Thư Viện Hoa Sen

Từ Hai Bản Kinh Đại Bát Niết

TỪ HAI BẢN KINH ĐẠI BÁT NIẾT-BÀN,
NHẬN ĐỊNH VỀ BẢN HÁN DỊCH
Trần Tuấn Mẫn

kinh dai bat niet ban TTTHai bản kinh Đại Bát Niết-bàn:

Hai bản Việt dịch kinh Đại Bát Niết-bàn đang lưu hành hiện nay là:

- Kinh Đại bát Niết-bàn do Ngài Pháp Hiển dịch từ bản Sanskrit, được đăng vào Đại Chính Tân tu Đại tạng kinh, quyển 12, số 437. Kinh Đại Bát Niết-bàn (Mahaparinibbana) do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Pali (Kinh Trường Bộ, Đại Bát Niết-bàn, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1991). Kinh này thuộc Phật giáo Nguyên thủy.

- Kinh Đại Bát Niết-Bàn (Mahaparinirvana) do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch từ bản Hán (Kinh Đại Bát Niết-bàn, nxb Tôn Giáo, 2005) dịch từ bản Sanskrit (Phạn) của ngài Đàm Vô Sấm (Dharmaraksa, hay Dharmakshema) vào năm 421. Bản Hán dịch được đăng vào Đại Chính Tân tu Đại tạng kinh, quyển 1, số 7. Kinh này thuộc Phật giáo Đại thừa.

Cả hai kinh đều nói về sự nhập diệt của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni và những lời giảng cuối cùng của Ngài trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Tuy vậy, hai kinh có độ dài ngắn và nội dung không giống nhau.

So sánh vắn tắt:

Về thời gian xuất hiện, theo các nhà nghiên cứu, bản Pali cùng với các kinh điển Pali xuất hiện khoảng 2 hoặc 3 trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt. 200 năm đầu, kinh được tụng đọc chứ chưa được viết, phải mất 100 năm sau kinh Pali mới xuất hiện. Như vậy, có thể có chỗ kinh bị chép sai, bị thêm bớt. Bản Phạn (Sanskrit) cùng với các kinh điển Phạn xuất hiện khoảng 5 hoặc 6 trăm năm sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn. Như vậy, trong suốt 5 hay 6 trăm năm ấy, các kinh Phạn rất có khả năng bị chép sai, sửa đổi, thêm thắt, ngụy tạo.

Về độ dài, bản Việt dịch từ Pali ngữ chỉ gồm khoảng 53 trang A4, 6 phẩm. Bản Việt dịch từ Hán ngữ của Phạn ngữ gồm khoảng 1.500 trang, 29 phẩm, dài hơn bản Pali quá nhiều.

Về nội dung, bản Pali thuật rõ ràng về chuyến đi dài 3 tháng của Đức Phật, có đoàn Tỳ-kheo tùy tùngTôn giả A-nan (Ananda) là thị giả luôn luôn ở bên cạnh Ngài. Đoàn khởi từ núi Linh Thứu (Gijjhakuta) thuộc thành Ma-kiệt-đà (Magadha) đến các nơi thành thị, thôn quê, làng mạc, rừng cây, đền đài,… Những nơi này là Ambalatthica, Nalanda, Pataligama, Ganga (Sông Hằng), Kotigama, Nadika, Vesali, Hatthigama,… Jambugama, Bhoganagara, Pava. Sau cùng Ngài đến rừng Sala của Kusinagara và nhập Niết-bàn tại đây.

Trong suốt chuyến đi dài này, Đức Phật giảng pháp cho đoàn Tỳ-kheo, cho cư dân các nơi, nhất là Tôn giả A-nan. Ngài giảng vắn tắt về những giáo lý căn bản, (hẳn là Ngài không còn thì giờ nhiều để triển khai các giáo lý này): Các pháp bất thối làm cho quốc giaTăng đoàn vững mạnh, Giới-Định-Tuệ, Tứ Thánh đế, Thiền định, Chánh niệm tỉnh giác,… đặc biệt là Giới-Định-Tuệ (giảng sáu lần ở sáu địa phương khác nhau).

Bản Hán thì miêu tả Đức Phật bắt đầu giảng pháp tại rừng Sala ở Kusinagara (Rừng Sa-la Song Thọ tại Câu-thi-na) cho đến lúc Ngài nhập Niết-bàn. Hội chúng nghe pháp gồm vô số vị, từ chư vị đã đạt ngộ như Đế Thích, Bồ-tát, A-la-hán đến Thiên long, Cư sĩ, quỷ thần Dạ-xoa…, chủ yếu là lời giảng của Đức Phật qua các thỉnh vấn của các vị Bồ-tát như Ca-diếp Bồ-tát (Kassapa Bodhisattva), Văn-thù Bồ-tát (Manjuri Bodhisattva), Cao Quý Đức Vương Bồ-tát (? !) và các Tôn giả như Xá-lợi-phất (Sariputta), Kiều-trần-như (Kaundinnya), A-nan (Ananda). Giáo lý được giảng ở đây vẫn là những giáo lý căn bản nhưng lại được triển khai rất chi li và được lặp lại rải rác ở các chương khác nhau: Pháp thân của Đức Phật, Phật tánh, Phật tánh của chúng sinh, Chánh đạotà đạo, Ca ngợi Đại thừa, Ca ngợi kinh Đại Bát Niết-bàn, Niềm tin, hạng người Nhất-xiển-đề (Icchantika), Tứ vô lượng tâm, Không, Thường Lạc Ngã Tịnh, Phép quán sát, Ngã và Vô ngã...

Nhận định về bản Việt dịch từ bản Hán:

Xem trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Tripitaka) của Nhật Bản, Tập 12, số 374 thì thấy ghi rằng bản Hán dịch của Đàm Vô Sấm gồm 46 phẩm, dài hơn bản Pali Việt dịch khá nhiều và nội dung có nhiều chỗ khác với nội dung bản Pali. Có lẽ bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh là bản đã được các ngài Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán, Tạ Linh Vận... chỉnh sửa lại bản Hán cho dễ đọc.

Lời dạy của Đức Phật có vẻ khắc khe, khi thì khuyến tu, khuyến tín để được an lạc, được giải thoát…, khi thì răn đe những người không tin Đại thừa, không tin kinh Đại Bát Niết-bàn. Xin trích dẫn chút ít:

“Này Ca-diếp, nay ông phải ghi nhớ như vầy:… Họ được nghe kinh này thì bao nhiêu nghiệp ác đã tạo ra từ vô lượng kiếp trước thảy đều tiêu trừ. Nếu kẻ nào không tin kinh điển này thời hiện thân sẽ bị vô lượng bệnh khổ não hại, phần nhiều bị người trách mắng, sau khi chết sẽ thọ thân hình xấu xí, nghèo thiếu, bị người khinh tiện, đời đời sanh trong nhà bần cùng hạ tiện, tà kiến, thường bị tai nạn đao binh, hình pháp, giặc cướp, oán thù làm hại, không được gặp gỡ bạn lành, hằng ngày đói khát…” (Phẩm VIII, Tứ y, tr. 196).

“Này Thiện nam tử, kinh Đại Niết-bàn vi diệu này có thể diệt trừ tất cả các ác nghiệp, bốn tội trọng, năm tội vô gián của chúng sanh. Người chưa phát bồ-đề tâm nhơn kinh này thời đặng phát bồ-đề tâm. Vì kinh này là vua trong các thứ thuốc” (Phẩm XVI, Bồ-tát, tr. 308).

“Cũng vậy, những người nghe tiếng kinh Đại Niết-bàn này, bao nhiêu tham dục, sân khuể, ngu si thảy đều dứt hết. Oai lực của kinh này có thể diệt trừ phiền não…” (Phẩm XVI, Bồ-tát, tr. 318).

Đức Phật còn phê phán khắc khe, nghe như những lời mạt sát, kết án hạng người Nhất-xiển-đề. Khởi đầu, Ngài định nghĩa Nhất-xiển-đề:

“Những gì gọi là Nhất-xiển-đề? Hạng Nhất-xiển-đề đoạn tất cả căn lành, tâm họ không vin níu tất cả pháp lành, nhẫn đến không sanh một niệm lành”(Phẩm VII, Tử tướng, tr. 163).

Tiếp theo là một loạt phán quyết gay gắt:

“Ví như hạt giống đã cháy, dù có gặp mưa cũng chẳng mọc mầm. Cũng vậy, hạng Nhất- xiển-đề dầu nghe kinh Đại Bát Niết-bàn vi diệu này, trọn không phát tâm bồ-đề vì hạng này đoạn hết tất cả căn lành.” (Phẩm XVI, Bồ-tát, tr. 308).

“Kinh Đại Bát Niết-bàn này chẳng thể chữa trị hạng Nhất-xiển-đề. Chư Phật, chư Bồ-tát có thể cứu độ tất cả chúng sanh có tội, chỉ trừ không thể độ cho hạng Nhất-xiển-đề” (Phẩm XVI, Bồ- tát, tr. 310).

“Người phạm bốn tội nặng và năm tội vô gián lúc sắp chết nhớ đến kinh Đại Bát Niết-bàn này, dầu đọa địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, hay sanh trên trời, trong loài người, kinh điển này cũng làm nhơn bồ-đề cho người này, trừ hạng Nhất-xiển-đề.

“Nếu chúng sinh phạm bốn tội nặng, năm tội vô gián, kinh Đại Bát Niết-bàn này, còn thể làm cho tội tiêu diệt, an trụ nơi đạo Bồ-đề. Oai thần của kinh làm cho chúng sinh được an lạc, chỉ trừ hạng Nhất-xiển-đề.” (Phẩm XVI, Bồ-tát, tr. 317).

Cũng mang ý nghĩa Nhất-xiển-đề, phần sau đây rất đáng xem xét. Phẩm XXVI, Ca-diếp Bồ-tát. Ca-diếp Bồ-tát (Kassapa Bodhitattva) hỏi Đức Phật về Tỳ-kheo Thiện Tinh (Sunakkatta):

“Bạch Thế Tôn, Thiện Tinh Tỳ-kheo là con trai của Đức Phật lúc Phật chưa xuất gia. Sau khi làm Tỳ-kheo, Thiện Tinh thọ trì, đọc tụng, giải thuyết 12 bộ kinh, phá kiết sử cõi dục, chứng được Tứ thiền. Tại sao Như Lai nói Thiện Tinh là hạng Nhất-xiển-đề là người hạ tiện, người không thể trị được, phải ở nơi địa ngục cả kiếp. Cớ gì Đức Như Lai chẳng trước diễn nói Chánh pháp cho Thiện Tinh được làm Bồ-tát? Nếu Đức Thế Tôn chẳng cứu được Thiện Tinh Tỳ-kheo thì đâu được gọi là có Đại từ bi, có Đại phương tiện?” (tr. 418).

Cuộc vấn đáp tiếp diễn cho biết rằng: Tỳ-kheo Thiện Tinh đã sinh niệm ác, Đức Phật đã thuyết giảng cho Thiện Tinh suốt 20 năm nhưng Thiện Tinh vẫn không nghe, không có lòng tin, không tin nhân quả, không nghe lời Phật, không tin Phật, lại tin ngoại đạo, lại còn có những luận điệu sai trái,… cuối cùng, phải làm hạng Nhất- xiển-đề. Bồ-tát Ca-diếp hỏi tại sao ngay từ đầu Thế Tôn lại cho phép Thiện Tinh xuất gia theo Ngài. Đức Phật dạy:

“Thuở ta mới xuất gia, em ta là Nan-đà (Nanda), em họ ta là A-nan (Ananda)và Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) con trai ta là La-hầu-la (Rahula), những người đó đều xuất gia tu hành. Nếu ta chẳng cho Thiện Tinh xuất gia thời Thiện Tinh sẽ nối ngôi vua, có quyền thế, sẽ phá hoại Phật pháp, do đó nên ta cho Thiện Tinh xuất gia.” (tr. 433).

Sau đây là lời Đức Phật kết tội Thiện Tinh:

“Từ xưa Ta thấy Thiện Tinh có chút ít căn lành như lông tóc, trọn chẳng huyền ký Thiện Tinh là dứt tuyệt căn lành, là hạ tiện Nhất-xiển-đề phải đọa địa ngục. Bởi Thiện Tinh tuyên bố rằng không nhơn không quả, không có đạo nghiệp, do đây nên Ta huyền ký Thiện Tinh là hạng Nhất-xiển-đề hạ tiện dứt hẳn căn lành phải đọa địa ngục cả kiếp.

“…Như có người té chìm trong hầm phẩn, có bạn lành đưa tay mò đó, nếu nắm đặng đầu tóc thì kéo lên, mò lâu chẳng được mới có tâm niệm thôi vớt. Cũng vậy, Ta tìm chút căn lành nơi Thiện Tinh để cứu vớt, nhưng trọn ngày tìm cầu mà chẳng được mảy lông tóc căn lành, do đây nên chẳng cứu được tội đọa địa ngục của Thiện Tinh.” (tr, 428).

Cũng nên lưu ý rằng sau phần đầu của cuộc hỏi đáp. Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp theo Ngài đi đến chỗ Thiện Tinh để Bồ-tát có thể hỏi han. “Thiện Tinh thấy Phật từ xa đến liền sanh tâm tà ác. Do tâm ác này, Thiện Tinh hiện thân đọa vào địa ngục A-tỳ (Avicinaraka).” (tr. 426).

Tôi rất ngạc nhiên khi Phẩm kinh này xác định rằng Đức Phật khi chưa xuất gia đã có hai người con trai. Tôi đã mất khá nhiều thời gian để tìm các tài liệu nhưng không hề thấy có tài liệu nào như thế. Ngay cả trong hai bộ kinh Pali cuối cùng của Tiểu bộ (Khuddakanikaya) là Phật Sử (Buddhavamsa) và Hạnh Tạng (Cariyapitaka) cũng không hề thấy nói Đức Phật có hai người con. Kinh điển Phật giáo luôn ghi rằng đêm Thái tử Tất-đạt-đa (Siddharta) rời Hoàng cung đi tìm chân lý thì La-hầu-la đang còn quá nhỏ, đang ngủ say trong vòng tay mẹ. Vậy thì Thiện Tinh ra đời lúc nào? Hẳn mọi người đều ngỡ ngàng khi đọc phẩm kinh này. Và những người dịch kinh này có cảm nhận gì không nhỉ?

Đôi lời kết:

Tôi biết rằng xưa nay hễ có người nêu thắc mắc hay nghi ngờ, hầu nêu điều gì đó động chạm đến Phật giáo Đại thừa thì liền sau đó một loạt người lên tiếng chống đối, có khi đã kích thậm tệ, cho rằng người ấy kém trí hoặcác ý hoặc phỉ báng Phật giáo! Thực ra, trong khá nhiều trường hợp những người chống đối không có bằng chứng hay không đủ lý lẽ. Họ chỉ viện dẫn những gì mà người phê phán đã nêu hoặc lập luận vu vơ trong sự cuồng tín. Họ bị chạm tự ái (!), họ giận giữ như có ai muốn giật lấy niềm tin vô cùng quý báu của họ.

Tôi xin nói rõ, những nhận xét, ý kiến của tôi trong những bài viết như bài này là chân thành, không có ý động chạm đến ai, đến niềm tin, đến tôn giáo nào… Tôi nghĩ, ai cũng có quyền nghi ngờ điều gì đó, việc suy nghĩ, cân nhắc một vấn đề, một sự kiện để xác định thực hư, tốt xấu là chuyện thường tình. Khi những người ở Kalama hỏi về sự nghi ngờ, Đức Phật dạy:

“ Này các người Kalama, đương nhiên phải nghi ngờ, đương nhiên phải phân vân. Đối với điều đang nghi ngờ thì phân vân khởi lên.

Này các người Kalama, đừng tin vì nghe nói lại, đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về những dữ kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì Sa-môn là thầy mình. Nhưng này các người Kalama, khi nào các người tự biết rõ: Các pháp này là bất thiện, các pháp này là đáng chê, các pháp này bị người trí chỉ trích, các pháp này nếu được thực hiện, chấp nhận thì dẫn đến bất hạnh khổ đau; thời này các người Kalama, các người hãy từ bỏ chúng đi.” (Kinh Kalama, Tăng Chi Bộ, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch).

Đọc lời kinh trên, tôi liền liên tưởng đến đoạn kinh Đại Bát Niết-bàn đã trích ở mấy dòng trước đây: “Nếu kẻ nào không tin kinh điển này thời hiện thân sẽ bị vô lượng bệnh khổ não hại, phần nhiều bị người trách mắng, sau khi chết sẽ thọ thân hình xấu xí, nghèo thiếu, bị người khinh tiện, đời đời sanh trong nhà bần cùng hạ tiện, tà kiến, thường bị tai nạn đao binh, hình pháp, giặc cướp, oán thù làm hại, không được gặp gỡ bạn lành, hằng ngày đói khát…” (Phẩm VIII, Tứ y, tr. 196). Thú thật, tôi không tin những lời này là do Phật dạy, vì nếu là lời Phật thì không hợp lý, không đúng với luật Nhân quả Nghiệp báo, không đúng với cốt cách, ngôn từ của Đức Phật: Chỉ vì không tin một tập kinh mà mất hết thiện nghiệp xưa nay và bị các khổ nạn như thế hay sao?.

Đã có rất nhiều luận gia nghi ngờ kinh điển Đại thừa, cho rằng có người thêm thắt, hoặc ngụy tạo. Các Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, các sử sách xưa củ,,,… hiện cũng gồm nhiều bản khác nhau và vẫn gây nhiều tranh cãi về bản gốc, về các phần bị thêm bớt, ngụy tạo... cũng như rất nhiều tài liệu, sử liệu trên thế giới vẫn còn đang trong vòng tranh cãi về nguyên gốc, về tác giả .Trường hợp kinh Đại Bát Niết-Bàn bản Sanskrit cũng như vậy.

Trong các kinh điển Phật giáo, tình trạng trên đã tồn tại khá nhiều vì vị Giáo chủĐức Phật đã nhập Niết-bàn từ 3 hoặc 4 trăm năm đối với Kinh điển Pali và 5 hoặc 6 trăm năm đối với kinh điển Sanskrit. Trong khi Phật giáo Đại thừa có khá nhiều kinh điển được cho là đã bị thêm bớt, sửa đổi hoặc ngụy tạo thì kinh điển Nguyên thủy (Pali) cũng bị tình trạng ấy không phải là ít. Nhiều học giả ngày nay cho rằng kinh Tiểu bộ (Khuddhaka Nikaya) gồm kinh Na-tiên Tỳ-kheo (Mi-lan-đà Vấn Kinh, Milindapanha), Chuyện Thiên cung (Vimalavatthu), Chuyện Ngạ quỷ (Petavatthu), Chuyện Tiền thân (Jataka), đều được sáng tác trải qua thời gian dài sau một hoặc nhiều thế kỷ sau khi các bộ kinh Pali lớn xuất hiện.

Nghi ngờ tính chân thực của một bản kinh là chuyện bình thường, cả khối người làm chuyện ấy. Người ta còn chia ra hai loại kinh: một loại là Chính kinh (canonical), một loại là Phi chính kinh (non-canonical). Ngoài ra, những kinh nào chắc chắn là do một hay nhiều người bịa đặt ra thì gọi là Ngụy kinh, kinh ngụy tạo (Apocrypha).

----------------------------------