tai hại
Tuân thủ Giới luật hay Luật pháp thì tránh mọi thiệt hại cho mình.
Tứ phần luật của Pháp tạng bộ đã nêu 10 lợi ích tổng quát của việc tuân thủ Giới luật như đã nêu trên. Đức Phật đã dạy: “Ở đây, này các gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào vì không phóng dật. Đó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.Lại nữa, này các gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Đó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.Lại nữa, này các gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát đế lỵ, hoặc Bà la môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Đó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.Lại nữa, này các gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Đó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.Lại nữa, này các gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Đó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật”. (Trường bộ, kinh Đại-bát-niết-bàn, Mahaparinibbana sutta).
Như trên đã nói, Luật pháp đặt ra là để đưa người dân vào một cuộc sống trật tự, bình ổn, an toàn. Nói cách khác, mục đích của Luật pháp là bảo vệ, phục vụ nhân dân. Do đó, Tăng già và Phật tử tại gia phải sống theo Giới luật và theo Pháp luật. Muốn được vậy thì phải phòng ngừa những nguy hiểm có thể xảy ra.
Lợp nhà kỹ thì không sợ bị nước mưa đổ vào nhà, xây nhà kỹ, tường vây chắc thì không sợ trộm cướp xâm nhập, rào vây ruộng lúa vườn rau vững thì không sợ trâu bò, dê cừu vào phá phách. Giới luật, Pháp luật là mái nhà, tường vách ngôi nhà, hàng rào ruộng vườn, là sự đề phòng mọi bất an, nguy hại, đồng thời tạo được thong dong, tự tại, an vui cho mọi người.
-----------------------------------