TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN
TRẦN TUẤN MẪN
Khái quát
Tứ hoằng thệ nguyện nghĩa là Bốn lời nguyện rộng lớn mà vị Bồ-tát khi chưa thành Phật đã thành tâm thệ nguyện:
“Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”
(Thệ nguyện cứu độ tất cả chúng sinh,
Thệ nguyện dứt tất cả phiền não,
Thệ nguyện học tất cả pháp môn,
Thệ nguyện thành tựu Phật đạo cao cả nhất.)
Bốn đại nguyện này được cho là của chư vị Bồ-tát từ bi muốn cứu độ chúng sinh đang trầm luân khổ ải. Do hiểu như thế nên rất nhiều các tác giả văn bản của Phật giáo Đại thừa thường nêu dẫn Bốn đại nguyện này. Nhưng đâu là kinh sách mà bốn đại nguyện này xuất xứ? Một vài bài viết có nêu rằng Tứ hoằng thệ nguyện được nêu trong Đại Trí Độ Luận (Mahaprajnaparamita Upadesa) của Ngài của Ngài Long Thọ (Nagarjuna) và trong kinh A-di-đà (Sukhavativyuha sutra) nhưng thực ra không hề thấy Bốn đại nguyện này được nhắc đến trong bản kinh và luận ấy. Như vậy, hẳn là Bốn đại nguyện này được người đời sau dựa vào lời Đức Phật dạy trong các kinh mà biên soạn ra. Phẩm chất của một vị Bồ-tát là từ bi, trí tuệ, là lòng thương tưởng, cứu độ chúng sinh. Bồ-tát được miêu tả trong rất nhiều kinh, luận Đại thừa (trong kinh luận Nguyên thủy, từ Bồ-tát chỉ được dùng để chỉ Đức Phật Thích-ca khi Ngài chưa thành Phật). Trước khi thành Phật (phải trải qua vô số kiếp sau), các Ngài thường có nhiều nguyện lớn, không phải đúng y như Tứ hoằng thệ nguyện nhưng mang ý nghĩa của Bốn đại nguyện này. Khá nhiều bài viết, văn bản, tụng đọc về các nguyện lớn của nhiều vị Bồ-tát nhưng không có kinh, luận nào được chính thức nêu dẫn.
Ý nghĩa của việc thực hành thệ nguyện hay đại nguyện
Thệ nguyện, hạnh nguyện hay đại nguyện được phân biệt theo 3 trường hợp: Lời nguyện trước khi thực hiện, trong khi thực hiện và sau khi thực hiện. Các thệ nguyện đều là quyết tâm thực hiện những sự việc vô cùng lớn lao, đòi hỏi dũng khí, sự kiên trì, trí tuệ và lòng yêu thương hết thảy chúng sinh. Đó là lý do hạnh nguyện hay thệ nguyện thường được gọi là đại nguyện: Đại nguyện bao gồm mọi nguyện (đại nguyện nhiếp nhất thiết nguyện).
Có ba nội dung nổi bật trong các đại nguyện: Nguyện cứu độ tất cả chúng sinh, nguyện trừ bỏ tất cả phiền não và nguyện thành Phật để giải thoát tất cả. Ý nghĩa nổi bật là chư Bồ-tát sẽ không thành Phật nếu mọi chúng sinh còn khổ, còn chưa thành Phật. (Như đại nguyện của Bồ-tát Đại Thế Chí, của Bồ-tát Địa Tạng…). Muốn được như thế, tâm của người phát đại nguyện phải như tâm của chư Bồ-tát đã phát Tứ hoằng thệ nguyện như được ghi trong Đà-la-ni Tạp Tập:
1/Tâm như đất rộng (nuôi mầm đạo của chúng sinh), 2/ Tâm như cầu thuyền (đưa chúng sinh đến bờ bên kia, bờ Giác), 3/ Tâm như biển cả (rộng lớn, giúp chúng sinh nhận rõ Đạo pháp để chứng ngộ), 4/ Tâm như hư không (chứa muôn vật, bình đẳng, đồng chứng Pháp tính).
Chúng ta cần xác định rằng Bốn thệ nguyện đã nêu là tâm nguyện của chính vị Bồ-tát, cho nên thệ nguyện thứ hai (Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn) phải được hiểu rằng Bồ-tát nguyện đoạn trừ phiền não của chính mình chứ không phải của chúng sinh vì nếu là của chúng sinh thì nguyện thứ hai này trùng ý với nguyện thứ nhất (Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ). Có thể nguyện thứ hai này khiến khá nhiều người hiểu nhầm.
Trong Bốn thệ nguyện, thệ nguyện thứ nhất được nêu ra nhiều nhất qua các kinh nói về Bồ-tát Quán thế Âm: Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma Pundrika sutra), Bát-nhã Tâm kinh (Prajnaparamita Hridaya sutra), Đại bi tâm Đà-la-ni (Maha Karuna Citta Dharani sutra), Đạo hành Bồ-tát (Bodhisattva Paramita sutra), kinh Bồ-tát Anh Lạc (Keyura Bodhisattva sutra)…
Khá nhiều bài viết, văn bản, tụng đọc về các nguyện lớn của nhiều vị Bồ-tát nhưng không có kinh, luận nào được chính thức nêu dẫn. Kinh Phạm Võng (Bhamajala Sutra) chỉ ghi số lượng đại nguyện chứ không nêu nội dung của các đại nguyện mà chư Bồ-tát đã lập: 32 đại nguyện của Bồ-tát Văn-thù, 10 đại nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền, 12 đại nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm, 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư, 48 đại nguyện của Đức Phật A-di-đà…
Một số đại nguyện được ghi trong kinh
Như đã nói trên, các văn bản về đại nguyên thường không xuất xứ. Có 3 bộ kinh nêu chi tiết về các đại nguyện của Bồ-tát là kinh Diệu pháp Liên Hoa, kinh Đạo Hành Bồ-tát và kinh Bồ-tát Anh Lạc:
“Ta sẽ độ cho những ai chưa được độ, sẽ giải thoát cho những ai chưa được giải thoát, sẽ làm an vui những ai đang sợ hãi, sẽ đưa đến Niết-bàn những ai chưa đến” (kinh Đạo Hành Bát-nhã và kinh Pháp Hoa).
“Ta sẽ làm cho vượt khổ những ai chưa vượt khổ, sẽ giải thoát khỏi những ai chưa giải thoát khỏi tập đế, sẽ khiến tu tập đạo đế, sẽ làm cho chứng đắc Niết-bàn những ai chưa chứng đắc Niết-bàn”(kinh Bồ-tát Anh Lạc).
Cả 3 kinh này đều mang ý nghĩa Tứ hoằng thệ nguyện. Từ đây, ta có thể kết luận rằng hầu như mọi nội dung tu hành, mọi lý do tích cực của Phật giáo đều mang ý nghĩa của Tứ hoằng thệ nguyện, vì sự an lạc của chư thiên và loài người:
Từ bi, muốn cứu độ hết thảy chúng sinh khỏi vòng sinh tử khổ đau là hạnh nguyện của một vị Bồ-tát. Kinh Đại-bát-niết-bàn (Mahaparinibbana sutta) của Trường bộ (Digha Nikaya) của Phật giáo Nguyên thủy có ghi lời dạy của Đức Phật đúng như Thệ nguyện đầu tiên của Tứ hoằng thệ nguyện:“Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các thầy, các thầy phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”.
Thêm vài nhận định
Lục Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn của Ngài (Phẩm 6, Sám hối) đã giải nghĩa Tứ hoằng thệ nguyện theo cách của Thiền tông:
“ Tự tâm chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
Tự tâm phiền não vô biên thệ nguyện đoạn,
Tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học,
Tự tánh Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành.
Này Thiện tri thức, cả thảy đâu chẳng nói: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, nói thế ấy, vả lại không phải là Huệ Năng độ. Này Thiện tri thức, chúng sanh trong tâm, chỗ gọi tâm tà mê, tâm cuống vọng, tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm ác độc, những tâm như thế trọn là chúng sanh, mỗi người nên tự tánh tự độ, ấy gọi là chân độ. Sao gọi là tự tánh tự độ ? Tức tự trong tâm những chúng sanh tà kiến, phiền não, ngu si, đem chánh kiến mà độ. Đã có chánh kiến bèn sử dụng trí Bát-nhã đánh phá những chúng sanh ngu si mê vọng, mỗi mỗi tự độ, tà đến thì chánh độ, mê đến thì ngộ độ, ngu đến thì trí độ, ác đến thì thiện độ, độ như thế gọi là chân độ. Lại phiền não vô biên thệ nguyện đoạn, đem tự tánh Bát-nhã trí trừ tâm tư tưởng hư vọng ấy vậy. Lại pháp môn vô tận thệ nguyện học, phải tự thấy tánh của mình, thường hành chánh pháp, ấy gọi là chân học. Lại Vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành, đã thường hay hạ tâm hành nơi chân chánh, lìa mê, lìa giác, thường sanh Bát-nhã trừ chân trừ vọng, tức thấy được Phật tánh, liền ngay nơi lời nói, liền thành Phật đạo, thường nhớ tu hành, ấy là pháp nguyện lực”.(Bản dịch của Hòa thượng Thích Thanh Từ).
Hẳn cách giảng rằng Chúng sinh chính là Tự tâm, là Tự tánh như trên là không phù hợp với cách hiểu thông thường về Bốn đại nguyện của chư Bồ-tát. Tuy vậy, về quan điểm Tâm học, Thiền học thì cũng rất đáng để được chấp nhận.
Hòa thượng Tuyên Hóa (1918-1975, Đại sư người Trung Quốc, rất được kính mộ, nhất là ở Hoa Kỳ) bảo rằng xuất phát ý nghĩa của Tứ hoằng thệ nguyện xuất phát từ Tứ diệu đế:
“ Tứ hoằng thệ nguyện này là y theo Tứ diệu đế mà phát xuất. Đó là: Khổ đế, Diệt đế, Tập đế và Đạo đế. Y theo Khổ đế thì phát ra lời nguyện ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’; Y theo Tập đế thì phát ra lời nguyện ‘Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn’; Y theo Đạo đế thì phát ra lời nguyện ‘Pháp môn vô lượng thệ nguyện học’; Y theo Diệt đế thì phát ra lời nguyện ‘Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành’ ”. Hình như nhận định này không được chính xác, có lẽ chỉ căn cứ về con số 4 của Tứ đế. Nếu chúng ta thử tìm con số 4 của nơi khác, ví dụ Bốn Vô lượng tâm: Từ (độ tất cả chúng sinh); Bi (đoạn tận mọi phiền não); Hỷ (Hoan hỷ học mọi Pháp môn) và Xả (Thành tựu giáo lý Không, nghĩa là xả bỏ, tức là thành tựu Phật đạo). Dĩ nhiên đây chỉ là ví dụ, không phải là sự khẳng định!
Cuối cùng, những ai muốn tu hạnh Bồ-tát, muốn tập tành lập đại nguyện, hoặc thệ nguyện theo một trong Tứ hoằng thệ nguyện đều rất đáng được khích lệ, kính ngưỡng. Nhưng nếu cuối cùng họ không tiếp tục duy trì thệ nguyện thì cũng chẳng sao, họ chỉ tự trách mình mà thôi. Mặt khác, không lập đủ bốn lời nguyện trên, hoăc không lập nguyện nào nhưng sống hiền thiện, kính mộ Đức Phật và Giáo pháp của Ngài thì cũng được an vui, phước lạc trong đời này và trong các đời sau.
-----------------------------------------