Liên Hoa Giới
Kamalaśīla
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH THÍCH
般若波羅蜜多心經釋
Việt dịch: Quảng Minh
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Thích
DẪN NHẬP
Liên Hoa Giới (蓮花戒 , Kamalaśīla, 713-763) là bậc thầy Phật giáo Ấn Độ từ Đại học Phật giáo Nalanda, người đã đi theo thầy mình là Tịch Hộ (寂護 , Śāntarakṣita) sang Tây Tạng theo lời mời của vua Trisong Detsen để truyền đạo.
Ngài theo truyền thống Trung Quán, nhấn mạnh quan điểm ‘Trung Đạo’ về tánh Không. Ngài ủng hộ con đường tiệm tiến đến giác ngộ thông qua việc nghiên cứu kinh điển, thực hành lục độ ba-la-mật và quá trình thiền định từng bước. Đại sư Liên Hoa Giới nổi tiếng với ba tác phẩm gọi chung là Bhāvanākrama (Tu Thứ Tam Thiên修次三篇 , trong đó thiên thứ nhất được ngài Thi Hộ Hán dịch là Quảng Thích Bồ Đề Tâm Luận廣釋菩提心論 ), được xem là tác phẩm kinh điển hướng dẫn thiền định, tạo thành nền tảng cho các loại thực hành thiền định ở Tây Tạng. Những tác phẩm này phác thảo cách hành giả nên bắt đầu bằng việc phát khởi Bồ đề tâm và sau đó dần dần tu tập cho đến khi đạt đến giác ngộ. Ngài đại diện cho Kim Cương thừa trong cuộc tranh luận nổi tiếng tại Tang Da Tự (桑耶寺 , Samye), gọi là ‘Lạt tát pháp tranh’ (拉薩法諍 ), dẫn đến việc Phật giáo Tây Tạng bác bỏ giáo lý đốn ngộ Thiền tông, lấy kiến giải của Tịch Hộ và Liên Hoa Giới làm chủ trương.
Đại sư Liên Hoa Giới chịu ảnh hưởng của thầy mình là Tịch Hộ, thuộc trường phái Du Già Hành Trung Quán. Ngài đã kết hợp quan điểm của phái Trung Quán Tự Tục và phái Du Già Hành Duy Thức Học, tin rằng không có đối tượng nào nằm ngoài tâm, một lập trường khác biệt với sư tổ là Đại sư Thanh Biện (Bhavaviveka). Ngài đã viết Nhiếp Chân Tánh Nạn Xứ Thích (攝真性難處釋 ) cho Nhiếp Chân Tánh Tụng (攝真性頌 ) của Tịch Hộ, và chú giải Trung Quán Trang Nghiêm Luận (中觀莊嚴論 ) qua hai tác phẩm Trung Quán Quang Minh (中觀光明) và Trung Quán Trang Nghiêm Luận Tinh Thích (中觀莊嚴論精釋 ). Trung Quán Quang Minh cùng với Nhị Đế Phân Biệt Luận (二諦分別論 ) của Đại sư Trí Tạng và Trung Quán Trang Nghiêm Luận của Tịch Hộ được coi là ba kiệt tác vĩ đại của trường phái Trung Quán Tự Tục. Ngài cũng viết Chánh Lý Nhất Trích Chú (正理一滴註 ) cho tác phẩm Chánh Lý Nhất Trích của Luận sư Pháp Xứng, một cuốn sách phải đọc cho người mới bắt đầu nghiên cứu Nhân minh học trong Phật giáo Tây Tạng. Ngài đã đóng góp chú giải cho nhiều kinh điển Phật giáo, đáng chú ý là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Thích và Kinh Cây Lúa (Đạo Cán Kinh稻稈經 ).
Về các bản chú giải Tâm Kinh do các học giả Ấn Độ biên soạn, bảy bản được lưu giữ trong Ảnh Ấn Bắc Kinh Bản Tây Tạng Đại Tạng Kinh (影印北京版西藏大藏經 ), trong khi sáu bản được lưu giữ trong Đức Cách Bản Tây Tạng Đại Tạng Kinh (德格版西藏大藏經 , thiếu Tâm Kinh Thích của Liên Hoa Giới). Theo Ảnh Ấn Bắc Kinh Bản, bảy bản chú giải Tâm Kinh là:
(1) Ly Cấu Hữu (離垢友 , Vimalamitra, thế kỷ 8), Thánh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Quảng Thuyết (聖般若波羅蜜多心經廣說 , Aryaprajñāpāramitā-hṛdaya-ṭīkā), gọi tắt là Tâm Kinh Quảng Thuyết, Bắc Kinh Bản, No.
5217; Đức Cách Bản, No. 3818.
(2) Trí Hữu (智友 , Jñānamitra), Thánh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Chú Thích (聖般若波羅蜜多心經注釋 , Aryaprajñā-pāramitā-hṛdaya-vyākhyā), gọi tắt là Tâm Kinh Chú Thích, Bắc Kinh Bản, No.5218; Đức Cách Bản, No. 3819.
(3) Kim Cương Thủ (金剛手 , Vajrapāṇi, ?), Bạc Già Phạm Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Quảng Thích Ý Nghĩa Minh Chứng (薄伽梵母般若波羅蜜多心經廣釋意義明燈 , Bhagavatī-prajñā-pāramitā-hṛdaya-artha-pradīpa-nāma
ṭīkā), gọi tắt là Ý Nghĩa Minh Chứng, Bắc Kinh Bản, No. 5219; Đức Cách Bản, No. 3820.
(4) Thiện Quân (善軍 , Praśāstrasena, thế kỷ 11), Thánh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Quảng Thích (聖般若波羅蜜多心經廣釋 , Aryaprajñāpāramitā-hṛdaya-ṭīkā), gọi tắt là Tâm Kinh Quảng Thích, Bắc Kinh Bản, No. 5220;
Đức Cách Bản, No. 3821.
(5) Liên Hoa Giới (蓮花戒 , Kamalaśīla, 740~795), Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Thích (般若波羅蜜多心經釋 , Prajñā-pāramitā-hṛdaya-nāma-ṭīkā), gọi tắt là Tâm Kinh Thích, Bắc Kinh Bản, No. 5221.
(6) AĐểHạp(阿底峽 , Atīśa, 982~1054), Bát Nhã Tâm Kinh Giải Thuyết (般若心經解說 ), gọi tắt là Tâm Kinh Giải Thuyết, Bắc Kinh Bản, No. 5222; Đức Cách Bản, No. 3823.
(7) MaHaGiàNa(摩訶迦那 , Mahājana/ Śrīhājana, thế kỷ 11), Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Nghĩa Biến Tri (般若波羅蜜多心經義遍知 , Prajñāpāramitā-hṛdaya-artha-parijñana), gọi tắt là Nghĩa Biến Tri, Bắc Kinh Bản, No.5223; Đức Cách Bản, No. 3822.
Trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Thích, Đức Liên Hoa Giới mở đầu bằng cách trích dẫn ‘Tám sự’ từ Luận Hiện Quán Trang Nghiêm để thuyết minh đối tượng giáo hóa của Kinh Bát Nhã. Điều này khá độc đáo.
Kinh điển y cứ cho tám sự này là Bát Thiên Tụng Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Do đó, đối tượng mà Tâm Kinh hướng đến cũng giống như được mô tả trong Bát Thiên Tụng Bát Nhã: 1. Tỳ kheo và Bồ tát (có ba loại căn cơ: thượng, trung và hạ); 2. Hai mươi ngàn vị Đế Thích thiên chủ, nhân đà la trú ở Dục giới và Sắc giới; và 3. Các vị nhân đà la trú ở trong Ba ngàn Đại thiên Phật độ. Tám sự này được hướng đến ba loại chúng sinh này. Trong số đó, sự thứ nhất trong tám sự, ‘Nhất thiết tướng trí tánh’, được tuyên thuyết cho cho loại thứ nhất là các Tỳ kheo và Bồ tát. Nghĩa thứ nhất của Nhất thiết tướng trí tánh là ‘hai mươi hai phát tâm’, dành cho bậc thượng căn trong loại này. Bằng cách khai thị bất kỳ một trong ‘hai mươi hai phát tâm’, các Tỳ kheo và Bồ tát bậc thượng căn có thể chứng ngộ Bát-nhã bala-mật-đa. Chín nghĩa còn lại dành cho các Tỳ kheo và Bồ tát bậc trung căn và hạ căn. Thứ hai, sự thứ hai và thứ ba trong tám sự, ‘Đạo trí tánh’ và ‘Nhất thiết trí tánh’, được khai thị cho thiên chúng của loại thứ hai. Và năm sự cuối cùng trong tám sự, tức là năm sự từ ‘Viên mãn nhất thiết tướng gia hành’ đến ‘quả Pháp thân’, được khai thị cho thiên chúng của loại thứ ba.
Trong Tâm Kinh Thích, có thể thấy Đức Liên Hoa Giới chủ trương rằng có hai yếu tố quyết định sự chứng ngộ Bát-nhã ba-la-mật-đa: một là ‘tinh cần tu học’, và hai là ‘lượng’. Yếu tố trước thuộc về phương diện thực hành, trong khi yếu tố sau thuộc về phương diện sở tri; cả hai đều quan trọng như nhau trong việc quyết định sự chứng ngộ Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Tại sao Tôn giả Xá-lợi tử, với sự gia trì của Đức Phật, đã hỏi Bồ tát Quán Tự Tái: Bất kỳ người thiện nam hay người thiện nữ thiện nào muốn tu học Bát-nhã bala-mật-đa sâu xa, người đó nên tu học như thế nào? Chính là để cho hành giả duy trì tâm chí này từ đầu đến cuối trong quá trình tu học, trải qua năm giai đoạn hay năm đạo: Tư lương đạo, Gia hành đạo, Kiến đạo, Tu tập đạo và Vô học đạo. Tuy nhiên, nếu một người muốn ‘tinh cần tu học’ mà không có kiến giải ‘tỷ lượng’ (tư duy thì không có cách thể nhập Bát-nhã ba-la-mật-đa về các pháp như huyễn và tánh không. Tại sao lại dùng ‘tỷ lượng’ thay vì ‘ hiện lượng’ (nhận thức trực tiếp) để xác định Bát-nhã ba-la-mật-đa ở đây? Điều này chủ yếu liên quan đến ‘lượng’.
Lượng nghĩa là đo lường, là tiêu chuẩn để phân biệt đúng và sai của tri thức. Trí óc suy xét, cho cái này đúng, cái kia sai là lượng. Khi ta nhận biết sự vật chung quanh mà chưa phân biệt, suy xét, thì gọi là hiện lượng. Hiện lượng có hai loại: Chân hiện lượng và Tự hiện lượng. Chân hiện lượng là sự nhận biết đúng về trực giác, chưa bị ảnh hưởng bởi những huyễn tướng hoặc tác dụng phân biệt của khái niệm, như thấy sợi dây thì biết ngay đó là sợi dây. Tự hiện lượng là sự nhận biết sai về hiện lượng, tức là sự nhận thức đã bị ảnh hưởng bởi các huyễn tướng hoặc tác dụng phân biệt của khái niệm, như khi thấy khói cho là mây, thấy mây tưởng là khói; hoặc trong chỗ tối lờ mờ, thấy sợi dây cho ngay đó là con rắn, v.v. Nói theo nghĩa hẹp, hiện lượng thường chỉ cho Chân hiện lượng mà thôi. Có bốn loại Chân hiện lượng, đó là: 1. Căn hiện lượng, nhận thức trực tiếp qua những giác quan; 2. Ngũ câu ý thức hiện lượng, tức là ý thức với năm căn cùng lúc nhận thức năm trần;
3. Tự chứng phần hiện lượng, tức sự nhận biết của thức tự chứng phần, ví dụ như cảm giác ‘Tôi biết, tôi đang tự chủ rằng tôi đang nhìn’; 4. Định tâm hiện lượng, còn gọi là Du già hiện lượng, tức là sự nhận biết cảnh tượng trong lúc thiền định của một Du-già sư.
Du-già hiện lượnng là việc thực hành theo lời dạy của bậc thượng sư và Đức Phật. Điều này bao gồm việc lắng nghe và suy ngẫm trước, sau đó tìm kiếm một nơi yên tĩnh để thực hành sự tịch chỉ để thắng quán đạo lý vô nhị vô biệt. Thực hành này dẫn đến một cảnh giới vượt qua căn thức thông thường. Cảnh giới này được gọi là Du-già hiện lượng. Khi ấy, hành giả có thể nhìn thấy, không phải bằng mắt thường, nhiều hiện tượng mà phàm phu không thể nhận thức được; hành giả cũng có thể hiểu đầy đủ suy nghĩ của người khác, nhưng không phải qua suy đoán hay suy diễn. Cảnh giới siêu việt phàm phu, đạt được thông qua việc thực hành giáo pháp, được gọi là Du-già hiện lượng. Du-già hiện lượng có thể được nhìn từ góc độ nhập định và xuất định, ngang qua thiền chỉ (Xa-ma-tha), thiền quán (Tỳbát-xá-na) và chỉ quán song vận. Một Thánh giả trong định có thể hiểu chính xác bản chất nhân vô ngã và pháp vô ngã. Các vị A la hán, Duyên giác và Phật đà, khi xuất định, có thể thấy hai ngàn thế giới, ba ngàn thế giới và vô số thế giới (được trình bày chi tiết trong Luận giải A-tỳ-đạt-ma Câu-xá và các luận giải liên quan khác).
Tỷ lượng là một sự nhận thức (tri giác) mới mẻ và không bị lừa dối về đối tượng kín đáo đang được đo lường, dựa trên những lý lẽ hợp lý. Nó được phân loại thành ba loại: Tín hứa tỷ lượng, Cực thành tỷ lượng và Sự thế tỷ lượng. Ba loại tỷ lượng này y cứ vào Tín hứa chánh nhân, Cực thành chánh nhân và Sự thế chánh nhân mà có được sự tỷ lượng. Loại thứ nhất, như trong Thánh giáo lượng nói, “Bố thí thì được quả báo thọ dụng”, là một loại nhận thức y cứ chánh nhân là Thánh giáo để chứng thành một khía cạnh kín đáo nhất. Loại thứ hai, chẳng hạn như “Hoài thố là tên gọi khác của mặt trăng” (Phong tục dân gian Ấn độ tin rằng ở trong mặt trăng có con thỏ, vì thế gọi mặt trăng là Hoài thố), được thiết lập thông qua tư duy danh ngôn (khái niệm) và được mọi người chấp nhận mà không cần biện minh. Loại thứ ba là sự suy đoán từ những sự vật khá kín đáo, ví dụ, khói bốc lên từ núi, từ đó có thể suy biết rằng có lửa trên núi.
Đại sư Liên Hoa Giới theo quan điểm Du-già hành Trung quán Tự tục phái nên rất coi trọng ‘tỷ lượng’. Bằng cách dựa vào chánh nhân được cấu thành bởi ba đặc điểm tự tồn (Biến thị tông pháp tánh, Đồng phẩm định hữu tánh và Dị phẩm biến vô tánh), có thể xóa tan quan niệm sai lầm rằng mọi hiện tượng đều thực sự tồn tại (như người ta thường tin), nên được gọi là Tự tục phái. Trong Tâm Kinh Thích, dù xét về nội hàm của ‘lượng’ hay thích danh của ‘tự tục’, sự suy luận là một nền tảng quan trọng cho việc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa của những ‘thiện nam tử hay thiện nữ nhân’ trên Tư lương đạo hay Gia hành đạo. Theo cách này, bằng cách lắng nghe giáo lý của Tâm Kinh (Văn tuệ); sau khi trải qua tư duy, tri kiến tỷ lượng được phát sinh (Tư tuệ); và sau đó, thông qua việc tu tập tinh cần thiền định ngang qua Chỉ quán song vận (Tu tuệ), khi Du-già hiện lượng xuất hiện, hành giả có thể đạt được sự kiến giải vững chắc về Bát-nhã ba-la-mật-đa.
San Francisco, 25.8.2025 – PL. 2569
Phật tử Quảng Minh kính ghi